Thứ năm 12/03/2026 23:30
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Công tác văn phòng trong hệ thống thi hành án dân sự gắn với nhiệm vụ về cải cách hành chính

Công tác văn phòng trong hệ thống thi hành án dân sự gắn với nhiệm vụ về cải cách hành chính

1. Quá trình phát triển của công tác văn phòng trong Hệ thống Thi hành án dân sự

Công tác văn phòng là công tác quan trọng, không thể thiếu trong hoạt động của mỗi cơ quan, tổ chức. Các cơ quan, tổ chức muốn thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, muốn công tác quản lý, điều hành công việc của cơ quan, tổ chức mình được thông suốt, chất lượng và hiệu quả thì khâu đầu tiên là phải tổ chức tốt công tác văn phòng, bảo đảm các nhiệm vụ của công tác văn phòng được tổ chức khoa học, trật tự, nền nếp[1]. Trong tiến trình phát triển của công tác thi hành án dân sự (THADS), nhất là từ Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004, công tác văn phòng đã từng bước được quan tâm xây dựng, phù hợp với cơ cấu tổ chức của cơ quan THADS.

Giai đoạn 1945 - 1993, hoạt động thi hành án chưa được tổ chức thành hệ thống cơ quan mà chủ yếu do các chức danh tư pháp thực hiện, cụ thể là Thừa phát lại (1945 - 23/11/1946), Ban Tư pháp xã và Thừa phát lại (24/11/1946 - 4/1950), Thẩm phán huyện (5/1950 - 7/1960), nhân viên chấp hành án, chấp hành viên tại các Tòa án nhân dân địa phương (20/7/1960 - 12/7/1981)[2]; chấp hành viên, cán bộ thi hành án tại các Tòa án địa phương (1981 - 1993)[3]. Do đó, chưa có quy định, thiết chế cụ thể, riêng biệt cho công tác văn phòng trong lĩnh vực THADS.

Giai đoạn 1993 - 2008, THADS đã chuyển từ một bộ phận cấu thành của Tòa án sang một bộ phận cấu thành của cơ quan hành chính (từ Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1993) và từng bước được tổ chức tập trung, thống nhất, theo ngành dọc từ trung ương đến địa phương (từ Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004)[4]. Triển khai Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004, Chính phủ ban hành Nghị định số 50/2005/NĐ-CP ngày 11/4/2005 về cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự và cán bộ, công chức làm công tác thi hành án dân sự[5]. Theo đó, các cơ quan THADS gồm Cục THADS thuộc Bộ Tư pháp, THADS cấp tỉnh và THADS cấp huyện. Ngày 29/3/2007, Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ ban hành Thông tư liên tịch số 01/2007/TTLT-BTP-BNV hướng dẫn về tổ chức, cán bộ của thi hành án dân sự tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (Thông tư liên tịch số 01/2007/TTLT-BTP-BNV). THADS cấp tỉnh có thể thành lập từ 02 - 03 phòng trực thuộc để giúp Trưởng THADS cấp tỉnh thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đơn vị mình; riêng THADS Thành phố Hà Nội và THADS Thành phố Hồ Chí Minh có thể thành lập tối đa không quá 05 phòng. Trong số các phòng chuyên môn, có Phòng tổ chức, hành chính giúp Trưởng THADS sự cấp tỉnh thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn có liên quan đến công tác tổ chức cán bộ, hành chính quản trị, kế toán - tài vụ, quản lý tang tài vật, thống kê, lưu trữ, thi đua, khen thưởng và các nhiệm vụ khác theo sự phân công của Trưởng THADS cấp tỉnh (điểm a khoản 3 mục I Thông tư). Như vậy, có thể nói, Thông tư liên tịch số 01/2007/TTLT-BTP-BNV là văn bản đầu tiên quy định cụ thể đơn vị chuyên môn thực hiện công tác văn phòng trong hệ thống các cơ quan THADS[6].

Giai đoạn từ năm 2008 đến nay, Hệ thống THADS đã được nâng lên một vị thế mới, ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ được giao. Cụ thể, Cục THADS thuộc Bộ Tư pháp được nâng cấp lên Tổng cục THADS; THADS cấp tỉnh được nâng cấp lên Cục THADS trực thuộc Tổng cục THADS và THADS cấp huyện được nâng cấp lên Chi cục THADS trực thuộc Cục THADS cấp tỉnh. Công tác văn phòng tiếp tục được quan tâm, chú trọng. Điểm a khoản 1 Điều 5 Nghị định số 74/2009/NĐ-CP ngày 09/9/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự về cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự và công chức làm công tác thi hành án dân sự (Nghị định số 74/2009/NĐ-CP) quy định, Văn phòng là một đơn vị trực thuộc Tổng cục THADS. Năm 2012, để tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy và chuẩn hóa các chức danh lãnh đạo các cơ quan THADS địa phương theo quy định của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 và Nghị định số 74/2009/NĐ-CP, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành hai văn bản quan trọng là Quyết định số 2785/QĐ-BTP ngày 25/10/2012 phê duyệt cơ cấu tổ chức Cục Thi hành án dân sự, số lượng Lãnh đạo Cục Thi hành án dân sự, Lãnh đạo Phòng chuyên môn thuộc Cục Thi hành án dân sự và Lãnh đạo Chi cục Thi hành án dân sự, Thông tư số 13/2013/TT-BTP ngày 13/9/2013 quy định tiêu chuẩn chức danh công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý thuộc Cục Thi hành án dân sự và Chi cục Thi hành án dân sự. Theo đó, các Cục THADS đều có văn phòng cùng với các phòng chuyên môn về tổ chức cán bộ, nghiệp vụ và tổ chức THADS, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Tiếp đó, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 61/2014/QĐ-TTg ngày 30/10/2014 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Thi hành án dân sự trực thuộc Bộ Tư pháp (Quyết định số 61/2014/QĐ-TTg), Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự thay thế Nghị định số 74/2009/NĐ-CP, tuy nhiên, quy định về văn phòng trong cơ cấu tổ chức của Tổng cục THADS và Cục THADS cấp tỉnh vẫn được giữ nguyên.

2. Chức năng, nhiệm vụ của Văn phòng trong lĩnh vực cải cách hành chính

Công tác văn phòng thời gian qua đã được quan tâm triển khai, từng bước đi vào nền nếp, tính chuyên môn hóa ngày càng được nâng cao, góp phần phục vụ có hiệu quả cho công tác chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo các cơ quan, đơn vị nói chung và thực hiện một số nhiệm vụ cải cách hành chính (CCHC) nói riêng.

2.1. Chức năng, nhiệm vụ của Văn phòng trong lĩnh vực cải cách hành chính

Xác định CCHC là nhiệm vụ quan trọng, Tổng cục trưởng Tổng cục THADS đã phân công đơn vị chuyên môn thuộc Tổng cục chủ trì tham mưu. Từ năm 2010 đến năm 2015, nhiệm vụ này được phân công cho Vụ Nghiệp vụ[7], sau đó được chuyển sang Vụ Quản lý thi hành án hành chính (Vụ Nghiệp vụ 3) khi Vụ này được thành lập[8]. Văn phòng Tổng cục phối hợp với đơn vị chủ trì trong các nhiệm vụ của Hệ thống THADS và thực hiện nhiệm vụ CCHC trong lĩnh vực văn phòng[9]. Tuy nhiên, sau quá trình thực hiện các nhiệm vụ được giao về thi hành án hành chính, bồi thường nhà nước, khối lượng công việc chuyên môn lớn nên Vụ Nghiệp vụ 3 đã đề nghị chuyển công tác về CCHC sang Văn phòng. Theo đó, từ năm 2016 đến năm 2018, Văn phòng Tổng cục lần lượt được giao chủ trì nhiệm vụ về xây dựng, áp dụng, công bố, duy trì, cải tiến Hệ thống quản lý chất lượng theo Tiêu chuẩn quốc gia và thực hiện công tác kiểm soát thủ tục hành chính (TTHC) thuộc trách nhiệm của đơn vị và Tổng cục; theo dõi, tổng hợp, báo cáo nhiệm vụ CCHC của Tổng cục và Hệ thống THADS[10]. Việc giao hai nhiệm vụ này về Văn phòng Tổng cục về cơ bản là phù hợp, thống nhất với chức năng, nhiệm vụ của Văn phòng Bộ Tư pháp[11].

Liên quan đến CCHC, Văn phòng Cục và Lãnh đạo, công chức phụ trách công tác văn phòng tại Chi cục thực hiện nhiệm vụ theo dõi, tổng hợp, báo cáo việc thực hiện nhiệm vụ CCHC; đề xuất và tổ chức thực hiện kế hoạch CCHC của cơ quan theo chương trình, kế hoạch CCHC nhà nước của Bộ Tư pháp, Tổng cục và Cục[12].

2.2. Một số kết quả về công tác cải cách hành chính trong thời gian qua

Trong giai đoạn từ năm 2010 đến nay, công tác CCHC được thực hiện theo hai văn bản:

- Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 của Chính phủ ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020 (Nghị quyết số 30c/NQ-CP), với sáu nhiệm vụ: (i) Cải cách thể chế; (ii) Cải cách TTHC; (iii) Cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước; (iv) Cải cách tài chính công; (v) Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; (vi) Hiện đại hóa hành chính.

- Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 15/7/2021 của Chính phủ ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021 - 2030, kế thừa, phát triển các nhiệm vụ (i), (iv) Nghị quyết số 30c/NQ-CP và nâng cao thêm một bước hai nhiệm vụ về cải cách chế độ công vụ và xây dựng, phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số. Như vậy, công tác CCHC bao trùm lên nhiều lĩnh vực, liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của hầu hết các cơ quan, đơn vị. Triển khai các nghị quyết nêu trên và các quyết định, chỉ đạo của Bộ Tư pháp, công tác CCHC do cơ quan văn phòng trong hệ thống THADS thời gian qua đạt được một số kết quả nổi bật như sau:

Thứ nhất, về công tác chỉ đạo, điều hành, hàng năm, Văn phòng Tổng cục tham mưu Lãnh đạo đơn vị xây dựng Kế hoạch CCHC của Hệ thống THADS; trên cơ sở đó, các Cục THADS địa phương quán triệt và triển khai thực hiện các nhiệm vụ theo Kế hoạch. Trong quá trình tham mưu công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành, các cơ quan THADS đã quán triệt, triển khai thực hiện các văn bản, chỉ đạo về CCHC của Chính phủ, Bộ Tư pháp, Tổng cục THADS; tuyên truyền về CCHC trong hoạt động của các cơ quan thuộc Hệ thống THADS, gắn việc thực hiện nhiệm vụ CCHC với công tác thi đua, khen thưởng.

Thứ hai, về cải cách TTHC, Văn phòng Tổng cục:

(i) Phối hợp với các đơn vị chuyên môn của Tổng cục THADS kiểm soát, đánh giá tác động TTHC quy định tại dự thảo văn bản quy phạm pháp luật do Tổng cục chủ trì xây dựng. Theo đó, đã cơ bản bảo đảm nguyên tắc hạn chế phát sinh TTHC mới, cắt giảm chi phí tuân thủ TTHC thông qua việc đơn giản hóa các giấy tờ, tài liệu kèm theo, đa dạng hóa, điện tử hóa cách thức thực hiện, rút ngắn thời hạn giải quyết của cơ quan THADS.

(ii) Trình Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định công bố TTHC trong lĩnh vực THADS. Việc công bố các TTHC trong lĩnh vực THADS phải bảo đảm tuân thủ các văn bản quy định về kiểm soát TTHC, kịp thời cập nhật các quy định về THADS. Từ năm 2010 đến nay, đã có 05 quyết định công bố TTHC[13]. Việc công bố các TTHC ngày càng bảo đảm xác định đúng bản chất của TTHC trong THADS, cơ bản kịp thời rà soát, bãi bỏ các TTHC không phù hợp và chưa phản ánh đúng tính chất là thủ tục đặc thù trong hoạt động THADS; chuẩn hóa theo các văn bản quy phạm pháp luật được sửa đổi, bổ sung, thay thế.

(iii) Thường xuyên rà soát, đề xuất các phương án cắt giảm, đơn giản hóa TTHC trong THADS. Theo đó, Văn phòng phối hợp rà soát đơn giản hóa các mẫu đơn của Thông tư sửa đổi Thông tư số 01/2016/TT-BTP ngày 01/02/2016 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thực hiện một số thủ tục về quản lý hành chính và biểu mẫu nghiệp vụ trong thi hành án dân sự; rà soát quy định liên quan đến nộp, xuất trình giấy tờ cư trú trong pháp luật THADS; rà soát, đơn giản hóa TTHC nội bộ trong lĩnh vực THADS của Bộ Tư pháp giai đoạn 2022 - 2025.

(iv) Tiếp nhận, tham mưu Lãnh đạo phân công xử lý phản ánh, kiến nghị về vướng mắc, bất cập trong thực hiện TTHC về THADS. Tuy nhiên, các phản ánh, kiến nghị nhận được thời gian qua chủ yếu là về vụ việc thi hành án cụ thể, hoặc là kiến nghị, đề xuất hoàn thiện pháp luật THADS.

Trên cơ sở quyết định công bố TTHC của Bộ Tư pháp, các cơ quan THADS đã thực hiện niêm yết, công khai TTHC trong lĩnh vực THADS và tiếp nhận, giải quyết TTHC theo quy định. Thực hiện Quyết định số 09/2015/QĐ-TTg ngày 25/3/2015 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Quy chế thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, Hệ thống THADS đã nghiên cứu thí điểm và đưa vào triển khai chính thức, thống nhất cơ chế một cửa trong giải quyết TTHC tại các Cục, Chi cục THADS địa phương trên toàn quốc[14].

Thứ ba, về hiện đại hóa hành chính, xây dựng, phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số:

(i) Việc triển khai áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng theo Tiêu chuẩn quốc gia, Văn phòng đã tham mưu Tổng Cục trưởng Tổng cục THADS ban hành và áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng theo Tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001:2008 và TCVN ISO 9001:2015 tại Tổng cục THADS[15] và Bộ trưởng Bộ Tư pháp công bố Mô hình khung Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001:2015 cho Hệ thống cơ quan THADS. Các cơ quan THADS địa phương đã công bố và áp dụng Mô hình khung này từ tháng 9/2021; thường xuyên rà soát, cập nhật thay đổi tại các văn bản pháp luật và thực tế công tác và công bố lại hệ thống quản lý chất lượng tại cơ quan.

(ii) Văn phòng Tổng cục chủ trì, tham mưu Tổng cục THADS và các cơ quan THADS địa phương thực hiện nghiêm chế độ sử dụng văn bản điện tử, chữ ký số, Hệ thống quản lý văn bản điều hành liên kết với trục liên thông văn bản quốc gia và các phương thức trực tuyến khác trong thông tin nội bộ.

(iii) Tổng cục THADS đã và đang tập trung xây dựng các phần mềm về THADS, số hóa hồ sơ, tài liệu, xây dựng cơ sở dữ liệu về THADS. Để triển khai thực hiện các nhiệm vụ này, Văn phòng Tổng cục THADS có trách nhiệm phối hợp với các đơn vị rà soát, tái cấu trúc quy trình, điện tử hóa mẫu đơn, tờ khai, kết quả giải quyết TTHC; hướng dẫn, tổ chức triển khai số hóa đến tất cả cán bộ, công chức, viên chức tham gia việc tiếp nhận, giải quyết TTHC; đẩy nhanh tiến độ số hóa hồ sơ, kết quả giải quyết TTHC, cung cấp kết quả giải quyết TTHC bản điện tử bên cạnh bản giấy. Tại các cơ quan THADS, ngoài việc vận hành hệ thống hỗ trợ trực tuyến và các phần mềm hiện có theo quy định, Bộ phận Một cửa thực hiện việc số hóa hồ sơ, kết quả giải quyết TTHC theo quy định tại Điều 21a Nghị định số 61/2018/NĐ-CP ngày 23/4/2018 của Chính phủ về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính, trong đó, tập trung ký số, phát hành văn bản là kết quả giải quyết TTHC theo quy định tại khoản 5 Điều 18 Nghị định số 30/2020/NĐ-CP ngày 05/3/2020 của Chính phủ về công tác văn thư để gửi bản điện tử và trả bản giấy cho tổ chức, cá nhân[16]; cập nhật hồ sơ, kết quả giải quyết TTHC bản điện tử vào cơ sở dữ liệu điện tử THADS[17]. Mặc dù Tổng cục THADS và các cơ quan THADS địa phương đã nỗ lực thực hiện các nhiệm vụ này nhưng kết quả đạt được vẫn còn những hạn chế nhất định.

2.3. Hạn chế, khó khăn

Bên cạnh các kết quả đạt được nêu trên, công tác CCHC thuộc chức năng, nhiệm vụ của cơ quan văn phòng trong Hệ thống THADS vẫn còn một số hạn chế nhất định:

Thứ nhất, việc xác định TTHC trong lĩnh vực THADS vẫn chưa thực sự phù hợp, đúng bản chất của TTHC trong THADS. Một số thủ tục, điển hình như nhận tài sản đã kê biên để trừ vào tiền được thi hành án, có tính chất là thủ tục trong quá trình tổ chức thi hành án hơn là TTHC. Việc xác định không đúng TTHC sẽ dẫn đến khó khăn trong việc thực hiện các nhiệm vụ rà soát, tái cấu trúc quy trình, điện tử hóa để cung cấp dịch vụ công trực tuyến. Tại một số cơ quan THADS địa phương, việc cập nhật, công bố và niêm yết TTHC chưa thực hiện đầy đủ, kịp thời.

Thứ hai, việc triển khai áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng theo Tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001:2015 tại Tổng cục THADS và các cơ quan THADS địa phương đã được thực hiện theo quy định nhưng chất lượng, hiệu quả mang lại chưa thực sự đáp ứng yêu cầu, có nơi, có lúc còn tạo ra gánh nặng cho công chức làm công tác THADS. Nguyên nhân chủ yếu là do việc áp dụng còn phần nào mang tính hình thức, chưa thực sự tích hợp được các quy định về TTHC và thủ tục nội bộ trong cơ quan THADS vào quá trình thực hiện quy trình ISO.

Thứ ba, một số lãnh đạo, công chức trong Hệ thống THADS chưa thực sự thực hiện tốt văn bản điện tử, chữ ký số, khai thác hết các tiện ích trên hệ thống quản lý văn bản điều hành và các phương thức trực tuyến khác trong thông tin nội bộ. Ngoài một số nguyên nhân khách quan như khó khăn về hạ tầng, kỹ thuật, đường truyền thì có các nguyên nhân chủ quan như chậm thích ứng, ngại thay đổi.

Thứ tư, các nhiệm vụ số hóa hoạt động THADS triển khai còn chậm và chưa thực sự đồng bộ. Nguyên nhân chủ yếu là do hạ tầng kỹ thuật chưa đáp ứng yêu cầu hoặc đều đang trong quá trình xây dựng, thí điểm nên việc cập nhật, xây dựng cơ sở dữ liệu, tích hợp và kết nối còn khó khăn; việc tái cấu trúc quy trình, xây dựng các quy định về quản lý, vận hành do đó cũng bị ảnh hưởng tiến độ hoặc khó bao quát được hết các vấn đề phát sinh đối với từng phần mềm. Bên cạnh đó, các nhiệm vụ chuyển đổi số gắn với chức năng, nhiệm vụ của nhiều đơn vị chuyên môn trong và ngoài Tổng cục THADS, Bộ Tư pháp, quá trình phối hợp chưa thực sự kịp thời, hiệu quả hoặc còn chưa cụ thể về nghĩa vụ, trách nhiệm thực hiện. Vẫn còn một số cơ quan THADS chưa triển khai đầy đủ, đồng bộ các chỉ đạo, hướng dẫn của Tổng cục nên chưa kịp thời phản hồi, kiến nghị, đề xuất đối với các vấn đề khó khăn, vướng mắc, bất cập để Tổng cục điều chỉnh. Ngoài ra, người dân chưa sẵn sàng sử dụng các ứng dụng chuyển đổi số, định danh điện tử, ít sử dụng hệ thống hỗ trợ trực tuyến THADS vì vẫn phải nộp hồ sơ giấy đến cơ quan THADS…

3. Một số định hướng, giải pháp nâng cao chất lượng công tác cải cách hành chính thuộc trách nhiệm của văn phòng trong Hệ thống Thi hành án dân sự

Tổng cục THADS hiện đang tham mưu Bộ Tư pháp trình Chính phủ Quyết định sửa đổi, bổ sung Quyết định số 61/2014/QĐ-TTg. Trên cơ sở Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Tổng cục tham mưu Bộ Tư pháp ban hành Quyết định sửa đổi Quyết định số 2785/QĐ-BTP ngày 25/10/2012 và ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị trực thuộc. Với vị trí, chức năng là đơn vị tham mưu công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành, cơ quan văn phòng cơ bản được giữ nguyên tại Tổng cục cũng như tại Cục THADS cấp tỉnh. Về công tác CCHC, việc giao cơ quan văn phòng phụ trách các nhiệm vụ hiện hành như trên cơ bản là phù hợp nên có thể tiếp tục duy trì, tuy nhiên cần phân công rõ, cụ thể hơn trách nhiệm của từng đơn vị chuyên môn trong việc thực hiện các nhiệm vụ CCHC, nhất là nhiệm vụ số hóa hoạt động THADS.

Để nâng cao chất lượng công tác CCHC thuộc trách nhiệm của văn phòng trong Hệ thống THADS, cần tập trung khắc phục các hạn chế và thực hiện một số giải pháp cụ thể như sau:

Thứ nhất, Văn phòng Tổng cục chủ trì, phối hợp với các đơn vị tiếp tục nghiên cứu, rà soát, kịp thời chuẩn hóa hoặc bãi bỏ TTHC không phù hợp, đúng bản chất là TTHC trong THADS. Các cơ quan THADS thực hiện cập nhật, công bố, niêm yết đầy đủ TTHC tại Bộ phận Một cửa của cơ quan.

Thứ hai, xem xét, đánh giá kỹ các hạn chế, khó khăn trong quá trình triển khai áp dụng hệ thống quản lý chất lượng để kịp thời xử lý, khắc phục. Cần xác định việc áp dụng các quy trình ISO là nhằm nhất thể hóa, kịp thời cập nhật các quy định pháp luật vào quá trình tổ chức THADS, cải tiến quy trình và kiểm soát chất lượng công việc, không phải là một quy trình độc lập, tách rời.

Thứ ba, xác định “thể chế đi trước, hạ tầng tạo tiền đề” trong quá trình chuyển đổi số[18], Tổng cục THADS cần tập trung đầu tư nhân lực, vật lực sớm hoàn thiện các phần mềm, xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ chuyển đổi số trong THADS, đồng thời, cần kịp thời nghiên cứu, đề xuất sửa đổi pháp luật THADS và pháp luật có liên quan để khuyến khích, thúc đẩy các cá nhân, cơ quan, tổ chức và công chức làm công tác THADS sử dụng các ứng dụng công nghệ trong quá trình tổ chức THADS. Văn phòng với vai trò là đơn vị tham mưu công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành, chủ trì về công tác cải cách hành chính cần rà soát các nhiệm vụ liên quan đến chuyển đổi số, tham mưu Lãnh đạo Tổng cục, Lãnh đạo Bộ Tư pháp lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ này hiệu quả, quyết liệt hơn, bảo đảm phát huy thế mạnh của từng đơn vị trong quá trình chuyển đổi số.

Văn phòng Tổng cục Thi hành án dân sự

[1]. Tổng cục THADS, Công văn số 3424/TCTHADS-VP ngày 15/10/2015 về nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của công tác văn phòng tại các Cục, Chi cục Thi hành án dân sự.

[2]. Vụ Tổ chức cán bộ, Tòa án nhân dân tối cao, “Công tác thi hành án dân sự từ năm 1945 đến năm 1981 (trích)”, Thi hành án dân sự - 70 năm xây dựng và trưởng thành, Nxb. Tư pháp, 2016, tr. 121.

[3]. Tổng cục THADS, “Khái quát 70 năm xây dựng và trưởng thành của Hệ thống Thi hành án dân sự”, Thi hành án dân sự - 70 năm xây dựng và trưởng thành, Nxb. Tư pháp, tr. 15 - 18.

[4]. Tổng cục THADS, Diễn văn Kỷ niệm 70 năm Ngày truyền thống Thi hành án dân sự và đón nhận Huân chương Lao động Hạng Nhất, ngày 16/7/2016.

[5]. Tổng cục THADS, “Khái quát 70 năm xây dựng và trưởng thành của Hệ thống Thi hành án dân sự”, Thi hành án dân sự - 70 năm xây dựng và trưởng thành, Nxb. Tư pháp, tr. 25 - 27.

[6]. “Hướng dẫn về tổ chức, cán bộ của thi hành án dân sự tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương”, đăng ngày 16/5/2007, https://thads.moj.gov.vn/noidung/tintuc/lists/chidaodieuhanh/view_detail.aspx?itemid=3612.

[7]. Tổng Cục trưởng Tổng cục THADS, Quyết định số 1453/QĐ-TCTHADS ngày 04/6/2010 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Vụ Nghiệp vụ 2.

[8]. Tổng Cục trưởng Tổng cục THADS, Quyết định số 13/QĐ-TCTHADS ngày 12/01/2015 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Vụ Nghiệp vụ 3.

[9]. Tổng Cục trưởng Tổng cục THADS, Quyết định số 1451/QĐ-TCTHADS ngày 04/6/2010 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Văn phòng Tổng cục Thi hành án dân sự; Quyết định số 10/QĐ-TCTHADS ngày 12/01/2015 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Văn phòng.

[10]. Tổng Cục trưởng Tổng cục THADS, Quyết định số 367/QĐ-TCTHADS ngày 01/4/2016 sửa đổi, bổ sung Quyết định số 10/QĐ-TCTHADS; Quyết định số 1398/QĐ-TCTHADS ngày 24/12/2018.

[11]. Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Quyết định số 459/QĐ-BTP ngày 26/02/2014 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Văn phòng Bộ Tư pháp; Quyết định số 28/QĐ-BTP ngày 07/01/2016 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 459/QĐ-BTP; Quyết định số 1212/QĐ-BTP ngày 30/5/2018 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Văn phòng Bộ Tư pháp.

[12]. Tổng cục THADS, Công văn số 3424/TCTHADS-VP ngày 15/10/2015 về nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của công tác văn phòng tại các Cục, Chi cục Thi hành án dân sự, Phụ lục 1 - Hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Văn phòng Cục.

[13]. Gồm các quyết định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp: (i) Theo Luật Thi hành án dân sự năm 2008: Quyết định số 977/QĐ-BTP ngày 31/3/2010; (ii) Theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014: Quyết định số 1557/QĐ-BTP ngày 26/8/2015; Quyết định số 767/QĐ-BTP ngày 01/6/2017; Quyết định số 1328/QĐ-BTP ngày 01/6/2020; Quyết định số 1247/QĐ-BTP ngày 30/5/2022.

[14]. Tổng Cục trưởng Tổng cục THADS, Quyết định số 721/QĐ-TCTHADS ngày 01/7/2016 ban hành quy trình thực hiện thí điểm cơ chế một cửa đối với một số thủ tục hành chính trong lĩnh vực thi hành án dân sự; Quyết định số 537/QĐ-TCTHADS ngày 11/5/2017 về việc ban hành Quy trình và triển khai thực hiện cơ chế một cửa tại các cơ quan thi hành án dân sự.

[15]. Gồm các quyết định của Tổng Cục trưởng Tổng cục THADS: Quyết định số 1285/QĐ-TCTHADS ngày 20/12/2016; Quyết định số 1156a/QĐ-TCTHADS ngày 01/12/2017; Quyết định số 1195/QĐ-TCTHADS ngày 01/12/2017; Quyết định số 939/QĐ-TCTHADS ngày 16/11/2020; Quyết định số 122/QĐ-TCTHADS ngày 14/02/2022.

[16]. Khoản 5 Điều 18 Nghị định số 30/2020/NĐ-CP ngày 05/3/2020 của Chính phủ về công tác văn thư: “Phát hành văn bản giấy từ văn bản được ký số của người có thẩm quyền: Văn thư cơ quan thực hiện in văn bản đã được ký số của người có thẩm quyền ra giấy, đóng dấu của cơ quan, tổ chức để tạo bản chính văn bản giấy và phát hành văn bản”.

[17]. Tổng cục THADS, Công văn số 2702/TCTHADS-VP ngày 05/9/2022 về một số lưu ý trong triển khai hoạt động của Bộ phận Một cửa.

[18]. Chuyển đổi số Hà Nội trong hành trình hướng đến thành phố thông minh, Bài 2: Thể chế đi trước, hạ tầng tạo tiền đề, nguồn: https://www.qdnd.vn/xa-hoi/cac-van-de/bai-2-the-che-di-truoc-ha-tang-tao-tien-de-724084.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 383), tháng 6/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: