Thứ ba 28/07/2026 08:55
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Cơ chế tiếp cận công lý ngoài cơ quan tư pháp của nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình

Tóm tắt: Quyền tiếp cận công lý của nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình là một trong những quyền cơ bản nhất của người phụ nữ khi tình trạng bạo lực diễn ra thường xuyên

Tóm tắt: Quyền tiếp cận công lý của nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình là một trong những quyền cơ bản nhất của người phụ nữ khi tình trạng bạo lực diễn ra thường xuyên. Hiện nay, vẫn còn tồn tại rất nhiều rào cản trong tiến trình thực hiện quyền tiếp cận công lý thông qua hệ thống pháp lý chính chức (Tòa án). Do đó, việc nghiên cứu cơ chế tiếp cận công lý ngoài cơ quan tư pháp có ý nghĩa thiết thực trong hoạt động bảo vệ quyền của người phụ nữ.

Abstract: The right of women as victims of domestic violence to have access to justice is one of the most basic rights of women when violence is frequent. Currently, there are many barriers in the process of implementing the right of access to justice through the legal system of government (court). Therefore, the study of the mechanism of access to justice outside the judiciary has a practical significance in protecting women's rights.

1. Khái niệm quyền tiếp cận công lý, cơ chế tiếp cận công lý không chính thức của nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình

Công lý là đặc tính khách quan được phát triển trong xã hội dân chủ, nhưng lại có cội nguồn trong xã hội có những mâu thuẫn đối kháng và đặc tính này xuất hiện từ rất sớm. Dưới góc độ nghiên cứu quyền con người, quyền tiếp cận công lý của nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình được coi là một trong những quyền quan trọng khi người phụ nữ bị bạo lực, bởi nếu không có quyền này, phụ nữ sẽ không thể tìm kiếm được công lý, thay vào đó là sự chịu đựng với những tổn thương về thể xác và tinh thần, cũng như “đông cứng” khả năng đấu tranh bảo vệ quyền cho bản thân mình. Cách diễn giải thuật ngữ quyền tiếp cận công lý chỉ gắn liền với hoạt động tố tụng của Tòa án trong phạm vi hẹp không thể bao hàm được đầy đủ nội hàm quyền tiếp cận công lý của nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình, bởi vì trên thực tế, đối với nhóm dễ bị tổn thương như nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình cùng với nhiều rào cản về văn hóa thì hoạt động của Tòa án không tạo được niềm tin đối với nhóm đối tượng này. Do đó, đa phần các nghiên cứu hiện nay đều đồng tình với quan điểm quyền tiếp cận công lý của nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình theo nghĩa rộng hơn, đó là quyền tiếp cận công lý được hiểu như khả năng tìm kiếm sự đền bù hoặc sự khắc phục cho những bất công hay thiệt hại mà nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình phải gánh chịu thông qua hệ thống tư pháp và hệ thống hỗ trợ nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình như: Hội liên hiệp phụ nữ, Ủy ban nhân dân, tổ dân phố, các tổ chức phi Chính phủ hoạt động hỗ trợ nhóm phụ nữ bị bạo lực. Những bất công/thiệt hại do một đối tượng đặc biệt, đó là người chồng thực hiện các hành vi bạo lực, gồm bạo lực tinh thần và bạo lực về thể xác, gây ra những tổn hại nghiêm trọng ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm, sức khỏe của người phụ nữ.

Trong xã hội Việt Nam, hầu hết người phụ nữ nhận thức rất rõ bổn phận, trách nhiệm của một người vợ, một người mẹ và sự gìn giữ gia đình. Tuy nhiên, trong trường hợp nhóm người phụ nữ mong muốn tìm kiếm công lý trước nguy cơ bạo lực gia đình, minh chứng một điều rằng, sự chịu đựng của phụ nữ đã vượt quá mức giới hạn và tính “thường xuyên bị bạo lực” là thuật ngữ thường xuyên được lặp lại trong cuộc sống của người phụ nữ. Do đó, phải phân định rõ ràng phạm vi đối tượng phụ nữ bị bạo lực gia đình cần được bảo vệ quyền tiếp cận công lý như sau: (i) Nhóm phụ nữ thường xuyên bị đánh đập, việc hòa giải của cơ quan chính quyền không mang lại hiệu quả thiết thực trên thực tế; (ii) Nhóm phụ nữ có nguyện vọng nộp đơn để được bảo vệ quyền trước tình trạng bạo lực gia đình.

Cơ chế tiếp cận công lý của nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình ngoài cơ quan tư pháp, bao gồm hệ thống pháp lý có tính nhà nước (Chủ tịch Hội phụ nữ, người đại diện cho khu vực dân cư, Ban hòa giải cơ sở, trợ giúp pháp lý) và hệ thống phi nhà nước (các tổ chức phi Chính phủ hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ), đồng thời với sự tham gia của một số cơ quan khác như cơ quan truyền thông, các cơ sở hỗ trợ y tế... Cơ chế này có thể hiểu là có sự tham gia của chủ thể thứ ba, chủ thể này có đặc điểm đặc biệt đó là hiểu rõ hoàn cảnh từng hộ gia đình, tạo sự an toàn, gần gũi, giúp nhóm phụ nữ có những kiến thức tiếp cận công lý thông qua hoạt động trợ giúp pháp lý đối với nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình, đồng thời, nhằm chấm dứt sự đau khổ cho phụ nữ thông qua hoạt động hòa giải mâu thuẫn, chấm dứt bạo lực (hệ thống pháp lý có tính nhà nước), tạo ra những hoạt động thúc đẩy nhận thức nâng cao bảo vệ quyền tiếp cận công lý của nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình, tiến hành xây dựng các cơ sở vật chất đảm bảo cho nhóm phụ nữ thực hiện quyền tiếp cận công lý như nhà tạm lánh (hệ thống phi nhà nước).

2. Tính cần thiết của cơ chế tiếp cận công lý ngoài cơ quan tư pháp của nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình

Thứ nhất, tồn tại những hạn chế trong cơ chế tiếp cận công lý chính thức (Tòa án)

Việt Nam thuộc một trong những quốc gia ghi nhận nhiều quyền và nghĩa vụ cơ bản trong hệ thống pháp luật nhưng cơ chế thực thi bảo vệ quyền còn không ít hạn chế. Hệ thống Tòa án nhằm bảo vệ quyền tiếp cận công lý của nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình còn tồn tại nhiều bất cập về quy định của pháp luật cũng như rào cản về thể chế dẫn tới tình trạng người phụ nữ dễ từ bỏ quyền giữa vụ án. Chẳng hạn như, mặc dù quy định phạt tiền đối với người có hành vi bạo lực gia đình, nhưng trên thực tế, người đến nộp phạt không phải là người có hành vi vi phạm mà lại chính là nạn nhân, điều này sẽ tác động đến ý chí đấu tranh quyền của nhóm đối tượng này. Mặt khác, trong quá trình thực thi của cán bộ tư pháp, còn tồn tại phổ biến những vấn đề như: Đánh giá mang tính chủ quan của công an và đổ lỗi mọi việc cho người phụ nữ khi họ đến trình bày vụ việc; cách tiếp nhận lấy lời khai với thái độ thiếu quan tâm, thiếu sự bảo vệ; mối lo ngại vì thiếu tính riêng tư của vụ việc (dễ bị tiết lộ); đánh giá chủ quan thông qua quan sát cách ăn mặc, lối sống, hành vi của nạn nhân hơn là những lời nạn nhân khai trong vụ án... Hệ quả là nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình khi tiếp cận hệ thống tư pháp chính thức mang lại cho họ cảm giác không an toàn và đôi khi, hệ thống này còn gây nên những hậu quả tiêu cực…

Thứ hai, những ưu điểm mà cơ chế tiếp cận công lý ngoài cơ quan tư pháp của nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình mang lại

Có thể thấy rằng, cơ chế tiếp cận công lý chính thức có những hạn chế như tốn kém, kéo dài thời gian, tính răn đe đối với hành vi bạo lực của người chồng trong nhiều trường hợp không mang lại kết quả như nạn nhân mong đợi, trong khi, tâm thức của những nạn nhân bị bạo lực gia đình thường xuyên chỉ luôn mong muốn chấm dứt bạo lực, chứ không phải mục đích muốn “bỏ tù” người chồng. Có thể nói, cơ chế tiếp cận công lý không chính thức đã lấp được những khoảng trống mà cơ chế tiếp cận công lý chính thức còn tồn tại.

3. Đặc điểm của cơ chế tiếp cận công lý không chính thức của nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình

Thứ nhất, cơ chế tiếp cận công lý không chính thức của nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình tạo ra sự yên tâm, an toàn trong tâm lý của nạn nhân bị bạo lực gia đình

Lý do nạn nhân yên tâm, cảm thấy an toàn đó là cơ chế này được cộng đồng xã hội cũng như truyền thống văn hóa Việt Nam chấp thuận và đồng tình. Văn hóa Việt Nam đồng tình với quan điểm phụ nữ có thể tìm kiếm công lý hay nói cách khác thực hiện quyền tiếp cận công lý thông qua hoạt động hòa giải cơ sở nhưng lại không đồng tình với quan điểm phụ nữ “kiện chồng” có hành vi bạo lực gia đình. Vì thế, nạn nhân sẽ cởi mở khi trình bày vụ việc trước bên thứ ba hòa giải trong trường hợp người hòa giải là những người uy tín trong cộng đồng. Khi bên thứ ba hiểu nạn nhân thì khả năng giúp chấm dứt mâu thuẫn trên thực tế dễ thành công hơn. Tuy nhiên, cũng không loại trừ trường hợp, sự tin tưởng của nạn nhân vào cơ chế tiếp cận công lý ngoài cơ quan tư pháp sẽ bị tổn thương nếu tính riêng tư của vụ việc không được giữ hay người hòa giải không phải là những người uy tín trong cộng đồng. Bên cạnh đó, những người làm việc cho cơ chế tiếp cận công lý ngoài cơ quan tư pháp dễ tiếp cận với nạn nhân hơn, bởi vì, nạn nhân sẽ tránh được tâm lý tiếp xúc với cán bộ tư pháp là có thể phải nộp phạt thay chồng hay người chồng phải vào tù… Mặt khác, cơ chế này xây dựng được một hệ thống nhận thức cơ bản thông qua hệ thống trợ giúp tư pháp đối với nạn nhân, giúp họ nhận thức được quy trình thực hiện quyền tiếp cận công lý cũng như kỹ năng tìm đến các nhà tạm lánh nhằm cách ly bạo lực để tìm đến công lý cho chính bản thân.

Thứ hai, thủ tục nhanh gọn, không mất chi phí so với cơ chế pháp lý chính thức

Đây có lẽ là một đặc điểm mà nạn nhân mong muốn tìm đến hệ thống pháp lý không chính thức. Thực tế chỉ ra rằng, khi phụ nữ tìm đến hệ thống tư pháp, nạn nhân không chỉ chịu những áp lực của cộng đồng xã hội mà còn chứng kiến thái độ, nhận thức của cán bộ công an thờ ơ đối với vụ việc, trong khi người phụ nữ lại cảm thấy tính rất nghiêm trọng của vụ việc bạo lực. Vì thế, người phụ nữ dễ bị tổn thương. Mặt khác, sự quá tải của hệ thống tư pháp cũng như nhận thức của cán bộ công an coi những vụ việc liên quan đến bạo lực gia đình chưa phải là những vụ việc được quan tâm hàng đầu nên chưa được quan tâm giải quyết, nhiều trường hợp kéo dài khiến nạn nhân cảm thấy mệt mỏi. Do đó, cơ chế pháp lý không chính thức với thủ tục nhanh gọn, có thể giải quyết vụ việc “ngay tức thì” làm cho nguồn cơn của những mâu thuẫn dễ dàng được giải quyết. Đặc biệt, nạn nhân hoàn toàn không mất chi phí về tài chính và cũng không lo lắng rằng nạn nhân có thể nộp phạt thay cho người có hành vi bạo lực.

Thứ ba, sự đóng góp của cơ chế pháp lý ngoài cơ quan tư pháp là cơ sở thúc đẩy sự hoàn thiện của cơ chế pháp lý chính thức cũng như giảm bớt gánh nặng cho Tòa án

Trong hệ thống tư pháp vẫn còn tồn tại án tồn đọng chưa được giải quyết mà hành vi bạo lực gia đình trong xã hội lại rất nhiều, nếu bất cứ vụ việc nào cũng đệ đơn lên Tòa án thì có lẽ Tòa án không thể giải quyết được. Vì thế, cơ chế pháp lý ngoài cơ quan tư pháp sẽ có tác dụng phân loại những loại nào nên hòa giải, những loại nào buộc phải ra tòa. Mặt khác, cơ chế này còn có tác dụng hỗ trợ sự hoàn thiện của cơ chế pháp lý chính thức. Cụ thể, với các hoạt động trợ giúp tư pháp đối với nạn nhân bị bạo lực gia đình, cũng như xây dựng các nhà tạm lánh cho nạn nhân bị bạo lực gia đình, công tác truyền thông… sẽ giúp cho nạn nhân tìm được các quy trình để tiếp cận công lý theo thủ tục Tòa án một cách hiệu quả nhất. Đặc biệt, ở những vùng xa xôi, hẻo lánh, hải đảo, đồng bào dân tộc thiểu số, nhiều trường hợp cơ quan tư pháp đặt ở rất xa nơi sinh sống, nên người dân ở nhiều nơi không quen và khó nắm bắt các thủ tục tư pháp chính thức, thay vào đó, nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình sẽ tiếp cận được công lý tức thì thông qua cơ chế pháp lý không chính thức.

Thứ tư, bên cạnh những ưu điểm, cơ chế tiếp cận công lý không chính thức của nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình còn tồn tại những thách thức như: Thực thi không hiệu quả, nhiều trường hợp thiếu sự công bằng do ý chí khách quan của bên thứ ba… Trong quá trình giải quyết, việc chấm dứt bạo lực phụ thuộc vào ý chí tự nguyện của người vợ (nạn nhân), người chồng (người có hành vi bạo lực). Cho nên, nhiều trường hợp, khi hoạt động hòa giải kết thúc, bạo lực không những không giảm đi, mà còn tiếp diễn với tần suất nhiều hơn do người chồng bị mất sỹ diện, tính riêng tư của vụ việc không được bảo đảm. Bên cạnh đó, tính công bằng hay nói cách khác là giải quyết hợp lý hay thiếu khách quan phụ thuộc rất lớn vào chủ thể thứ ba.

4. Giải pháp thúc đẩy hoạt động của cơ chế tiếp cận công lý không chính thức của nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình

- Thúc đẩy bình đẳng giới và chấm dứt sự phân biệt đối xử thông qua hoạt động tuyên truyền pháp luật là bước đệm đầu tiên mở đường cho phụ nữ thực hiện quyền tiếp cận công lý. Có thể nói, tình trạng phân biệt đối xử còn tồn tại ở nhiều nơi, đặc biệt là vùng nông thôn, đồng bào dân tộc thiểu số... Hệ tư tưởng này ảnh hưởng đến nhận thức, hành vi của cả cộng đồng xã hội và vẫn còn tàn dư của những tư tưởng phong kiến. Chính vì vậy, bước đệm đầu tiên mở đường cho phụ nữ bị bạo lực gia đình tiếp cận công lý đó là thúc đẩy bình đẳng giới.

- Xây dựng quy trình thực hiện quyền tiếp cận công lý cho nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình. Trong quy trình này, nạn nhân sẽ được cung cấp những thông tin về các quyền mà phụ nữ có thể sử dụng nhằm chống lại bạo lực gia đình, đồng thời, đưa ra những bộ quy tắc, các bước để nhóm người này có thể dễ dàng tiếp cận đến công lý như thông tin các nhà tạm lánh, các biện pháp phòng ngừa trước tình trạng bạo lực gia đình, các địa chỉ tin cậy để người phụ nữ có thể tìm đến trợ giúp pháp lý... Tuy nhiên, thiết nghĩ, để bộ quy tắc này được thực hiện tốt trên thực tế cần phải thúc đẩy một cách có hiệu quả sự phối hợp của nhiều cơ quan, tổ chức liên quan như cơ quan truyền thông, cán bộ y tế, nhân viên làm việc tại nhà tạm lánh, cán bộ tư pháp thực hiện công tác trợ giúp pháp lý cho những đối tượng này.

- Xây dựng bộ tài liệu cho cán bộ Hội phụ nữ, tổ trưởng tổ dân phố, người thực hiện hoạt động trợ giúp tư pháp cho nhóm đối tượng phụ nữ bị bạo lực gia đình trong giải quyết các vụ việc bạo lực đối với phụ nữ. Đối tượng sử dụng bộ tài liệu đó là tổ trưởng tổ dân phố, trưởng thôn, cán bộ Hội phụ nữ, người thực hiện hoạt động trợ giúp tư pháp. Nguyên tắc xây dựng tài liệu là lấy nạn nhân làm trung tâm. Bên cạnh đó, những đối tượng này cũng cần phải được đào tạo chuyên biệt, có am hiểu và kiến thức nhất định về vấn đề giới để có thể hiểu hoàn cảnh, tâm lý nhằm có những ứng xử cho phù hợp, nếu có thể, cán bộ đó nên là nữ. Khi nạn nhân đến trình báo, nên thực thiện ở nơi kín đáo để đảm bảo sự bảo mật cho nạn nhân. Trong trường hợp nhận được các cuộc gọi khẩn cấp, người nhận cuộc gọi khẩn cấp phải luôn luôn kiên nhẫn và lịch sự, đồng thời đảm bảo hành động và sự giúp đỡ kịp thời đối với người gọi. Khi tiếp xúc với nạn nhân phải thông cảm và hỗ trợ, cụ thể, thể hiện thái độ cảm thông, chia sẻ với những gì mà nạn nhân đang phải chịu đựng để làm rõ vụ việc bạo lực. Tiếp xúc với nhạn nhân cần thể hiện sự tôn trọng bởi nhiều nạn nhân đã từng chịu tổn thương tâm lý như rối loạn căng thẳng, hậu chấn thương tâm lý, trầm cảm hoặc bất an, họ có thể cảm thấy bị cô lập về mặt xã hội, có lòng tự trọng thấp, cảm thấy xấu hổ.

ThS. Nguyễn Phương Nhung

Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh





Tài liệu tham khảo:

1. Bộ Tư pháp (2018), Tiếp cận công lý đối với phụ nữ bị bạo lực, Tài liệu tập huấn của UNDP.

2. Vũ Công Giao (2009), Tiếp cận công lý và các nguyên lý của Nhà nước pháp quyền, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Luật học (25), tr. 188 - 194.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.

Theo dõi chúng tôi trên: