Thứ ba 25/08/2026 03:54
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Công chứng hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và một số vấn đề phát sinh trên thực tế

Giao dịch thế chấp quyền sử dụng đất tại các tổ chức tín dụng để vay vốn nhằm phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc tiêu dùng đang chiếm ưu thế trong các giao dịch bảo đảm hiện nay. Giao dịch này bắt buộc phải thiết lập hợp đồng bằng văn bản, được công chứng hoặc chứng thực và đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Tuy nhiên, quá trình thực hiện công chứng hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất hiện đang phát sinh nhiều vướng mắc, mà nguyên nhân xuất phát từ sự bất cập của pháp luật về thế chấp quyền sử dụng đất.


1. Pháp luật hiện hành về công chứng đối với hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất

Giao dịch về bất động sản nói chung và giao dịch về quyền sử dụng đất nói riêng là một trong những biểu hiện của sự lệ thuộc và tuân thủ triệt để các điều kiện và nguyên tắc chung chặt chẽ của pháp luật. Theo đó, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Hợp đồng về quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản theo hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật này, pháp luật về đất đai và quy định khác của pháp luật có liên quan. Việc thực hiện hợp đồng về quyền sử dụng đất phải đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật về đất đai và quy định khác của pháp luật có liên quan”[1]. Về hình thức và hiệu lực của hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, Luật Đất đai năm 2013 quy định một cách trực tiếp rằng: “Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực...”[2]. Là một trong các giao dịch cơ bản, được thực hiện thường xuyên, chiếm tỷ lệ lớn trong các giao dịch về quyền sử dụng đất, được đại đa số các chủ thể, đặc biệt là các doanh nghiệp ưa chuộng, thế chấp quyền sử dụng đất cũng không nằm ngoài sự tuân thủ nghiêm túc các quy định nêu trên. Theo đó, hình thức pháp lý của giao dịch thế chấp quyền sử dụng đất là hợp đồng bằng văn bản. Cùng với đó, hợp đồng bắt buộc phải được công chứng hoặc chứng thực. Ngoài ra, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất còn bắt buộc phải thực hiện việc đăng ký và vào sổ địa chính[3].

Pháp luật về công chứng hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất bao gồm các quy định chung áp dụng cho hoạt động hành nghề công chứng như: Quy trình và thủ tục công chứng; phạm vi, thời gian, địa điểm công chứng; cách thức thực hiện văn bản công chứng... Trong lĩnh vực công chứng hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, có một số vấn đề trọng tâm sau đây:

Thứ nhất, về quyền lựa chọn cách thức xác lập và thực hiện hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất tại văn phòng công chứng

Theo quy định của Luật Công chứng năm 2014, các bên trong giao dịch thế chấp quyền sử dụng đất được quyền lựa chọn cách thức xác lập hợp đồng, bên thế chấp có thể tự mình dự thảo hợp đồng trên cơ sở pháp luật và những thỏa thuận, cam kết giữa bên thế chấp và bên nhận thế chấp. Văn phòng công chứng và công chứng viên giữ vai trò là người kiểm định tính hợp pháp của các cam kết, thỏa thuận đó[4]. Với việc được tự dự thảo hợp đồng, các bên tham gia giao dịch thế chấp quyền sử dụng đất có thể tự mình thể hiện một cách cụ thể, chi tiết, tỷ mỷ, thận trọng tất cả các điều khoản trên cơ sở thống nhất ý chí của cả hai bên, giảm được chi phí cho hoạt động công chứng. Tuy nhiên, trên thực tế, việc tự dự thảo hợp đồng công chứng thường chỉ được thực hiện đối với các tổ chức tín dụng lớn, có đội ngũ chuyên gia pháp chế giỏi, am tường pháp luật. Cùng với đó, các chủ thể thế chấp cũng phải thực sự hiểu biết pháp luật, hiểu được tất cả các quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ và nhận diện được những rủi ro có thể phát sinh khi ký kết và thực hiện hợp đồng. Giao dịch thế chấp quyền sử dụng đất được thiếp lập thường là những bạn hàng quen thuộc, có quan hệ lâu dài và uy tín, tin tưởng lẫn nhau.

Trong trường hợp bên thế chấp và bên nhận thế chấp không tự soạn thảo được hợp đồng thế chấp, thì có quyền yêu cầu công chứng viên soạn thảo hợp đồng thay mình. Trên cơ sở các thông tin, mục đích, yêu cầu và thỏa thuận cụ thể của các bên..., công chứng viên sẽ soạn thảo hợp đồng thay cho các bên tham gia giao dịch thế chấp[5]. Các bên giao dịch phải trả một khoản phí cho công soạn thảo hợp đồng cho công chứng viên và văn phòng công chứng. Ở cách thức thứ hai phổ biến và thường xuyên hơn trong thực tế, được áp dụng rộng rãi bởi hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất là hợp đồng mang nhiều yếu tố đặc thù và chịu sự điều chỉnh của nhiều quy định pháp luật nghiêm ngặt của các hoạt động tín dụng cho vay của ngân hàng, của các giới hạn và kiểm soát chặt chẽ của quyền sử dụng đất thế chấp. Bởi vậy, việc soạn thảo một hợp đồng vừa cụ thể, vừa chặt chẽ, vừa tuân thủ pháp luật, vừa thể hiện được sự hài hòa quyền và lợi ích của các bên, vừa có khả năng phòng ngừa tối đa rủi ro và thiệt hại cho các bên... thì việc lựa chọn các văn phòng công chứng chuyên nghiệp, có đội ngũ công chứng viên giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ, giàu kinh nghiệm sẽ là bài toán tối ưu cho các bên trong giao dịch thế chấp. Đặc biệt, đối với khách hàng là bên thế chấp - người sử dụng đất là các hộ gia đình, cá nhân ít hiểu biết pháp luật, bên nhận thế chấp không phải là các tổ chức tín dụng mà là tổ chức kinh tế, các cá nhân nhận thế chấp. Tuy nhiên, một vấn đề cần nhấn mạnh rằng, dù hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất được soạn thảo bởi các bên hay do công chứng viên soạn thảo thì yêu cầu bắt buộc đối với công chứng viên phải thực hiện đó là việc kiểm tra tính đầy đủ, hợp pháp của tất cả các thông tin, tài liệu được đính kèm cùng với hợp đồng thế chấp. Kiểm tra và xác minh về sự rõ ràng, trung thực và hợp pháp về những điều khoản trong hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và hoàn toàn có quyền yêu cầu các bên giải thích và làm rõ, sửa chữa hoặc bổ sung thêm nếu xét thấy các thông tin chưa đáp ứng tính chính xác và độ tin cậy. Công chứng viên cũng có quyền từ chối yêu cầu công chứng đối với các hợp đồng thế chấp trái pháp luật và đạo đức xã hội. Cùng với đó, trách nhiệm của công chứng viên phải hướng dẫn các bên trong giao dịch thế chấp đọc và hiểu rõ tất cả các điều khoản trong hợp đồng, đặc biệt là quyền và nghĩa vụ của các bên, hướng dẫn họ thực hiện theo đúng quy trình, thủ tục công chứng[6].

Thứ hai, về phạm vi công chứng hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất

Pháp luật hiện hành quy định, việc công chứng hợp đồng thế chấp bất động sản phải được thực hiện tại tổ chức hành nghề công chứng có trụ sở tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có bất động sản. Trường hợp một bất động sản đã được thế chấp để bảo đảm thực hiện một nghĩa vụ và hợp đồng thế chấp đã được công chứng mà sau đó được tiếp tục thế chấp để bảo đảm cho một nghĩa vụ khác trong phạm vi pháp luật cho phép thì các hợp đồng thế chấp tiếp theo phải được công chứng tại tổ chức hành nghề công chứng đã công chứng hợp đồng thế chấp lần đầu. Trường hợp tổ chức hành nghề công chứng đã thực hiện việc công chứng chấm dứt hoạt động, chuyển đổi, chuyển nhượng hoặc giải thể thì công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng đang lưu trữ hồ sơ công chứng hợp đồng thế chấp tiếp theo đó[7]. Quy định này cho thấy, nguyên tắc xác định thẩm quyền công chứng đối với hợp đồng thế chấp bất động sản nói chung và thế chấp quyền sử dụng đất nói riêng (ngay cả khi thế chấp bất động sản nhiều lần để vay vốn) là nơi có bất động sản (quyền sử dụng đất). Đây là quy định hợp lý nhằm bảo đảm cho việc kiểm tra và xác định tính hợp pháp của bất động sản thế chấp được dễ dàng, thuận lợi không chỉ dưới góc độ giấy tờ pháp lý, mà còn ở cả khía cạnh hiện trạng thực tế của bất động sản thế chấp, giúp cho việc định giá bất động sản được chính xác hơn, trên cơ sở đó xác định mức cho vay hợp lý hơn. Đây cũng là quy định nhằm phòng ngừa tốt hơn rủi ro cho bên nhận thế chấp.

2. Một số vướng mắc phát sinh từ hoạt động công chứng hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất

Pháp luật về công chứng hiện hành, bên cạnh việc tạo điều kiện và thúc đẩy hoạt động công chứng ngày càng chuyên nghiệp và hiệu quả, thì trên thực tế hiện nay, hoạt động công chứng cũng đang gặp phải những khó khăn, trở ngại nhất định. Nguyên nhân là do các quy định của pháp luật chung và pháp luật chuyên ngành liên quan tới hoạt động công chứng không thống nhất với nhau, nhiều quy định của luật chuyên ngành quy định không rõ ràng, cụ thể gây nên việc hiểu và giải thích pháp luật không giống nhau, từ đó, mỗi văn phòng công chứng, công chứng viên hành nghề ở mỗi địa bàn khác nhau thực hiện hoạt động công chứng khác nhau. Cụ thể:

Một là, hai quy trình công chứng, chứng thực và đăng ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật hiện nay có sự chồng chéo và trùng lắp, làm cho tiến trình xác lập giao dịch thế chấp bị kéo dài

Theo quy định của Luật Công chứng năm 2014, thì các cơ quan công chứng thực hiện cả chức năng công chứng hình thức và công chứng nội dung đối với các giao dịch dân sự, thương mại, nghĩa là, phải kiểm tra tất cả các điều kiện về chủ thể, về tài sản thế chấp và các điều kiện khác để giao dịch thế chấp quyền sử dụng đất được xác lập hợp pháp. Tuy nhiên, thủ tục này lại được xem xét lại một lần nữa khi các chủ thể thực hiện việc đăng ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất tại Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất, đây được coi là thủ tục bắt buộc và là điều kiện để xác định hiệu lực của hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai năm 2013[8]. Việc đặt ra vấn đề xem xét về nội dung và hình thức của hợp đồng tại Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất khi thực hiện đăng ký hợp đồng là không cần thiết và đã “lấn sân” sang hoạt động của văn phòng công chứng. Mặt khác, bản thân Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất cũng không có thẩm quyền để tuyên bố hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất đã được công chứng là vô hiệu. Bởi “hợp đồng, giao dịch được công chứng có giá trị chứng cứ; những tình tiết, sự kiện trong hợp đồng, giao dịch công chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu”[9]. Như vậy, nên chăng, pháp luật hiện hành cần bổ sung những quy định nhằm xác định rõ phạm vi, ranh giới thuộc thẩm quyền của Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất khi thực hiện hoạt động đăng ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất mà không quy định chung chung như hiện nay.

Hai là, về vấn đề thỏa thuận tài sản riêng của vợ, chồng đã và đang là hệ lụy cho sự áp dụng rất khác nhau về công chứng hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ở các địa phương

Tại khoản 4 Điều 98 Luật Đất đai năm 2013 quy định về nguyên tắc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ, chồng như sau: “Trường hợp quyền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là tài sản chung của vợ và chồng thì phải ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, trừ trường hợp vợ và chồng có thỏa thuận ghi tên một người”. Nếu chỉ dừng lại ở nguyên tắc quy định bắt buộc là quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ, chồng thì trên giấy chứng nhận phải thể hiện đầy đủ tên của cả vợ và chồng, đây là quy định đúng đắn nhằm bảo đảm quyền bình đẳng về tài sản vợ, chồng trong quan hệ hôn nhân. Tuy nhiên, việc quy định “trừ trường hợp vợ và chồng có thỏa thuận ghi tên một người” hiện đã và đang gây nhiều tranh cãi và suy luận trái chiều nhau như sau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng, thỏa thuận ghi tên một người trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ đơn giản là người vợ hoặc người chồng thay mặt người còn lại “đứng tên” trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và việc “đứng tên” này không bao hàm việc người “đứng tên” trên giấy có toàn quyền đối với quyền sử dụng đất này. Sau khi thỏa thuận “đứng tên” vợ hoặc chồng trên giấy chứng nhận thì quyền quản lý, khai thác và đặc biệt là quyền định đoạt đối với quyền sử dụng đất đó vẫn bắt buộc phải có sự đồng ý và nhất trí của cả vợ và chồng. Các giao dịch về quyền sử dụng đất vẫn phải có cả hai vợ chồng ký tên. Quan điểm này xuất phát từ tư duy cho rằng, quyền sử dụng đất là tài sản lớn, việc định đoạt đối với tài sản này có tác động và ảnh hưởng tới nơi ăn, chốn ở, kế mưu sinh của vợ chồng, vì vậy, việc định đoạt đối với tài sản này phải có sự thống nhất ý chí của cả vợ và chồng.

Quan điểm thứ hai cho rằng, thỏa thuận ghi tên một người vợ hoặc chồng trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn bao hàm quyền thỏa thuận giữa vợ và chồng về việc tách quyền sử dụng đất từ tài sản chung thành tài sản riêng của vợ hoặc chồng. Sau khi thỏa thuận chỉ thể hiện tên của một người, thì người có tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được toàn quyền quản lý, sử dụng và được toàn quyền định đoạt quyền sử dụng đất đó mà không cần thiết phải có sự đồng ý của người còn lại. Mọi giao dịch phát sinh từ quyền sử dụng đất đó chỉ cần chữ ký của người “đứng tên” trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đủ mà không cần phải có đầy đủ chữ ký của hai người. Quan điểm này cũng loại trừ trường hợp thỏa thuận của vợ, chồng từ tài sản chung trở thành tài sản riêng là quyền sử dụng đất phải không trái pháp luật, không nhằm che giấu hay trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với chủ thể khác. Quan điểm này bắt nguồn từ tư duy cho rằng, pháp luật hôn nhân và gia đình cho phép sáp nhập từ tài sản riêng của vợ hoặc chồng trở thành tài sản chung trong trường hợp có sự đồng thuận của vợ, chồng[10] thì đương nhiên không thể “cấm” vợ, chồng thỏa thuận tài sản chung của vợ chồng (trong đó có quyền sử dụng đất) trở thành tài sản riêng của vợ hoặc chồng. Mặt khác, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng thừa nhận quyền tài sản riêng của vợ, chồng không chỉ tạo ra trước thời kỳ hôn nhân, do được thừa kế, tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân, mà còn do sự thỏa thuận của họ về việc chia tài sản chung của vợ chồng thành tài sản riêng[11].

Quy định rất chung chung của khoản 4 Điều 98 Luật Đất đai năm 2013 đã xuất hiện hai luồng quan điểm nêu trên là hoàn toàn khó tránh khỏi. Với cách hiểu khác nhau về quy định này cũng đã và đang tạo ra cách thức áp dụng pháp luật trên thực tế cũng rất khác nhau, khi các văn phòng công chứng thực hiện việc công chứng đối với các giao dịch thế chấp quyền sử dụng đất. Theo đó, đa số các văn phòng khi công chứng các giao dịch về quyền sử dụng đất chỉ quan tâm, chú trọng tới ai là người có tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì người đó ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, trừ trường hợp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ gia đình (không ghi rõ bao gồm những thành viên nào) thì tổ chức hành nghề công chứng mới yêu cầu các thành viên trong hộ gia đình đủ 15 tuổi phải ký trên trong hợp đồng đồng thế chấp. Tuy nhiên, với trường hợp trên giấy chứng nhận đứng tên một người, đa số các văn phòng công chứng vẫn yêu cầu người “đứng tên” trên giấy chứng nhận phải chứng minh tài sản riêng hoặc nếu quyền sử dụng đất đó tạo ra trong thời kỳ hôn nhân mà đứng tên một người, thì phải có thỏa thuận tài sản riêng hoặc xác nhận tình trạng hôn nhân. Thực tế, một số văn phòng công chứng không yêu cầu thủ tục này mà cho rằng, khi pháp luật đã cho phép quyền thỏa thuận đứng tên một người trên giấy nghĩa là vợ chồng đã đồng thuận người đứng tên trên giấy được toàn quyền sở hữu, quản lý, sử dụng và định đoạt đối với quyền sử dụng đất đó. Vì vậy, họ hoàn toàn có quyền một mình đứng tên ký kết hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất mà không cần phải có ý kiến của người thứ ba nào khác.

Ba là, vấn đề phạm vi công chứng thế chấp bất động sản theo Luật Công chứng năm 2014 cũng đã và đang được “biến tướng” một cách rất linh hoạt trên thực tế

Như đã phân tích ở trên, công chứng hợp đồng thế chấp bất động sản (trong đó có quyền sử dụng đất) được thực hiện tại nơi có bất động sản thế chấp. Trong trường hợp vợ, chồng có hộ khẩu thường trú tại địa bàn không cùng với đất thế chấp mà trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ ghi tên một người hoặc người vợ hoặc người chồng do giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này được cấp trước ngày 01/7/2014 (thời điểm này Luật Đất đai năm 2013 chưa quy định quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ, chồng, thì trên giấy phải ghi đầy đủ tên của cả vợ và chồng), nhưng thực chất quyền sử dụng đất này là tài sản chung của vợ, chồng. Trong trường hợp này, văn phòng công chứng yêu cầu cả vợ và chồng phải ký tên trong hợp đồng thế chấp thì mới được công chứng. Tuy nhiên, vì bất động sản ở xa nơi ở của vợ, chồng, việc đi lại công chứng tốn kém và họ không thể sắp xếp được thời gian, nên vợ và chồng thỏa thuận xác nhận tài sản riêng của người “đứng tên” trên giấy chứng nhận để tiết kiệm thời gian và chi phí cho việc công chứng. Song, với quy định về phạm vi công chứng các hợp đồng, giao dịch liên quan đến bất động sản rằng: “Công chứng viên của tổ chức hành, nghề công chứng chỉ được công chứng hợp đồng, giao dịch về bất động sản trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi tổ chức hành nghề công chứng đặt trụ sở”[12], thì việc thỏa thuận tài sản riêng của vợ, chồng cũng không thể thực hiện được tại nơi cư trú mà không phải là nơi có bất động sản, theo đó, ý định về việc thuận lợi, tiết kiệm chi phí và thời gian sẽ không đạt được. Và để hiện thực hóa được mong muốn này, các văn phòng công chứng đã chỉ cho người sử dụng đất (bên thế chấp) thực hiện một dạng thỏa thuận, cam kết theo kiểu “đi đường vòng”. Cụ thể, thay vì không thể thỏa thuận trực tiếp tài sản riêng của người đứng tên trên giấy để người đó một mình ký hợp đồng thế chấp, vợ hoặc chồng thỏa thuận nguồn gốc tiền để có được mảnh đất hiện mang đi thế chấp là do tiền riêng có của người đứng tên trên giấy, vì vậy, vợ hoặc chồng còn lại không “đứng tên” trên giấy không có bất kỳ quyền gì đối với tài sản đó. Với sự thỏa thuận nguồn tiền để có được bất động sản thế chấp này, chúng hoàn toàn thoát ly khỏi quy định ràng buộc về địa điểm nơi có bất động sản thế chấp. Và theo đó, văn phòng công chứng hoàn toàn có thể công chứng được xác nhận tài sản riêng giữa vợ và chồng mà không phụ thuộc vào bất động sản đó ở đâu. Với thỏa thuận này thì một người đứng tên trên giấy chứng nhận hoàn toàn có quyền ký hợp đồng thế chấp. Cần phải khẳng định rằng, việc xác nhận theo đường vòng nêu trên hoàn toàn không có bất kỳ quy định nào của pháp luật hiện hành quy định một cách trực tiếp mà chủ yếu các tổ chức hành nghề công chứng thực hiện trên cơ sở “được làm những gì mà pháp luật không cấm hoặc không quy định nhưng có các quy định gián tiếp khác để minh chứng”. Tuy nhiên, vấn đề này không phải địa phương nào, tổ chức hành nghề công chứng nào cũng thống nhất thực hiện mà đây là hoạt động tùy nghi đối với mỗi văn phòng công chứng.

Với những vướng mắc nêu trên, thiết nghĩ cần phải sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật hiện hành và cơ bản là cần quy định thống nhất giữa pháp luật chung và pháp luật chuyên ngành liên quan trực tiếp đến thế chấp quyền sử dụng đất để hoạt động công chứng quyền sử dụng đất được thực hiện thuận lợi hơn.

PGS.TS. Nguyễn Thị Nga
ThS. Hoàng Minh Chiến
Đại học Luật Hà Nội



[1]. Điều 502 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[2]. Khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai năm 2013.

[3]. Khoản 3 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Việc thế chấp quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính”.

[4]. Điều 40 Luật Công chứng năm 2014.

[5]. Điều 41 Luật Công chứng năm 2014.

[6]. Khoản 4, 5, 6, 7 Điều 40 và khoản 3 Điều 41 Luật Công chứng năm 2014.

[7]. Điều 54 Luật Công chứng năm 2014.

[8]. Khoản 3 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013.

[9]. Khoản 3 Điều 5 Luật Công chứng năm 2014.

[10]. Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[11]. Điều 38, 39, 40 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[12]. Điều 42 Luật Công chứng năm 2014.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: