Thứ sáu 20/03/2026 04:44
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Chuyển giao nghĩa vụ trong Bộ luật dân sự năm 2015 và các vấn đề cần hướng dẫn thi hành

Chuyển giao nghĩa vụ dân sự là trường hợp người có nghĩa vụ không tự mình thực hiện nghĩa vụ đã giao kết mà chuyển giao cho người khác (người thế nghĩa vụ) thực hiện nghĩa vụ giữa mình với bên mang quyền với điều kiện có sự đồng ý của chủ thể đó.

Người có nghĩa vụ đã chuyển giao chấm dứt quan hệ nghĩa vụ với bên mang quyền và không phải chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nghĩa vụ của người thế nghĩa vụ. Cần phân biệt việc “chuyển giao nghĩa vụ dân sự” với việc “thực hiện nghĩa vụ thông qua người thứ ba”. Thông qua bài viết, tác giả phân tích để độc giả hiểu về nghĩa vụ dân sự; những quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 về chuyển giao nghĩa vụ dân sự về điều kiện; hình thức chuyển giao; chuyển giao nghĩa vụ khi có biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và một số vấn đề cần có hướng dẫn thi hành thống nhất của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trong giao lưu dân sự và thương mại, một bên có nghĩa vụ thường phải thực hiện nghĩa vụ của mình cho đến cùng đối với bên có quyền. Tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau, việc thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ có thể gây ra nhiều khó khăn, vướng mắc, thậm chí gây phiền hà cho các bên liên quan. Để tạo điều kiện thuận lợi cho bên có nghĩa vụ trước bên có quyền, pháp luật quy định cho bên có nghĩa vụ được lựa chọn phương thức thực hiện nghĩa vụ thông qua chính mình hoặc chuyển giao nghĩa vụ đó cho người thứ ba thực hiện. Đây là sự thỏa thuận giữa bên có nghĩa vụ với người thứ ba trên cơ sở có sự đồng ý của bên có quyền, theo đó bên có nghĩa vụ chuyển giao nghĩa vụ dân sự cho người thứ ba được gọi là người thế nghĩa vụ.

1. Khái quát về nghĩa vụ dân sự

1.1. Khái niệm

Nghĩa vụ là sự ràng buộc pháp lý, theo đó chúng ta buộc phải làm gì đó theo quy định của pháp luật. Trong quan hệ pháp luật dân sự, nghĩa vụ dân sự là cách xử sự bắt buộc được quy phạm pháp luật xác định trước mà một bên phải tiến hành nhằm đáp ứng việc thực hiện quyền chủ thể của bên kia. Điều 274 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Nghĩa vụ là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền)”.

Như vậy, các bên chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ dân sự có quyền và nghĩa vụ đối lập nhau, một bên chủ thể (bên có nghĩa vụ) phải làm hoặc không được làm một hoặc một số công việc nhất định vì lợi ích của chủ thể phía bên kia (bên có quyền).

1.2. Đặc diểm của quan hệ nghĩa vụ dân sự

- Quan hệ nghĩa vụ dân sự là một quan hệ pháp luật dân sự, trong đó có đầy đủ yếu tố của quan hệ pháp luật dân sự như: Chủ thể, khách thể, nội dung của quan hệ, căn cứ phát sinh, chấm dứt quan hệ đó.

- Quan hệ nghĩa vụ dân sự là một quan hệ tài sản: Hành vi thực hiện nghĩa vụ của chủ thể mang nghĩa vụ luôn liên quan đến một lợi ích vật chất cụ thể, trong đó có thể có sự dịch chuyển tài sản từ chủ thể này sang chủ thể khác hoặc quan hệ mà một bên chủ thể sẽ được hưởng lợi ích về tài sản.

- Quan hệ nghĩa vụ dân sự là mối liên hệ pháp lý giữa các chủ thể: Khi nghĩa vụ dân sự chịu sự điều chỉnh của pháp luật thì luôn là một mối liên hệ pháp lý giữa các chủ thể tham gia quan hệ nghĩa vụ, các quyền và nghĩa vụ của chủ thể trong quan hệ đó cũng như các biện pháp bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ luôn phù hợp với quy định của pháp luật.

- Quan hệ nghĩa vụ dân sự mang tính đối nhân, theo đó, chủ thể mang quyền và chủ thể mang nghĩa vụ luôn được xác định cụ thể, tương ứng với quyền của chủ thể phía bên này là nghĩa vụ của chủ thể phía bên kia và quyền của một bên chỉ được thỏa mãn thông qua hành vi thực hiện nghĩa vụ của bên mang nghĩa vụ.

1.3. Chuyển giao nghĩa vụ dân sự

Chuyển giao nghĩa vụ dân sự là trường hợp người có nghĩa vụ không tự mình thực hiện nghĩa vụ đã giao kết mà chuyển giao cho người khác (người thế nghĩa vụ) thực hiện nghĩa vụ giữa mình với bên mang quyền với điều kiện có sự đồng ý của chủ thể đó. Người có nghĩa vụ đã chuyển giao chấm dứt quan hệ nghĩa vụ với bên mang quyền và không phải chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nghĩa vụ của người thế nghĩa vụ.

Như vậy, về bản chất, sự chuyển giao nghĩa vụ dân sự là sự chuyển dịch nghĩa vụ pháp lý từ chủ thể chuyển sang chủ thể nhận. Chủ thể nhận nghĩa vụ chính là người thứ ba thay thế người có nghĩa vụ trước và trở thành bên có nghĩa vụ. Khi chuyển giao nghĩa vụ có biện pháp bảo đảm thì biện pháp bảo đảm đó cũng chấm dứt do sự chấm dứt tư cách chủ thể của người có nghĩa vụ, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

Cần phân biệt việc “chuyển giao nghĩa vụ dân sự” với việc “thực hiện nghĩa vụ thông qua người thứ ba”. Theo quy định tại Điều 283 Bộ luật Dân sự năm 2015, thực hiện nghĩa vụ thông qua người thứ ba có thể được hiểu là bên có nghĩa vụ ủy quyền cho người thứ ba thay mình thực hiện nghĩa vụ đối với bên có quyền khi được sự đồng ý của người mang quyền. Người thứ ba trong trường hợp này chỉ mang tư cách đại diện cho người có nghĩa vụ, quan hệ nghĩa vụ giữa người có nghĩa vụ và người có quyền không chấm dứt và người có nghĩa vụ vẫn phải chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nghĩa vụ của người thứ ba. Thực hiện nghĩa vụ thông qua người thứ ba không làm chấm dứt biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự.

2. Quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 về chuyển giao nghĩa vụ dân sự

2.1. Điều kiện chuyển giao nghĩa vụ dân sự

Điều 370 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về chuyển giao nghĩa vụ dân sự, như sau:

“1. Bên có nghĩa vụ có thể chuyển giao nghĩa vụ dân sự cho người thế nghĩa vụ nếu được bên có quyền đồng ý, trừ trường hợp nghĩa vụ gắn liền với nhân thân của bên có nghĩa vụ hoặc pháp luật có quy định không được chuyển giao nghĩa vụ.

2. Khi được chuyển giao nghĩa vụ thì người thế nghĩa vụ trở thành bên có nghĩa vụ”.

Chuyển giao nghĩa vụ dân sự làm chấm dứt quan hệ giữa bên có nghĩa vụ ban đầu với bên có quyền làm phát sinh nghĩa vụ của người nhận chuyển giao với bên có quyền đó. Tuy nhiên, việc thực hiện nghĩa vụ đó vẫn phải gắn với lợi ích của bên có quyền nên mặc dù được chuyển giao nghĩa vụ cho người thứ ba nhưng phải thỏa mãn các điều kiện sau:

- Nghĩa vụ được chuyển giao phải là nghĩa vụ có hiệu lực pháp lý và không thuộc những trường hợp pháp luật không cho phép chuyển giao nghĩa vụ.

Nghĩa vụ dân sự phải là những nghĩa vụ hợp pháp, phát sinh từ các căn cứ theo quy định của pháp luật và có thể thực hiện được trên thực tế.

Theo quy định của pháp luật, không được phép chuyển giao nghĩa vụ dân sự trong trường hợp nghĩa vụ “gắn liền với nhân thân của bên có nghĩa vụ” hoặc pháp luật quy định không được chuyển giao (như trường hợp nghĩa vụ đang có tranh chấp). Về nguyên tắc, các quyền nhân thân trong quan hệ pháp luật dân sự không được phép chuyển dịch cho người khác. Tương tự như vậy, khi một bên mang quyền nhân thân gắn liền với tài sản phải tạo ra một nghĩa vụ nhân thân của người khác và nghĩa vụ nhân thân này cũng không được chuyển giao cho người khác. Các trường hợp nghĩa vụ dân sự không được chuyển giao như nghĩa vụ cấp dưỡng (đối với những người có quan hệ huyết thống, có nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc nhau theo quy định của pháp luật) hoặc các bên đã thỏa thuận phải do chính người đó thực hiện (dựa vào đặc điểm nhân thân của người đó có tính quyết định đến khả năng và chất lượng thực hiện công việc).

- Việc chuyển giao nghĩa vụ dân sự phải có sự đồng ý của bên có quyền, vì suy cho đến cùng, việc chuyển giao nghĩa vụ dân sự làm thay đổi chủ thể thực hiện nghĩa vụ và việc lựa chọn người gánh vác nghĩa vụ thay thế cho người trước đó chính là lựa chọn rủi ro cho người mang quyền. Do vậy, pháp luật quy định bắt buộc phải có sự đồng ý của bên có quyền nhằm loại bỏ rủi ro đó. Điều này cũng tương thích với một số quy định trong Bộ Nguyên tắc UNIDROIT về Hợp đồng thương mại quốc tế năm 2004 (Bộ nguyên tắc UNIDROIT). Điều 9.2.3 Bộ nguyên tắc UNIDROIT (phải có sự đồng ý của người có quyền về việc chuyển giao) ghi nhận: “Việc chuyển giao nghĩa vụ theo thỏa thuận giữa người có nghĩa vụ ban đầu và người có nghĩa vụ mới phải có sự đồng ý của người có quyền” và việc đồng ý của bên có quyền có thể thỏa thuận trước trong hợp đồng (Điều 9.2.4).

2.2. Hình thức chuyển giao nghĩa vụ dân sự

Bộ luật Dân sự năm 2015 không quy định về hình thức chuyển giao nghĩa vụ. Tuy nhiên từ các nguyên tắc cơ bản và các hình thức giao kết hợp đồng trong giao lưu dân sự và thương mại, có thể hiểu việc chuyển giao nghĩa vụ cũng được thực hiện thông qua hai hình thức là bằng văn bản hoặc bằng lời nói. Nhằm tránh những nguy cơ có thể dẫn đến những rủi ro liên quan đến quyền lợi của các bên trong chuyển giao nghĩa vụ dân sự, những nội dung chuyển giao và cách thức, trình tự chuyển giao nên được trình bày đầy đủ trong văn bản thỏa thuận giữa các bên. Những trường hợp mà nội dung hoặc đối tượng của nghĩa vụ chuyển giao có tính chất phức tạp, dễ xảy ra tranh chấp hay đối tượng của nghĩa vụ là những tài sản do Nhà nước quản lý, kiểm soát thì việc chuyển giao nghĩa vụ cần phải được thể hiện bằng văn bản, có công chứng hoặc chứng thực, đăng ký hoặc phải xin phép.

2.3. Chuyển giao nghĩa vụ dân sự có biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ

Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự mang tính chất dự phòng để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ, đồng thời ngăn ngừa và khắc phục những hậu quả xấu do việc không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ gây ra.

Theo quy định tại Điều 371 Bộ luật Dân sự năm 2015, chuyển giao nghĩa vụ dân sự có biện pháp bảo đảm được quy định như sau: “Trường hợp nghĩa vụ có biện pháp bảo đảm được chuyển giao thì biện pháp bảo đảm đó chấm dứt, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.

Trường hợp nghĩa vụ được chuyển giao, các biện pháp bảo đảm xác lập nhằm bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ cũng đương nhiên chấm dứt, bởi vì biện pháp bảo đảm đó là bảo đảm cho chính hành vi thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận. Bởi vì, việc chuyển giao nghĩa vụ cho bên thế nghĩa vụ sẽ làm quan hệ nghĩa vụ ban đầu chấm dứt, bên thế nghĩa vụ trở thành bên có nghĩa vụ trong quan hệ nghĩa vụ mới với bên có quyền. Mặt khác, việc chuyển giao nghĩa vụ phải có sự đồng ý của bên có quyền, khi đó bên có quyền tự lựa chọn rủi ro cho chính mình trong việc chấp nhận bên thứ ba thực hiện nghĩa vụ. Do đó, khi kèm theo biện pháp bảo đảm trong quan hệ nghĩa vụ trước đó thì khi chuyển giao cho bên thứ ba biện pháp bảo đảm này phải chấm dứt nếu không có sự thỏa thuận khác.

2.4. Phương thức chuyển giao nghĩa vụ dân sự

Chế định chuyển giao nghĩa vụ dân sự được sử dụng tương đối phổ biến trong đời sống xã hội. Tuy nhiên, đây là một chế định khá phức tạp vì đó là một quan hệ có ít nhất ba chủ thể. Phương thức chuyển giao nghĩa vụ có thể được thực hiện theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật.

- Về chuyển giao nghĩa vụ theo thỏa thuận

Để có thể chuyển giao nghĩa vụ theo thỏa thuận thì cần có sự thống nhất ý chí của người có nghĩa vụ ban đầu và người thế nghĩa vụ. Sẽ không có chuyển giao nghĩa vụ theo thỏa thuận nếu người thế nghĩa vụ không đồng ý về việc này, họ sẽ không trở thành người có nghĩa vụ đối với người có quyền nếu họ không đồng ý. Chuyển giao nghĩa vụ do đó là một thỏa thuận giữa người có nghĩa vụ ban đầu và người thế nghĩa vụ nhằm thực hiện một nghĩa vụ đang tồn tại vì lợi ích của người có quyền và làm chấm dứt trách nhiệm của người có nghĩa vụ ban đầu với người có quyền.

- Về chuyển giao nghĩa vụ theo pháp luật

Thông thường, để có chuyển giao nghĩa vụ dân sự thì cần có thỏa thuận giữa bên có nghĩa vụ và bên thế nghĩa vụ, đồng thời việc này cần có sự đồng ý của người có quyền. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành còn có những quy định cho chuyển giao nghĩa vụ dân sự mà không có sự thỏa thuận hay ưng thuận nêu trên. Cụ thể, theo quy định của Bộ luật Dân sự, khi cá nhân chết, nghĩa vụ về tài sản của cá nhân không đương nhiên chấm dứt và vấn đề xác định người thế nghĩa vụ được đặt ra. Điều 614 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Kể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế có các quyền, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại”; và khoản 1 Điều 615 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì: “Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”. Như vậy, khi những người thừa kế nhận di sản thừa kế thì phải có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản mà người chết để lại. Việc chuyển giao nghĩa vụ trong trường hợp này không cần có sự ưng thuận của những người liên quan.

3. Một số vấn đề cần có hướng dẫn thi hành thống nhất của Bộ luật Dân sự năm 2015 về chuyển giao nghĩa vụ

Bộ luật Dân sự năm 2015 được ban hành đã góp phần hoàn thiện pháp luật nói chung, những quy định về chuyển giao nghĩa vụ trong các giao dịch dân sự và thương mại nói riêng, nâng cao tính khả thi trong đời sống xã hội. Tuy nhiên, với quy định còn khá khái quát (chỉ với 02 điều luật), Bộ luật Dân sự năm 2015 còn bỏ ngỏ một số vấn đề pháp lý cần tiếp tục có sự nghiên cứu, hướng dẫn áp dụng cho thống nhất. Cụ thể:

- Cần hướng dẫn quy định về hình thức thể hiện sự đồng ý của chủ thể có quyền trong chuyển giao nghĩa vụ dân sự. Sự đồng ý của chủ thể có quyền là yêu cầu bắt buộc để việc chuyển giao nghĩa vụ có giá trị pháp lý. Tuy nhiên, pháp luật lại chưa có quy định về hình thức thể hiện sự đồng ý của chủ thể có quyền, bằng lời nói, bằng văn bản hay hình thức khác. Điều này dễ dẫn đến những tranh chấp về chuyển giao nghĩa vụ dân sự mà khó xác định được “sự đồng ý” của chủ thể mang quyền.

- Cần hướng dẫn thống nhất về thời điểm đồng ý của bên có quyền trong chuyển giao nghĩa vụ dân sự. Trên thực tế, tùy vào từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của giao dịch mà chủ thể có quyền có thể đồng ý trước hay tại thời điểm phát sinh việc chuyển giao nghĩa vụ. Tuy việc thỏa thuận trước cũng có thể mang đến những rủi ro cho bên có quyền nhưng cần phải được tôn trọng ý chí của các bên, điều này cũng phù hợp với thông lệ quốc tế, tạo điều kiện cho các bên có thể tự do thỏa thuận với nhau tùy từng loại giao dịch.

- Cần có những quy định để cho phép người thế nghĩa vụ có quyền viện dẫn những đối kháng mà người có nghĩa vụ ban đầu có thể viện dẫn để đối kháng với người có quyền. Trong quan hệ nghĩa vụ dân sự, thông thường một bên chủ thể có một hay một số quyền nào đó thì cũng có những nghĩa vụ tương ứng phải thực hiện với bên kia và ngược lại. Chính vì vậy, khi xét đến vấn đề quyền và nghĩa vụ của bên thế nghĩa vụ đối với bên có quyền thì Bộ luật Dân sự năm 2015 còn bỏ ngỏ. Khi nghĩa vụ được chuyển giao thì bên cạnh việc phải thực hiện nghĩa vụ trước chủ thể mang quyền thì bên thế nghĩa vụ cũng cần phải được hưởng những quyền gắn liền với nghĩa vụ đó, tương tự như chủ thể có nghĩa vụ ban đầu. Một trong những quyền có thể nêu lên đó là quyền viện dẫn những đối kháng mà người có nghĩa vụ ban đầu có thể viện dẫn để đối kháng với người có quyền, bảo đảm nguyên tắc công bằng cho các chủ thể trong giao dịch.

Tóm lại, pháp luật về chuyển giao nghĩa vụ trong giao lưu dân sự và thương mại là một trong những chế định quan trọng, điều chỉnh về quyền và nghĩa vụ các bên trong quá trình chuyển giao nghĩa vụ. Cùng với quá trình triển khai thi hành các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, yêu cầu đặt ra là cần tiếp tục nghiên cứu, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong chuyển giao nghĩa vụ, có thể giúp các chủ thể nắm bắt được thời cơ và những thách thức trong giao dịch, tìm ra những biện pháp tối ưu để thực hiện các nghĩa vụ, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa các giao dịch dân sự và thương mại trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.

Nguyễn Văn Huy

Bộ Tư pháp

Tài liệu tham khảo:

[1]. Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005.

[2]. Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2015.

[3]. Luật Thương mại Việt Nam năm 2005.

[4]. Nguyễn Mạnh Bách, Nghĩa vụ dân sự trong Luật dân sự Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998.

[5]. Ngô Huy Cương, Nghĩa vụ dân sự và quan niệm nghĩa vụ dân sự ở Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 5/2008.

[6]. Đỗ Văn Đại, Luật nghĩa vụ dân sự và bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự - Bản án và bình luận bản án (Sách chuyên khảo), Tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012.

[7]. Đỗ Văn Đại, Chuyển giao nghĩa vụ trong pháp luật thực định Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Viện Nhà nước và Pháp luật, số 1/2008.

[8. Nguyễn Ngọc Điện, Sự cần thiết của việc xác định các chế định vật quyền và trái quyền trong luật dân sự, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 23/2010, tr. 56 - 61.

[9]. Lê Đình Nghị, Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam, Tập 1, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2009.

[10]. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam, Tập 1, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2009.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ tại Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Theo dõi chúng tôi trên: