Thứ năm 25/06/2026 15:04
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật thuộc trách nhiệm của Bộ Tư pháp

Tóm tắt: Bài viết đánh giá thực trạng công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật thuộc trách nhiệm của Bộ Tư pháp trong thời gian qua và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện trách nhiệm này.

Abstract: The article evaluates the status of the legal document review work under the responsibility of the Ministry of Justice and proposes some solutions to improve the efficiency of this responsibility.

1. Kết quả đạt được

Nội dung kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) là việc xem xét, đánh giá và kết luận về tính hợp hiến, hợp pháp của văn bản. Theo đó, văn bản QPPL hợp hiến, hợp pháp là văn bản bảo đảm đủ các điều kiện: Văn bản được ban hành đúng căn cứ pháp lý; văn bản được ban hành đúng thẩm quyền; nội dung của văn bản phải phù hợp với quy định của pháp luật; văn bản được ban hành đúng trình tự, thủ tục, thể thức và kỹ thuật trình bày theo quy định của pháp luật. Trên cơ sở đó, Bộ Tư pháp đã tập trung thực hiện chức năng kiểm tra văn bản QPPL theo các nội dung trên và đạt được những kết quả như sau:

Thứ nhất, về số lượng văn bản được kiểm tra, kiến nghị xử lý

Sau Hội nghị tổng kết 10 năm công tác kiểm tra, xử lý văn bản QPPL, từ năm 2014 đến nay (tháng 6/2017), Bộ Tư pháp tiếp tục chú trọng và sử dụng linh hoạt những phương thức kiểm tra văn bản QPPL. Theo đó, với việc kiểm tra văn bản theo thẩm quyền, Bộ Tư pháp đã thực hiện đầy đủ các hình thức: Kiểm tra văn bản do các cơ quan ban hành gửi đến, kiểm tra theo địa bàn, kiểm tra theo chuyên đề, kiểm tra theo các nguồn thông tin1. Qua kết quả rà soát, thống kê cho thấy, Bộ Tư pháp đã kiểm tra được một số lượng lớn với hơn 10.000 văn bản, chiếm gần 50% tổng số văn bản được các Bộ, ngành trung ương kiểm tra (23.959 văn bản); phát hiện và kiến nghị xử lý đối với 320 văn bản sai về nội dung, thẩm quyền ban hành và nhiều văn bản sai sót về thể thức, kỹ thuật trình bày2. Bên cạnh đó, Bộ Tư pháp đã chú trọng các giải pháp về bảo đảm sự gắn kết chặt chẽ, sử dụng có hiệu quả các công cụ phổ biến, giáo dục pháp luật, kiểm tra văn bản QPPL, kiểm soát thủ tục hành chính và theo dõi thi hành pháp luật. Kết quả là, Bộ Tư pháp đã chủ động tự kiểm tra được 66 văn bản QPPL do Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành hoặc liên tịch ban hành. Qua kiểm tra, bước đầu không phát hiện văn bản nào có nội dung không phù hợp với pháp luật hiện hành.

Thứ hai, về chất lượng của hoạt động kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật

Với kết quả kiểm tra, phát hiện số văn bản QPPL có dấu hiệu vi phạm các điều kiện về tính hợp hiến, hợp pháp như đã nêu trên, Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật đã kịp thời “tuýt còi” nhiều văn bản thông qua việc ra thông báo/kết luận kiểm tra để kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định, nhất là các quy định trái với Hiến pháp, pháp luật về bảo đảm quyền con người, quyền công dân, gây tác động tiêu cực trong dư luận xã hội như: Quy định buộc người dân chuyển đổi giấy phép lái xe từ giấy bìa sang vật liệu PET tại Thông tư số 58/2015/TT-BGTVT ngày 20/10/2015 của Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải; quy định về việc thu lệ phí cấp căn cước công dân tại Thông tư số 256/2016/TT-BTC ngày 11/11/2016 của Bộ trưởng Bộ Tài chính... Ngoài ra, từ công tác kiểm tra, Bộ Tư pháp còn phát hiện và kiến nghị xử lý một số văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ có quy định không phù hợp như: Nghị định số 71/2012/NĐ-CP ngày 19/9/2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 34/2010/NĐ-CP ngày 02/4/2010 của Chính phủ có một số quy định không hợp lý về xử phạt đối với hành vi không chuyển quyền sở hữu phương tiện giao thông... Nhìn chung, các văn bản này đã được cơ quan/người có thẩm quyền ban hành xử lý theo quy định. Việc kiểm tra, phát hiện chính xác nội dung trái pháp luật và có ý kiến đề nghị xử lý các văn bản trên theo đúng thẩm quyền của Bộ Tư pháp đã được dư luận, báo chí hoan nghênh, qua đó, góp phần nâng cao chất lượng xây dựng và hoàn thiện thể chế ở nước ta hiện nay.

Thứ ba, hoạt động kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật được Bộ Tư pháp thực hiện có trọng tâm, trọng điểm, nhất là lĩnh vực, văn bản có biểu hiện lợi ích cục bộ, lợi ích nhóm, lĩnh vực pháp luật cần ưu tiên hoàn thiện thể chế

Thực hiện chương trình, kế hoạch công tác của Bộ, ngành, kế hoạch kiểm tra văn bản những năm qua được Bộ trưởng Bộ Tư pháp phê duyệt đã bước đầu xác định được những lĩnh vực trọng tâm gắn với yêu cầu thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; chú trọng các lĩnh vực về bảo vệ quyền con người, quyền công dân, hoàn thiện thể chế thị trường, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh. Theo đó, năm 2015 tập trung kiểm tra các lĩnh vực chống buôn lậu, gian lận thương mại, làm hàng giả, kinh doanh trái phép; năm 2016 tập trung các lĩnh vực nông nghiệp, phát triển nông thôn, văn hóa, thể thao, du lịch và năm 2017 tập trung kiểm tra lĩnh vực giao thông vận tải, lao động, thương binh và xã hội.

Thứ tư, hoạt động kiểm tra văn bản được đội ngũ công chức kiểm tra thuộc Bộ Tư pháp và cộng tác viên kiểm tra thực hiện cơ bản đúng nguyên tắc, nội dung, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật

Nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả các lĩnh vực công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, nhất là thực hiện tốt vai trò đầu mối trong tổ chức triển khai đồng bộ, hiệu quả hoạt động kiểm tra văn bản trong cả nước; góp phần tăng cường năng lực hệ thống để kiểm soát chủ động, có chiều sâu về tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất, đồng bộ của văn bản QPPL, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Quyết định số 1331/QĐ-BTP ngày 20/6/2016 phê duyệt Đề án đổi mới tổ chức và hoạt động của Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật và Quyết định số 2038/QĐ-BTP ngày 05/10/2016 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật (thay thế Quyết định số 2929/QĐ-BTP ngày 27/11/2013)3. Nhìn chung, đội ngũ công chức của Cục đều được đào tạo cơ bản về pháp luật, có trình độ từ cử nhân Luật trở lên. Công tác kiểm tra văn bản đã được quan tâm bố trí biên chế để thực hiện nhiệm vụ được giao (trong năm 2016 đã thực hiện đầy đủ 35/35 biên chế, riêng công tác kiểm tra văn bản, ngoài các đồng chí Phó Cục trưởng phụ trách lĩnh vực, Cục đã bố trí 17 biên chế thuộc các Phòng kiểm tra). Đội ngũ cộng tác viên làm công tác kiểm tra văn bản đã được xây dựng với 87 cộng tác viên và đã phát huy hiệu quả nhất định. Quy trình kiểm tra văn bản QPPPL tại Bộ Tư pháp bước đầu đã được quy định.

Kết quả công tác kiểm tra văn bản thuộc thẩm quyền, trách nhiệm của Bộ Tư pháp đã góp phần quan trọng giúp công tác kiểm tra bản của các Bộ, ngành, địa phương thời gian qua đạt nhiều kết quả tích cực, thể hiện qua nhận thức của nhiều Bộ, ngành, địa phương về bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của văn bản dần được nâng lên; việc phát hiện, xử lý nhiều văn bản có nội dung trái pháp luật đã góp phần bảo đảm kỷ cương trong xây dựng, ban hành văn bản, bảo đảm chất lượng của hệ thống pháp luật. Công tác kiểm tra văn bản của các Bộ, ngành, địa phương từng bước có sự gắn kết với công tác xây dựng và theo dõi thi hành pháp luật; việc tập trung các nhiệm vụ thẩm định, kiểm soát thủ tục hành chính, kiểm tra văn bản và theo dõi thi hành pháp luật về một đầu mối thống nhất là tổ chức pháp chế của các Bộ, cơ quan ngang Bộ đã tạo nên sự gắn kết giữa công tác tiền kiểm với công tác hậu kiểm, góp phần từng bước nâng cao chất lượng của văn bản quy định chi tiết, khả năng phát hiện sai sót và phản ứng chính sách kịp thời hơn.

2. Những hạn chế và nguyên nhân

Trong thời gian qua, công tác kiểm tra văn bản QPPL vẫn còn những hạn chế về chất lượng công tác kiểm tra văn bản, về quản lý nhà nước và thực hiện vai trò đầu mối của Bộ Tư pháp trong hệ thống cơ quan kiểm tra văn bản QPPL. Bộ Tư pháp chưa thể phát huy hết được khả năng kiểm tra văn bản QPPL thuộc trách nhiệm của mình như kiểm tra chưa đầy đủ, kịp thời văn bản thuộc thẩm quyền kiểm tra, thể hiện ở tỷ lệ văn bản được kiểm tra còn thấp so với văn bản tiếp nhận để kiểm tra; việc phát hiện văn bản có nội dung trái pháp luật chưa kịp thời dẫn đến có trường hợp cơ quan thông tấn, báo chí phát hiện, nêu vấn đề trước hay nói cách khác là cơ quan có thẩm quyền kiểm tra văn bản “theo sau” các phương tiện truyền thông; việc xử lý và theo dõi, đôn đốc xử lý văn bản trái pháp luật chưa hiệu quả, chưa quyết liệt, chưa “đeo bám” đến cùng, dẫn đến việc xử lý không đúng hình thức, mang tính “đối phó”, không bảo đảm thời hạn, thậm chí không xử lý văn bản trái pháp luật; chưa thực sự gắn kết chặt chẽ hoạt động kiểm tra với các hoạt động khác có liên quan trong chu trình xây dựng, ban hành và tổ chức thi hành pháp luật; còn chưa thực sự làm tốt nhiệm vụ của cơ quan đầu mối giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ triển khai đồng bộ công tác kiểm tra văn bản trong cả nước…

Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trên có thể chỉ ra là:

Thứ nhất, về thể chế

- Bộ Tư pháp vẫn chưa xây dựng được Bộ tiêu chí về chất lượng kiểm tra văn bản; việc thu thập, cập nhật, quản lý văn bản thuộc thẩm quyền, trách nhiệm kiểm tra còn thủ công, thụ động, dẫn đến không nắm được đầy đủ, kịp thời văn bản sau khi ban hành, nhiều trường hợp bị động khi có thông tin phản ánh về văn bản trái pháp luật; chưa xác lập được mối quan hệ phối hợp thực chất, hiệu quả giữa đơn vị đầu mối là Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật với tổ chức pháp chế các Bộ, ngành, tư pháp địa phương và các đơn vị thuộc Bộ Tư pháp có liên quan.

- Thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ Tư pháp trong việc xử lý văn bản trái pháp luật chưa thực sự tương xứng với chức năng, nhiệm vụ được giao, chỉ dừng ở mức độ “kiến nghị”, “đề nghị” mà không có thẩm quyền gì đối với “số phận” pháp lý của văn bản trái pháp luật. Đáng lưu ý là Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (khoản 2 Điều 166) và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP (Điều 119) đã không quy định thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về đình chỉ văn bản QPPL trái pháp luật của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Thứ hai, về tổ chức, triển khai thực hiện

- Kiểm tra văn bản là công việc khó, tiềm ẩn nhiều vấn đề “nhạy cảm” đòi hỏi kinh nghiệm, kiến thức chuyên môn sâu về pháp luật và kinh tế, xã hội, bản lĩnh nghề nghiệp, trong khi đó điều kiện bảo đảm chưa tương xứng, như là: Đội ngũ công chức làm công tác này còn nhiều hạn chế về chuyên môn, đặc biệt là kiến thức tổng hợp và chuyên ngành ngoài kiến thức pháp lý, kinh nghiệm còn hạn chế; chưa hình thành, phát triển được đội ngũ cộng tác viên là các chuyên gia, nhà khoa học, người có kinh nghiệm, chuyên môn sâu về pháp luật và các lĩnh vực liên quan đến kinh tế, xã hội tham gia hoạt động kiểm tra; kinh phí phục vụ cho công tác này còn hạn chế.

- Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác kiểm tra văn bản còn chậm, kém hiệu quả, chưa tương xứng với tiềm năng. Hệ thống cơ sở dữ liệu phục vụ công tác kiểm tra chậm được triển khai xây dựng theo hướng đáp ứng đầy đủ thông tin; chưa sử dụng hiệu quả Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật, Công báo điện tử trong công tác kiểm tra văn bản.

- Văn bản do các Bộ, ngành, địa phương ban hành có xu hướng tăng trong khi năng lực của đội ngũ công chức soạn thảo văn bản còn hạn chế, dẫn đến văn bản trái pháp luật có xu hướng tăng, nội dung sai phạm phức tạp. Nhiều Bộ, ngành, địa phương chấp hành chưa nghiêm việc gửi văn bản sau khi ban hành cho Bộ Tư pháp để kiểm tra, trong khi quy định hiện hành chưa có biện pháp xử lý cụ thể đối với việc không gửi văn bản đến cơ quan có thẩm quyền kiểm tra; chưa quy định về thời gian hoặc thời điểm văn bản được kiểm tra xong kể từ ngày nhận được văn bản.

- Lãnh đạo nhiều Bộ, ngành, địa phương chưa quan tâm thỏa đáng, quyết tâm chính trị chưa cao trong việc chỉ đạo, triển khai công tác kiểm tra văn bản. Sở Tư pháp nhiều địa phương chưa có vị thế xứng đáng, “chỗ dựa” vững vàng, chưa được lãnh đạo địa phương thực sự tạo điều kiện, khích lệ trong công tác kiểm tra văn bản, nhất là tự kiểm tra, phát hiện và kiến nghị xử lý văn bản trái pháp luật của địa phương mình.

3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện trách nhiệm của Bộ Tư pháp trong việc kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật

Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện thể chế về kiểm tra văn bản QPPL. Nghiên cứu, bổ sung thẩm quyền kiểm tra, xử lý văn bản QPPL của Bộ Tư pháp theo hướng tăng thẩm quyền cho Bộ trưởng Bộ Tư pháp trong tham mưu, giúp Thủ tướng Chính phủ xử lý văn bản trái pháp luật và giao Bộ Tư pháp chủ trì, kiểm tra, kiến nghị xử lý văn bản QPPL của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; quy định cụ thể về thời hạn kiểm tra văn bản QPPL để văn bản có nội dung trái pháp luật không có điều kiện phát sinh hiệu lực trên thực tiễn và “làm mưa làm gió” trong đời sống kinh tế - xã hội; ban hành văn bản quy định cụ thể việc xem xét, xử lý trách nhiệm đối với người, cơ quan ban hành văn bản trái pháp luật và các hành vi vi phạm trong hoạt động kiểm tra văn bản QPPL; nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung quy định về kinh phí phục vụ công tác kiểm tra văn bản QPPL và khẩn trương xây dựng, ban hành Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng công tác kiểm tra văn bản QPPL.

Thứ hai, tăng cường theo dõi, đôn đốc, hướng dẫn, kiểm tra các Bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện đồng bộ công tác kiểm tra văn bản QPPL trong toàn bộ hệ thống cơ quan kiểm tra văn bản của cả nước với vai trò đầu mối mà hạt nhân tham mưu, triển khai thực hiện chính là Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật trong việc kết nối hệ thống cơ quan kiểm tra văn bản của cả nước tại các Bộ, cơ quan ngang Bộ (tổ chức pháp chế) và địa phương (Sở Tư pháp). Đẩy mạnh thông tin về kết quả kiểm tra, xử lý văn bản QPPL (nhất là những văn bản QPPL trái pháp luật liên quan đến người dân, doanh nghiệp đã được thông báo/kết luận kiểm tra nhưng chưa được xử lý) thuộc trách nhiệm của Bộ Tư pháp nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các Bộ, ngành, cơ quan ban hành văn bản.

Thứ ba, xây dựng và thực hiện tốt công tác phối hợp giữa các đơn vị thuộc Bộ Tư pháp và với các Bộ, ngành, địa phương trong hoạt động kiểm tra văn bản QPPL: Giữa Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật và các cơ quan, đơn vị có liên quan cần có sự phối hợp chặt chẽ, xác định rõ nội dung, chia sẻ thông tin kịp thời trong công tác kiểm tra văn bản: Phối hợp kiểm tra văn bản, thẩm tra kết quả kiểm tra, tiến hành các hoạt động nhằm tham mưu cho cơ quan, người có thẩm quyền xử lý văn bản trái pháp luật... thể hiện ở phương thức làm việc giữa các bên nhằm đạt kết quả tốt nhất, không rườm rà về thủ tục nhưng cũng không vi phạm pháp luật, bảo đảm tạo điều kiện thuận lợi vì lợi ích chung. Bởi thực hiện cơ chế phối hợp giữa các cơ quan có liên quan là một trong những nguyên tắc của hoạt động kiểm soát chất lượng văn bản QPPL nói chung và kiểm tra văn bản QPPL nói riêng.

Thứ tư, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức, phát triển đội ngũ cộng tác viên kiểm tra văn bản QPPL thuộc Bộ Tư pháp gắn với yêu cầu phân công công chức chuyên quản lĩnh vực về kiểm tra văn bản theo chương trình, kế hoạch hàng năm; định hướng, tạo điều kiện để công chức, cộng tác viên kiểm tra văn bản tích lũy kiến thức, kinh nghiệm chuyên sâu theo lĩnh vực pháp luật, và kiến thức chuyên môn khác ngoài luật (như kinh tế, tài chính, quản lý hành chính công...). Bên cạnh đó, nhằm thu hút và tổ chức, quản lý đội ngũ cộng tác viên, Bộ Tư pháp cần khẩn trương hoàn thiện và ban hành Quy chế quản lý, sử dụng đội ngũ cộng tác viên kiểm tra văn bản của Bộ Tư pháp, trong đó có các quy định cụ thể về tài chính, cơ chế giao văn bản, nhận kết quả kiểm tra, xác định rõ quyền và nghĩa vụ của cộng tác viên…

Thứ năm, cần duy trì, tăng cường hơn nữa việc tiếp nhận thông tin từ các nguồn tin; bảo đảm kinh phí và trang thiết bị làm việc; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong việc kiểm tra văn bản QPPL thông qua việc xây dựng vận hành, sử dụng hiệu quả Cơ sở dữ liệu phục vụ công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL; đôn đốc sát sao các Bộ, ngành, chính quyền cấp tỉnh cập nhật kịp thời, đầy đủ văn bản QPPL vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật theo quy định tại Nghị định số 52/2015/NĐ-CP ngày 28/5/2015 của Chính phủ; khai thác hiệu quả tiện ích của Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật, kết hợp với Công báo điện tử để cập nhật và thực hiện kiểm tra kịp thời, tiến tới thực hiện việc kiểm tra văn bản hoàn toàn từ nguồn văn bản trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật; sử dụng chữ ký điện tử để xác nhận văn bản đã kiểm tra, công khai việc đã kiểm tra văn bản bằng hình thức tích hợp vào một trường thông tin của văn bản trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật.

Nguyễn Thị Cẩm Tú

Bộ Tư pháp

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1111/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026 - 2030 (Kế hoạch), đánh dấu bước triển khai quan trọng Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 130/2025/QH15 (Luật năm 2025) được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 (ngày 10/12/2025), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 gồm 11 Chương và 107 Điều quy định về hoạt động hàng không dân dụng, bao gồm các quy định về tàu bay, cảng hàng không, nhân viên hàng không, hoạt động bay, vận tải hàng không thương mại, hàng không chuyên dùng, hàng không chung, an toàn hàng không, an ninh hàng không, trách nhiệm dân sự và các hoạt động khác có liên quan đến hàng không dân dụng.
Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Quy định mới tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 49/2026/NĐ-CP với cơ chế đồng thuận trên 75% được kỳ vọng khơi thông hàng nghìn dự án, sẽ tháo gỡ một trong những vướng mắc lớn nhất trong quá trình triển khai các dự án có sử dụng đất.
Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Ngày 10/12/2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 chính thức thông qua Luật số 132/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026).
Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 thay thế Pháp lệnh Dân số số 06/2004/PL-UBTVQH11 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15). Một trong những thay đổi căn bản của Luật Dân số năm 2025 là chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Những nội dung liên quan đến dân số và phát triển đã được thể hiện trong việc hướng tới giải quyết đồng bộ các vấn đề về quy mô dân số, cơ cấu dân số, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.
Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.

Theo dõi chúng tôi trên: