Thứ năm 16/04/2026 05:29
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Cơ chế tiếp cận công lý ngoài cơ quan tư pháp của nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình

Tóm tắt: Quyền tiếp cận công lý của nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình là một trong những quyền cơ bản nhất của người phụ nữ khi tình trạng bạo lực diễn ra thường xuyên

Tóm tắt: Quyền tiếp cận công lý của nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình là một trong những quyền cơ bản nhất của người phụ nữ khi tình trạng bạo lực diễn ra thường xuyên. Hiện nay, vẫn còn tồn tại rất nhiều rào cản trong tiến trình thực hiện quyền tiếp cận công lý thông qua hệ thống pháp lý chính chức (Tòa án). Do đó, việc nghiên cứu cơ chế tiếp cận công lý ngoài cơ quan tư pháp có ý nghĩa thiết thực trong hoạt động bảo vệ quyền của người phụ nữ.

Abstract: The right of women as victims of domestic violence to have access to justice is one of the most basic rights of women when violence is frequent. Currently, there are many barriers in the process of implementing the right of access to justice through the legal system of government (court). Therefore, the study of the mechanism of access to justice outside the judiciary has a practical significance in protecting women's rights.

1. Khái niệm quyền tiếp cận công lý, cơ chế tiếp cận công lý không chính thức của nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình

Công lý là đặc tính khách quan được phát triển trong xã hội dân chủ, nhưng lại có cội nguồn trong xã hội có những mâu thuẫn đối kháng và đặc tính này xuất hiện từ rất sớm. Dưới góc độ nghiên cứu quyền con người, quyền tiếp cận công lý của nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình được coi là một trong những quyền quan trọng khi người phụ nữ bị bạo lực, bởi nếu không có quyền này, phụ nữ sẽ không thể tìm kiếm được công lý, thay vào đó là sự chịu đựng với những tổn thương về thể xác và tinh thần, cũng như “đông cứng” khả năng đấu tranh bảo vệ quyền cho bản thân mình. Cách diễn giải thuật ngữ quyền tiếp cận công lý chỉ gắn liền với hoạt động tố tụng của Tòa án trong phạm vi hẹp không thể bao hàm được đầy đủ nội hàm quyền tiếp cận công lý của nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình, bởi vì trên thực tế, đối với nhóm dễ bị tổn thương như nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình cùng với nhiều rào cản về văn hóa thì hoạt động của Tòa án không tạo được niềm tin đối với nhóm đối tượng này. Do đó, đa phần các nghiên cứu hiện nay đều đồng tình với quan điểm quyền tiếp cận công lý của nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình theo nghĩa rộng hơn, đó là quyền tiếp cận công lý được hiểu như khả năng tìm kiếm sự đền bù hoặc sự khắc phục cho những bất công hay thiệt hại mà nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình phải gánh chịu thông qua hệ thống tư pháp và hệ thống hỗ trợ nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình như: Hội liên hiệp phụ nữ, Ủy ban nhân dân, tổ dân phố, các tổ chức phi Chính phủ hoạt động hỗ trợ nhóm phụ nữ bị bạo lực. Những bất công/thiệt hại do một đối tượng đặc biệt, đó là người chồng thực hiện các hành vi bạo lực, gồm bạo lực tinh thần và bạo lực về thể xác, gây ra những tổn hại nghiêm trọng ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm, sức khỏe của người phụ nữ.

Trong xã hội Việt Nam, hầu hết người phụ nữ nhận thức rất rõ bổn phận, trách nhiệm của một người vợ, một người mẹ và sự gìn giữ gia đình. Tuy nhiên, trong trường hợp nhóm người phụ nữ mong muốn tìm kiếm công lý trước nguy cơ bạo lực gia đình, minh chứng một điều rằng, sự chịu đựng của phụ nữ đã vượt quá mức giới hạn và tính “thường xuyên bị bạo lực” là thuật ngữ thường xuyên được lặp lại trong cuộc sống của người phụ nữ. Do đó, phải phân định rõ ràng phạm vi đối tượng phụ nữ bị bạo lực gia đình cần được bảo vệ quyền tiếp cận công lý như sau: (i) Nhóm phụ nữ thường xuyên bị đánh đập, việc hòa giải của cơ quan chính quyền không mang lại hiệu quả thiết thực trên thực tế; (ii) Nhóm phụ nữ có nguyện vọng nộp đơn để được bảo vệ quyền trước tình trạng bạo lực gia đình.

Cơ chế tiếp cận công lý của nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình ngoài cơ quan tư pháp, bao gồm hệ thống pháp lý có tính nhà nước (Chủ tịch Hội phụ nữ, người đại diện cho khu vực dân cư, Ban hòa giải cơ sở, trợ giúp pháp lý) và hệ thống phi nhà nước (các tổ chức phi Chính phủ hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ), đồng thời với sự tham gia của một số cơ quan khác như cơ quan truyền thông, các cơ sở hỗ trợ y tế... Cơ chế này có thể hiểu là có sự tham gia của chủ thể thứ ba, chủ thể này có đặc điểm đặc biệt đó là hiểu rõ hoàn cảnh từng hộ gia đình, tạo sự an toàn, gần gũi, giúp nhóm phụ nữ có những kiến thức tiếp cận công lý thông qua hoạt động trợ giúp pháp lý đối với nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình, đồng thời, nhằm chấm dứt sự đau khổ cho phụ nữ thông qua hoạt động hòa giải mâu thuẫn, chấm dứt bạo lực (hệ thống pháp lý có tính nhà nước), tạo ra những hoạt động thúc đẩy nhận thức nâng cao bảo vệ quyền tiếp cận công lý của nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình, tiến hành xây dựng các cơ sở vật chất đảm bảo cho nhóm phụ nữ thực hiện quyền tiếp cận công lý như nhà tạm lánh (hệ thống phi nhà nước).

2. Tính cần thiết của cơ chế tiếp cận công lý ngoài cơ quan tư pháp của nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình

Thứ nhất, tồn tại những hạn chế trong cơ chế tiếp cận công lý chính thức (Tòa án)

Việt Nam thuộc một trong những quốc gia ghi nhận nhiều quyền và nghĩa vụ cơ bản trong hệ thống pháp luật nhưng cơ chế thực thi bảo vệ quyền còn không ít hạn chế. Hệ thống Tòa án nhằm bảo vệ quyền tiếp cận công lý của nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình còn tồn tại nhiều bất cập về quy định của pháp luật cũng như rào cản về thể chế dẫn tới tình trạng người phụ nữ dễ từ bỏ quyền giữa vụ án. Chẳng hạn như, mặc dù quy định phạt tiền đối với người có hành vi bạo lực gia đình, nhưng trên thực tế, người đến nộp phạt không phải là người có hành vi vi phạm mà lại chính là nạn nhân, điều này sẽ tác động đến ý chí đấu tranh quyền của nhóm đối tượng này. Mặt khác, trong quá trình thực thi của cán bộ tư pháp, còn tồn tại phổ biến những vấn đề như: Đánh giá mang tính chủ quan của công an và đổ lỗi mọi việc cho người phụ nữ khi họ đến trình bày vụ việc; cách tiếp nhận lấy lời khai với thái độ thiếu quan tâm, thiếu sự bảo vệ; mối lo ngại vì thiếu tính riêng tư của vụ việc (dễ bị tiết lộ); đánh giá chủ quan thông qua quan sát cách ăn mặc, lối sống, hành vi của nạn nhân hơn là những lời nạn nhân khai trong vụ án... Hệ quả là nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình khi tiếp cận hệ thống tư pháp chính thức mang lại cho họ cảm giác không an toàn và đôi khi, hệ thống này còn gây nên những hậu quả tiêu cực…

Thứ hai, những ưu điểm mà cơ chế tiếp cận công lý ngoài cơ quan tư pháp của nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình mang lại

Có thể thấy rằng, cơ chế tiếp cận công lý chính thức có những hạn chế như tốn kém, kéo dài thời gian, tính răn đe đối với hành vi bạo lực của người chồng trong nhiều trường hợp không mang lại kết quả như nạn nhân mong đợi, trong khi, tâm thức của những nạn nhân bị bạo lực gia đình thường xuyên chỉ luôn mong muốn chấm dứt bạo lực, chứ không phải mục đích muốn “bỏ tù” người chồng. Có thể nói, cơ chế tiếp cận công lý không chính thức đã lấp được những khoảng trống mà cơ chế tiếp cận công lý chính thức còn tồn tại.

3. Đặc điểm của cơ chế tiếp cận công lý không chính thức của nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình

Thứ nhất, cơ chế tiếp cận công lý không chính thức của nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình tạo ra sự yên tâm, an toàn trong tâm lý của nạn nhân bị bạo lực gia đình

Lý do nạn nhân yên tâm, cảm thấy an toàn đó là cơ chế này được cộng đồng xã hội cũng như truyền thống văn hóa Việt Nam chấp thuận và đồng tình. Văn hóa Việt Nam đồng tình với quan điểm phụ nữ có thể tìm kiếm công lý hay nói cách khác thực hiện quyền tiếp cận công lý thông qua hoạt động hòa giải cơ sở nhưng lại không đồng tình với quan điểm phụ nữ “kiện chồng” có hành vi bạo lực gia đình. Vì thế, nạn nhân sẽ cởi mở khi trình bày vụ việc trước bên thứ ba hòa giải trong trường hợp người hòa giải là những người uy tín trong cộng đồng. Khi bên thứ ba hiểu nạn nhân thì khả năng giúp chấm dứt mâu thuẫn trên thực tế dễ thành công hơn. Tuy nhiên, cũng không loại trừ trường hợp, sự tin tưởng của nạn nhân vào cơ chế tiếp cận công lý ngoài cơ quan tư pháp sẽ bị tổn thương nếu tính riêng tư của vụ việc không được giữ hay người hòa giải không phải là những người uy tín trong cộng đồng. Bên cạnh đó, những người làm việc cho cơ chế tiếp cận công lý ngoài cơ quan tư pháp dễ tiếp cận với nạn nhân hơn, bởi vì, nạn nhân sẽ tránh được tâm lý tiếp xúc với cán bộ tư pháp là có thể phải nộp phạt thay chồng hay người chồng phải vào tù… Mặt khác, cơ chế này xây dựng được một hệ thống nhận thức cơ bản thông qua hệ thống trợ giúp tư pháp đối với nạn nhân, giúp họ nhận thức được quy trình thực hiện quyền tiếp cận công lý cũng như kỹ năng tìm đến các nhà tạm lánh nhằm cách ly bạo lực để tìm đến công lý cho chính bản thân.

Thứ hai, thủ tục nhanh gọn, không mất chi phí so với cơ chế pháp lý chính thức

Đây có lẽ là một đặc điểm mà nạn nhân mong muốn tìm đến hệ thống pháp lý không chính thức. Thực tế chỉ ra rằng, khi phụ nữ tìm đến hệ thống tư pháp, nạn nhân không chỉ chịu những áp lực của cộng đồng xã hội mà còn chứng kiến thái độ, nhận thức của cán bộ công an thờ ơ đối với vụ việc, trong khi người phụ nữ lại cảm thấy tính rất nghiêm trọng của vụ việc bạo lực. Vì thế, người phụ nữ dễ bị tổn thương. Mặt khác, sự quá tải của hệ thống tư pháp cũng như nhận thức của cán bộ công an coi những vụ việc liên quan đến bạo lực gia đình chưa phải là những vụ việc được quan tâm hàng đầu nên chưa được quan tâm giải quyết, nhiều trường hợp kéo dài khiến nạn nhân cảm thấy mệt mỏi. Do đó, cơ chế pháp lý không chính thức với thủ tục nhanh gọn, có thể giải quyết vụ việc “ngay tức thì” làm cho nguồn cơn của những mâu thuẫn dễ dàng được giải quyết. Đặc biệt, nạn nhân hoàn toàn không mất chi phí về tài chính và cũng không lo lắng rằng nạn nhân có thể nộp phạt thay cho người có hành vi bạo lực.

Thứ ba, sự đóng góp của cơ chế pháp lý ngoài cơ quan tư pháp là cơ sở thúc đẩy sự hoàn thiện của cơ chế pháp lý chính thức cũng như giảm bớt gánh nặng cho Tòa án

Trong hệ thống tư pháp vẫn còn tồn tại án tồn đọng chưa được giải quyết mà hành vi bạo lực gia đình trong xã hội lại rất nhiều, nếu bất cứ vụ việc nào cũng đệ đơn lên Tòa án thì có lẽ Tòa án không thể giải quyết được. Vì thế, cơ chế pháp lý ngoài cơ quan tư pháp sẽ có tác dụng phân loại những loại nào nên hòa giải, những loại nào buộc phải ra tòa. Mặt khác, cơ chế này còn có tác dụng hỗ trợ sự hoàn thiện của cơ chế pháp lý chính thức. Cụ thể, với các hoạt động trợ giúp tư pháp đối với nạn nhân bị bạo lực gia đình, cũng như xây dựng các nhà tạm lánh cho nạn nhân bị bạo lực gia đình, công tác truyền thông… sẽ giúp cho nạn nhân tìm được các quy trình để tiếp cận công lý theo thủ tục Tòa án một cách hiệu quả nhất. Đặc biệt, ở những vùng xa xôi, hẻo lánh, hải đảo, đồng bào dân tộc thiểu số, nhiều trường hợp cơ quan tư pháp đặt ở rất xa nơi sinh sống, nên người dân ở nhiều nơi không quen và khó nắm bắt các thủ tục tư pháp chính thức, thay vào đó, nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình sẽ tiếp cận được công lý tức thì thông qua cơ chế pháp lý không chính thức.

Thứ tư, bên cạnh những ưu điểm, cơ chế tiếp cận công lý không chính thức của nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình còn tồn tại những thách thức như: Thực thi không hiệu quả, nhiều trường hợp thiếu sự công bằng do ý chí khách quan của bên thứ ba… Trong quá trình giải quyết, việc chấm dứt bạo lực phụ thuộc vào ý chí tự nguyện của người vợ (nạn nhân), người chồng (người có hành vi bạo lực). Cho nên, nhiều trường hợp, khi hoạt động hòa giải kết thúc, bạo lực không những không giảm đi, mà còn tiếp diễn với tần suất nhiều hơn do người chồng bị mất sỹ diện, tính riêng tư của vụ việc không được bảo đảm. Bên cạnh đó, tính công bằng hay nói cách khác là giải quyết hợp lý hay thiếu khách quan phụ thuộc rất lớn vào chủ thể thứ ba.

4. Giải pháp thúc đẩy hoạt động của cơ chế tiếp cận công lý không chính thức của nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình

- Thúc đẩy bình đẳng giới và chấm dứt sự phân biệt đối xử thông qua hoạt động tuyên truyền pháp luật là bước đệm đầu tiên mở đường cho phụ nữ thực hiện quyền tiếp cận công lý. Có thể nói, tình trạng phân biệt đối xử còn tồn tại ở nhiều nơi, đặc biệt là vùng nông thôn, đồng bào dân tộc thiểu số... Hệ tư tưởng này ảnh hưởng đến nhận thức, hành vi của cả cộng đồng xã hội và vẫn còn tàn dư của những tư tưởng phong kiến. Chính vì vậy, bước đệm đầu tiên mở đường cho phụ nữ bị bạo lực gia đình tiếp cận công lý đó là thúc đẩy bình đẳng giới.

- Xây dựng quy trình thực hiện quyền tiếp cận công lý cho nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình. Trong quy trình này, nạn nhân sẽ được cung cấp những thông tin về các quyền mà phụ nữ có thể sử dụng nhằm chống lại bạo lực gia đình, đồng thời, đưa ra những bộ quy tắc, các bước để nhóm người này có thể dễ dàng tiếp cận đến công lý như thông tin các nhà tạm lánh, các biện pháp phòng ngừa trước tình trạng bạo lực gia đình, các địa chỉ tin cậy để người phụ nữ có thể tìm đến trợ giúp pháp lý... Tuy nhiên, thiết nghĩ, để bộ quy tắc này được thực hiện tốt trên thực tế cần phải thúc đẩy một cách có hiệu quả sự phối hợp của nhiều cơ quan, tổ chức liên quan như cơ quan truyền thông, cán bộ y tế, nhân viên làm việc tại nhà tạm lánh, cán bộ tư pháp thực hiện công tác trợ giúp pháp lý cho những đối tượng này.

- Xây dựng bộ tài liệu cho cán bộ Hội phụ nữ, tổ trưởng tổ dân phố, người thực hiện hoạt động trợ giúp tư pháp cho nhóm đối tượng phụ nữ bị bạo lực gia đình trong giải quyết các vụ việc bạo lực đối với phụ nữ. Đối tượng sử dụng bộ tài liệu đó là tổ trưởng tổ dân phố, trưởng thôn, cán bộ Hội phụ nữ, người thực hiện hoạt động trợ giúp tư pháp. Nguyên tắc xây dựng tài liệu là lấy nạn nhân làm trung tâm. Bên cạnh đó, những đối tượng này cũng cần phải được đào tạo chuyên biệt, có am hiểu và kiến thức nhất định về vấn đề giới để có thể hiểu hoàn cảnh, tâm lý nhằm có những ứng xử cho phù hợp, nếu có thể, cán bộ đó nên là nữ. Khi nạn nhân đến trình báo, nên thực thiện ở nơi kín đáo để đảm bảo sự bảo mật cho nạn nhân. Trong trường hợp nhận được các cuộc gọi khẩn cấp, người nhận cuộc gọi khẩn cấp phải luôn luôn kiên nhẫn và lịch sự, đồng thời đảm bảo hành động và sự giúp đỡ kịp thời đối với người gọi. Khi tiếp xúc với nạn nhân phải thông cảm và hỗ trợ, cụ thể, thể hiện thái độ cảm thông, chia sẻ với những gì mà nạn nhân đang phải chịu đựng để làm rõ vụ việc bạo lực. Tiếp xúc với nhạn nhân cần thể hiện sự tôn trọng bởi nhiều nạn nhân đã từng chịu tổn thương tâm lý như rối loạn căng thẳng, hậu chấn thương tâm lý, trầm cảm hoặc bất an, họ có thể cảm thấy bị cô lập về mặt xã hội, có lòng tự trọng thấp, cảm thấy xấu hổ.

ThS. Nguyễn Phương Nhung

Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh





Tài liệu tham khảo:

1. Bộ Tư pháp (2018), Tiếp cận công lý đối với phụ nữ bị bạo lực, Tài liệu tập huấn của UNDP.

2. Vũ Công Giao (2009), Tiếp cận công lý và các nguyên lý của Nhà nước pháp quyền, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Luật học (25), tr. 188 - 194.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.
Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết phân tích các vấn đề cốt lõi về hợp đồng tiếp thị liên kết, đánh giá thực tiễn áp dụng và chỉ ra những bất cập trong quy định pháp luật, đặc biệt liên quan đến khái niệm pháp lý, cơ chế giao kết và hiệu lực phụ lục hợp đồng. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng tiếp thị liên kết, nhằm bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong quan hệ hợp đồng và góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của hoạt động tiếp thị liên kết trong môi trường thương mại điện tử tại Việt Nam.
Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự gia tăng của quan hệ hôn nhân xuyên biên giới, vấn đề giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn ngày càng trở nên cấp thiết. Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá quy định hiện hành về xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch (lex patriae). Qua đó, nhận diện một số bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực thi nguyên tắc này tại Việt Nam hiện nay.
Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Tóm tắt: Ở Việt Nam, chế định Hội thẩm nhân dân là phương thức thể chế hóa quyền làm chủ của Nhân dân trong hoạt động xét xử. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, chế định này tồn tại một số hạn chế, dẫn đến sự tham gia của Nhân dân trong nhiều trường hợp còn hình thức. Bài viết phân tích vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử, nhận diện những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về cơ chế lựa chọn, phân công, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Hội thẩm nhân dân, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: