Chủ nhật 14/06/2026 16:48
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Có được nhận đơn khởi kiện do người đại diện theo ủy quyền ký tên?

Tóm tắt: Trong bài viết này, tác giả phân tích, đánh giá hai quan điểm trái chiều nhau trong việc Tòa án có được nhận đơn khởi kiện do người đại diện theo ủy quyền ký tên trong đơn hay không.

Tóm tắt: Trong bài viết này, tác giả phân tích, đánh giá hai quan điểm trái chiều nhau trong việc Tòa án có được nhận đơn khởi kiện do người đại diện theo ủy quyền ký tên trong đơn hay không.

Abstract: In this paper, the author analyzes, assesses two opposed viewpoints in the case whether or not a court may admit a petition which is signed by an authorized representative.

Bảo đảm quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự là một nguyên tắc quan trọng trong tố tụng dân sự. Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự. Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó. Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi yêu cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội (Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015). Tuy nhiên, trong thực tiễn tố tụng dân sự tại các Tòa án, việc thực hiện nguyên tắc này còn nhiều cách vận dụng, áp dụng khác nhau, nhất là trong việc ủy quyền cho người khác khởi kiện thay. Trong phạm vi bài viết này, tác giả nêu lên ví dụ về một vụ việc cụ thể và các quan điểm khác nhau trong việc có nhận đơn, có thụ lý đơn khởi kiện do người ủy quyền ký đơn khởi kiện hay không.

Nội dung vụ việc: Tháng 12/2016, ông Trịnh Hoài P (đang sống ở Canada) làm giấy ủy quyền cho ông Trịnh Phương Đ được quyền khiếu kiện đòi lại 08 sào đất ruộng mà theo ông P thì ông N đang quản lý, sử dụng. Giấy ủy quyền được chứng nhận tại Canada trước khi gửi về Việt Nam. Căn cứ giấy ủy quyền này, ông Đ ký và nộp đơn khiếu kiện việc tranh chấp quyền sử dụng đất tại Ủy ban nhân dân phường. Sau đó, do hòa giải không thành nên Ủy ban nhân dân phường hướng dẫn các bên khởi kiện ra Tòa. Ngày 21/6/2017, ông Đ ký đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất gửi cho Tòa án nhân dân thành phố NT, tỉnh K và đã được Tòa án nhân dân thành phố NT thụ lý giải quyết[1].

Xoay quanh tình huống pháp lý này còn nhiều quan điểm khác nhau trong việc áp dụng quy phạm pháp luật để giải quyết vụ án:

Quan điểm thứ nhất: Cá nhân được ủy quyền tham gia tố tụng, chứ không quy định người được ủy quyền được ký đơn kiện thay người khởi kiện. Quan điểm này cho rằng, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 chưa cho phép người đại diện theo ủy quyền được quyền ký đơn khởi kiện. Tức là, cá nhân không được quyền ủy quyền khởi kiện mà chỉ được quyền ủy quyền tham gia tố tụng. Cụ thể, Điều 5, Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định: Người khởi kiện là cá nhân thì phải có chữ ký hoặc điểm chỉ của người khởi kiện.

Quan điểm thứ hai: Ông Đ là người đại diện theo ủy quyền của ông P bằng văn bản ủy quyền được chứng nhận của cơ quan có thẩm quyền tại Canada là phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015. Ông Đ là người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự nên việc ký vào đơn khởi kiện là không trái với quy định của Bộ luật Dân sự và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Tác giả đồng ý với quan điểm thứ hai, bởi các cơ sở lý luận, thực tiễn và pháp lý sau đây:

Thứ nhất, xét quy phạm pháp luật về quyền khởi kiện

Quyền khởi kiện trong tình huống pháp lý này phải thuộc về ông P và trường hợp ông P khởi kiện thì đương nhiên ông là nguyên đơn dân sự trong vụ kiện tranh chấp quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, do ông đang ở Canada, không có điều kiện khởi kiện nên ông ủy quyền lại cho ông Đ giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất, trong đó bao gồm cả quyền khởi kiện là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam. Phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng dân sự chính là ở quy phạm pháp luật thực hiện quyền tự quyết định, quyền tự định đoạt của đương sự. Đây là nguyên tắc cơ bản, quan trọng trong tố tụng dân sự được quy định tại Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Quyền tự quyết định, quyền tự định đoạt trong trường hợp này bao gồm cả quyền ủy quyền cho người khác: “Cá nhân, pháp nhân có thể ủy quyền cho cá nhân, pháp nhân khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự” (khoản 1 Điều 138 Bộ luật Dân sự năm 2015). Vì vậy, quyền ủy quyền cho người khác khởi kiện cần phải được đảm bảo và việc Tòa án nhân dân thành phố NT chấp nhận đơn khởi kiện của người ủy quyền là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật.

Thứ hai, xét quy phạm pháp luật về người đại diện

Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì đại diện là việc cá nhân, pháp nhân nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự (khoản 1 Điều 134). Cá nhân, pháp nhân có thể xác lập, thực hiện giao dịch dân sự thông qua người đại diện. Cá nhân không được để người khác đại diện cho mình nếu pháp luật quy định họ phải tự mình xác lập, thực hiện giao dịch đó (khoản 2 Điều 134). Xét các quy phạm pháp luật tố tụng dân sự thì không có quy phạm pháp luật nào cấm người đại diện theo ủy quyền không được đại diện cho người được ủy quyền khởi kiện vụ việc tại Tòa án, trong đó bao gồm cả việc ký đơn khởi kiện.

Thứ ba, xét về phạm vi đại diện theo ủy quyền

Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì một trong những căn cứ để xác định phạm vi đại diện là nội dung ủy quyền (điểm c khoản 1 Điều 141). Theo đó, một người có tranh chấp, có quyền khởi kiện nhưng vì lý do nào đó không thực hiện được quyền khởi kiện giải quyết tranh chấp mà trao quyền cho một người khác được nhân danh mình khởi kiện ra Tòa án có thẩm quyền thì phạm vi ủy quyền bao gồm từ việc làm đơn khởi kiện, ký nộp đơn… là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật.

Quan điểm thứ nhất viện dẫn quy định tại Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và hướng dẫn tại Mẫu số 23-DS Đơn khởi kiện ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13/01/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành một số biểu mẫu trong tố tụng dân sự là: Nếu người khởi kiện là cá nhân thì phải có chữ ký hoặc điểm chỉ của người khởi kiện đó; trường hợp người khởi kiện là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì người đại diện hợp pháp của họ phải ký tên hoặc điểm chỉ; trường hợp người khởi kiện, người đại diện hợp pháp không biết chữ, không nhìn được, không thể tự mình làm đơn khởi kiện, không thể tự mình ký tên hoặc điểm chỉ thì phải có người có năng lực hành vi tố tụng dân sự đầy đủ làm chứng và ký xác nhận vào đơn khởi kiện… Tuy nhiên, đây chỉ là hướng dẫn về cách viết đơn khởi kiện mà không loại trừ quyền đại diện theo ủy quyền của người được ủy quyền. Theo đó, người đại diện theo ủy quyền - ông Đ có quyền làm đơn khởi kiện, tại mục người khởi kiện phải đề là ông P (để Tòa án xác định ông P là nguyên đơn trong vụ kiện theo quy định tại khoản 2 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và các thông tin khác theo yêu cầu và tại mục này thể hiện rõ người đại diện theo ủy quyền là ông Đ, địa chỉ, số điện thoại... Tại mục ký tên thì đương nhiên người đại diện theo ủy quyền khởi kiện - ông Đ được quyền ký tên hoặc điểm chỉ theo quy định. Vì vậy, không có khó khăn, hạn chế hay điều cấm nào đối với người đại diện theo ủy quyền về ký đơn khởi kiện thay cho người được ủy quyền.

Thứ tư, xét về thuật ngữ đại diện trong tố tụng dân sự

Quan điểm thứ nhất cho rằng, người đại diện theo ủy quyền chỉ được quyền “tham gia tố tụng” chứ không được ký đơn khởi kiện. Tuy nhiên, quan điểm này lại không viện dẫn được quy phạm pháp luật cụ thể nào quy định người đại diện theo ủy quyền chỉ “tham gia trong tố tụng dân sự” mà không được ký đơn khởi kiện. Khoản 1 Điều 85 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Người đại diện trong tố tụng dân sự bao gồm người đại diện theo pháp luật và người đại diện theo ủy quyền. Người đại diện có thể là cá nhân hoặc pháp nhân theo quy định của Bộ luật Dân sự”. Quy định này cho thấy, nhà làm luật sử dụng cụm từ “trong tố tụng dân sự” chứ không quy định “tham gia tố tụng dân sự”. Bởi lẽ, nội hàm từ cụm từ “trong tố tụng dân sự” rộng hơn, nó bao hàm tất cả hoạt động tố tụng dân sự từ khi bắt đầu khởi kiện (đơn khởi kiện), bao gồm cả thủ tục tiền tố tụng như hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân cấp xã cho tới thi hành án, kết thúc vụ việc. Vì vậy, quyền ủy quyền và quyền được ủy quyền ký đơn khởi kiện là phù hợp với thực tiễn và quy định của pháp luật.

Thứ năm, xét về yếu tố tương tự luật

Quy định tại khoản 5 Điều 2 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự (Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP) vẫn còn giá trị sử dụng để hướng dẫn với quy định tại khoản 3 Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Theo đó, Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP hướng dẫn: “Trường hợp văn phòng đại diện, chi nhánh của pháp nhân thực hiện việc khởi kiện vụ án phát sinh từ giao dịch do văn phòng đại diện, chi nhánh xác lập thực hiện, thì tại mục “Tên, địa chỉ của người khởi kiện” sau khi ghi tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức, phải ghi họ tên, chức vụ của người đứng đầu văn phòng đại diện, chi nhánh của pháp nhân, văn bản ủy quyền (số, ngày, tháng, năm) và chức danh của người đại diện theo pháp luật của pháp nhân ủy quyền. Tại mục “Người khởi kiện” ở cuối đơn khởi kiện cần phải ghi tên của pháp nhân, ghi chức vụ của người đứng đầu văn phòng đại diện, chi nhánh của pháp nhân; người đứng đầu văn phòng đại diện, chi nhánh của pháp nhân ký tên; ghi họ, tên của người đứng đầu văn phòng đại diện, chi nhánh của pháp nhân. Đóng dấu của pháp nhân hoặc đóng dấu của văn phòng đại diện, chi nhánh của pháp nhân”.

Như vậy, tư cách người khởi kiện trong trường hợp này vẫn là cơ quan, tổ chức nhưng khi ký tên thì người được ủy quyền được quyền ký tên và đóng dấu của văn phòng đại diện, chi nhánh của pháp nhân mặc dù luật quy định rõ “người đại diện của cơ quan, tổ chức phải ký tên và đóng dấu vào cuối đơn”. Nghĩa là, nếu là pháp nhân khởi kiện thì họ có quyền ủy quyền cho người khác khởi kiện, ký tên vào đơn khởi kiện. Trong khi đó, người nhận ủy quyền trong trường hợp cá nhân khởi kiện không được ký tên vào đơn khởi kiện là một điều phi lý và không công bằng giữa pháp nhân và cá nhân trong khi thực hiện quyền khởi kiện của mình. Tòa án cần phải áp dụng tương tự pháp luật: Pháp nhân và cá nhân đều bình đẳng trước pháp luật nên pháp nhân được quyền ủy quyền khởi kiện thì cá nhân cũng phải có quyền này[2].

Ngoài ra, theo quy định của pháp luật thì người đại diện theo ủy quyền được quyền làm đơn và ký đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện, phản tố; được quyền làm đơn và ký đơn kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm; được quyền làm đơn và ký đơn kiến nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm; được quyền làm đơn và ký đơn yêu cầu thi hành án… Như vậy, không có lý do gì để không cho phép người được ủy quyền ký đơn khởi kiện.

Theo tác giả, Tòa án nhân dân tối cao cần thiết xem xét để có hướng dẫn rõ ràng theo hướng: Cho phép người được ủy quyền ký tên vào đơn khởi kiện như thủ tục ký đơn kháng cáo... để tránh tình trạng mỗi nơi, mỗi địa phương hiểu và áp dụng khác nhau.

ThS. Đinh Duy Bằng

Văn phòng Luật sư Trường Thành





[1]. Báo Pháp luật thành phố Hồ Chí Minh, http://plo.vn/phap-luat/thay-mat-nguoi-dang-o-canada-khoi-kien-duoc-khong-744425.html, truy cập ngày 20/01/2019.

[2]. Huỳnh Minh Khánh, “Cá nhân có được quyền ký vào đơn thay cho người khởi kiện?”, http://tapchitoaan.vn/bai-viet/trao-doi-y-kien/ca-nhan-co-duoc-quyen-ky-vao-don-thay-cho-nguoi-khoi-kien/HyTKM1SfG.html, truy cập ngày 20/01/2019.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 thay thế Pháp lệnh Dân số số 06/2004/PL-UBTVQH11 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15). Một trong những thay đổi căn bản của Luật Dân số năm 2025 là chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Những nội dung liên quan đến dân số và phát triển đã được thể hiện trong việc hướng tới giải quyết đồng bộ các vấn đề về quy mô dân số, cơ cấu dân số, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.
Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.

Theo dõi chúng tôi trên: