Chủ nhật 15/03/2026 09:25
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Chuyển giao quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ dân sự nhìn từ thực tiễn xét xử

Quyền dân sự hợp pháp của chủ thể trong quan hệ giao dịch dân sự là quyền được pháp luật bảo vệ, trong đó bao gồm cả quyền nhân thân và quyền tài sản. Khi xác lập giao dịch dân sự

Quyền dân sự hợp pháp của chủ thể trong quan hệ giao dịch dân sự là quyền được pháp luật bảo vệ, trong đó bao gồm cả quyền nhân thân và quyền tài sản. Khi xác lập giao dịch dân sự, đa số các chủ thể đều muốn tự mình thực hiện các quyền, nghĩa vụ do các bên đã thỏa thuận, nhưng trong thực tế, không ít trường hợp, vì những lý do khác nhau mà các chủ thể không thể tự mình thực hiện được quyền, nghĩa vụ của mình trong quan hệ đã thiết lập bởi chủ thể không còn “tồn tại”. Khi đó, theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 (BLDS) một số quan hệ sẽ đương nhiên chấm dứt và nhất là các quan hệ về nhân thân, mặc nhiên sẽ chấm dứt. Ngoài ra, luật cũng quy định một số trường hợp khi các bên chủ thể mặc dù không còn tồn tại nhưng một số quan hệ do chủ thể đó thiết lập vẫn tiếp tục được duy trì và những người kế thừa sẽ tiếp tục thực hiện. Điều 636 BLDS có quy định: “Kể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế có các quyền, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại”, đối với các chủ thể quyền thì quyền đó được chuyển giao và bên nhận chuyển giao được gọi là bên thế quyền.

Thỏa thuận của các bên trong quan hệ giao dịch dân sự là theo ý chí của các bên, nhưng có một sự “ràng buộc” là không được trái pháp luật, đạo đức xã hội. Một trường hợp được xem là các bên không được thỏa thuận trái pháp luật đó là các bên không được thỏa thuận chuyển giao quyền như quy định tại điểm a khoản 1 Điều 309 BLDS: “Bên có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ dân sự có thể chuyển giao quyền yêu cầu đó cho người thế quyền theo thoả thuận, trừ những trường hợp sau đây: a) Quyền yêu cầu cấp dưỡng, yêu cầu bồi thường thiệt hại do xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín;…”, như vậy, quan hệ trong trường hợp này cũng được xem như sẽ chấm dứt khi bên có quyền chết.

Nhìn từ góc độ quy định của luật tại điểm a khoản 1 Điều 309 BLDS, thì dù các quyền tài sản gắn liền với nhân thân cũng không thể thỏa thuận chuyển giao, hay nói cách khác, nếu có thỏa thuận mà khi có tranh chấp cũng không được bảo vệ, bởi về nguyên tắc thì thỏa thuận trên đã trái luật. Trái lại, với quy định tại Điều 636 BLDS thì được hiểu rằng các quyền tài sản mặc nhiên sẽ được thừa kế và không loại trừ trường hợp ngoại lệ, nghĩa là các quyền tài sản gắn liền với nhân thân cũng sẽ được thừa kế.

Một ví dụ sau đây sẽ minh họa rõ cho nhận định trên, vụ án dân sự về việc “yêu cầu bồi thường thiệt hại theo Nghị quyết số 388”[1] (Nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH11 về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra). Trong vụ án này, ông Cung là người bị bắt oan sai, phải chịu thời gian tạm giam, thụ án tại trại giam theo Bản án hình sự phúc thẩm số 205/HS-PT ngày 20/10/1985. Đến ngày 29/8/1987, tại Bản án giám đốc thẩm số 42/UB của Ủy ban Thẩm phán - Tòa án nhân dân tối cao đã tuyên bố ông Cung không có trách nhiệm hình sự về các hành vi đã nêu tại bản án hình sự phúc thẩm.

Từ đây, phát sinh vấn đề bồi thường thiệt hại như thu nhập bị mất trong thời gian bị tạm giữ, tạm giam và hàng loạt các thiệt hại khác được liệt kê, trong đó đáng chú ý là khoản thiệt hại do tổn thất về tinh thần cũng được đề cập, khoản thiệt hại này là yêu cầu hợp lý, chính đáng của chủ thể bị xâm hại. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi không đi sâu vào phân tích tính đúng đắn của các bản án hình sự sơ thẩm cũng như bản án hình sự phúc thẩm, mà chỉ quan tâm đến vấn đề yêu cầu bồi thường thiệt hại trong vụ án dân sự và tập trung vào vấn đề thừa kế quyền, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại. Trong số các khoản yêu cầu bồi thường thiệt hại được nêu ra thì khoản thiệt hại do tổn thất về tinh thần cần được lưu ý, bởi yêu cầu bồi thường này xét về bản chất là quyền tài sản gắn liền với nhân thân. Vấn đề đặt ra là, nếu người bị thiệt hại là nguyên đơn dân sự và được Tòa án giải quyết chấp nhận yêu cầu bồi thường thì mọi chuyện đã rõ, không có gì phải bàn cãi. Nhưng ở đây, trong vụ án này thì nguyên đơn là con của người bị thiệt hại, là những người thừa kế của ông Cung, như vậy, yêu cầu bồi thường thiệt hại tổn thất về tinh thần có được Tòa án chấp nhận, bởi đây là quyền tài sản gắn liền với nhân thân của người bị thiệt hại? Thực tiễn xét xử của Tòa án tỉnh Gia Lai tại bản án dân sự phúc thẩm đã chấp nhận yêu cầu bồi thường này với quyết định như sau: “Buộc Tòa phúc thẩm (bản án hình sự) bồi thường cho ông Cung, thông qua người đại diện theo pháp luật là bà Oanh và ông Hiển (con của ông Cung) số tiền thiệt hại do tổn thất về tinh thần là…”.

Như vậy, các quy định về chuyển giao quyền yêu cầu được quy định tại Mục 4 Chương XVII Phần thứ ba BLDS (trong đó có Điều 309) không đề cập đến vấn đề chuyển quyền yêu cầu theo pháp luật và dù các quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại gắn liền với nhân thân có được các bên thỏa thuận chuyển giao cũng không được ghi nhận cho sự thỏa thuận đó. Tuy vậy, tại một phần khác của BLDS lại ghi nhận sự thừa kế quyền, nghĩa vụ tài sản mà không giới hạn là quyền độc lập hay quyền tài sản có gắn liền với nhân thân (như Điều 636).

Thực tiễn, Tòa án khi xét xử vụ án đã khai thác Điều 636 khá triệt để, thể hiện ở sự thừa nhận quyền yêu cầu về tài sản gắn liền với nhân thân (quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại do tổn thất về tinh thần) được chuyển giao cho người thừa kế và quyền này được chấp nhận. Theo chúng tôi, điều đó là hợp lý bởi không có lý do gì để từ chối “quyền tài sản gắn liền với nhân thân” này, do đó, Tòa án hoàn toàn có cơ sở để chấp nhận yêu cầu bồi thường từ các con của ông Cung.

Trở lại quy định tại điểm a khoản 1 Điều 309 BLDS, xét về nội hàm thì các bên trong quan hệ giao dịch dân sự không thể thỏa thuận chuyển giao quyền yêu cầu gắn liền với nhân thân. Ở đây, rõ ràng đối tượng của quyền yêu cầu mang tính nhân thân, trong khi đó quyền yêu cầu là quyền tài sản, mà nguyên nhân xuất phát từ đối tượng mang tính nhân thân bị xâm phạm. Như vậy, xét về bản chất vấn đề thì quyền yêu cầu này là quyền tài sản mà quyền này sẽ được thừa kế (nếu xảy ra trường hợp như bản án nêu trên), vậy tại sao lại không cho phép các chủ thể chuyển giao theo thỏa thuận? Có điều gì đó còn chưa rõ ràng ở đây, phải chăng các nhà làm luật có một sự nhằm lẫn hay còn ẩn ý gì bên trong trong quy định tại điều luật này? Trong giai đoạn dự thảo sửa đổi BLDS, nên chăng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 309 BLDS cần được sửa đổi để có sự nhất quán với những quy định khác về cùng vấn đề này, cụ thể bỏ đi điểm a khoản 1 Điều 309 BLDS. Bên cạnh đó, chúng tôi mong rằng quy định của BLDS liên quan đến vấn đề chuyển giao quyền yêu cầu sẽ được các nhà lập pháp làm sáng tỏ và minh thị trong Bộ luật dân sự sửa đổi, bổ sung để làm cơ sở cho việc hiểu và vận dụng pháp luật được thông suốt, triệt để.

Trương Thị Mỹ Hạnh

Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh


[1] Bản án số 64/2010/DS-PT ngày 27/5/2010 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai V/v: “Yêu cầu bồi thường thiệt hại theo Nghị quyết 388”.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.

Theo dõi chúng tôi trên: