Thứ bảy 14/03/2026 20:29
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Công tác xây dựng Bộ pháp điển ở Việt Nam

Quan niệm về pháp điển và cách thức thực hiện pháp điển trên thế giới hiện nay khá đa dạng. Tuy nhiên, có hai nhóm quan điểm chính là pháp điển về nội dung và pháp điển về hình thức.

1. Khái niệm pháp điển và nhu cầu xây dựng Bộ Pháp điển ở Việt Nam

1.1. Khái niệm pháp điển

Quan niệm về pháp điển và cách thức thực hiện pháp điển trên thế giới hiện nay khá đa dạng. Tuy nhiên, có hai nhóm quan điểm chính là pháp điển về nội dung và pháp điển về hình thức.

Pháp điển về nội dung là hoạt động pháp điển theo đó cơ quan có thẩm quyền tiến hành xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) mới trên cơ sở tập hợp, sắp xếp lại quy định trong các văn bản QPPL hiện hành, loại bỏ các quy định không phù hợp, sửa đổi, bổ sung để phù hợp với thực tiễn. Pháp điển về nội dung mang tính sáng tạo pháp luật, kết quả là các đạo luật chứa đựng các quy định mới được ban hành. Về bản chất, pháp điển về nội dung là một dạng cụ thể, đặc thù của hoạt động lập pháp. Có thể xem việc xây dựng các bộ luật như Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Lao động… ở nước ta thời gian qua là những ví dụ cụ thể của hoạt động pháp điển về nội dung.

Pháp điển về hình thức là hoạt động pháp điển theo đó cơ quan có thẩm quyền tiến hành tập hợp, sắp xếp lại các QPPL trong các văn bản QPPL hiện hành theo một cấu trúc mới (thông thường là Bộ Pháp điển), có thể thực hiện những căn chỉnh về kỹ thuật, cách thức diễn đạt, nhưng không làm thay đổi nội dung và trật tự hiệu lực của các quy định. Pháp điển về hình thức không tạo ra quy định pháp luật mới.

Bộ Pháp điển là hình thức phổ biến hiện đang được các nước sử dụng để chứa đựng các QPPL sau khi pháp điển. Tùy thuộc vào quan điểm và cách thức thực hiện pháp điển mà cấu trúc, kỹ thuật thực hiện và giá trị pháp lý của Bộ Pháp điển ở các nước có sự khác nhau.

Ở Cộng hòa Pháp, Bộ luật Dân sự năm 1804 thường được lấy làm ví dụ điển hình cho trường phái theo đuổi quan điểm pháp điển nội dung. Để hoàn thành việc pháp điển và cho ra đời những bộ luật đồ sộ như vậy phải có một quá trình nghiên cứu, triển khai thực hiện bài bản, công phu. Tuy nhiên, theo thời gian, cách thức pháp điển tại Cộng hòa Pháp hiện nay đã thay đổi theo hướng pháp điển về hình thức. Một nguyên tắc cơ bản trong pháp điển là không làm thay đổi nội dung của QPPL, tuy nhiên Bộ Pháp điển có giá trị pháp lý áp dụng chính thức. Tại Liên minh Châu Âu, pháp điển được thực hiện theo hướng hợp nhất toàn bộ các luật thành một luật duy nhất. Luật mới chứa đựng các quy định và thay thế các luật trước đó nhưng không thay đổi nội dung của chúng. Tại Hoa Kỳ, Bộ Pháp điển các luật Hoa Kỳ (USC) được xây dựng từ năm 1926 theo hình thức pháp điển về nội dung, đến nay vẫn chưa được hoàn thành. Trong khi đó, Bộ Pháp điển các quy định hành pháp Liên bang Hoa Kỳ (CFR) được xây dựng theo mô hình pháp điển hình thức, tiến hành từ năm 1937, đã hoàn thành vào năm 1939 và được sử dụng cho đến nay.

Ở Việt Nam hiện nay, pháp điển được hiểu là việc cơ quan nhà nước rà soát, tập hợp, sắp xếp các QPPL đang còn hiệu lực trong các văn bản QPPL do cơ quan nhà nước ở trung ương ban hành, trừ Hiến pháp, để xây dựng Bộ Pháp điển [1]; Bộ Pháp điển được sử dụng để tra cứu trong áp dụng và thực hiện pháp luật [2]. Như vậy, hoạt động pháp điển ở Việt Nam hiện nay là pháp điển về hình thức, theo đó cơ quan có thẩm quyền tập hợp, sắp xếp đầy đủ các QPPL vào Bộ Pháp điển theo trật tự hợp lý; không làm thay đổi nội dung (sửa đổi, bổ sung) các QPPL khi thực hiện pháp điển. Việc lựa chọn pháp điển về hình thức là phù hợp với thực trạng hệ thống pháp luật trong mối liên hệ với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam hiện nay. Với khối lượng văn bản lớn, tính ổn định thấp, nếu thực hiện pháp điển về nội dung sẽ gặp nhiều khó khăn. Thực hiện pháp điển về hình thức có thể đáp ứng được yêu cầu thực tiễn là sớm hoàn thành việc xây dựng Bộ Pháp điển tập hợp toàn bộ các QPPL (trước mắt là các văn bản QPPL của các cơ quan nhà nước ở trung ương) theo một cấu trúc hợp lý, phục vụ nhu cầu tra cứu trong áp dụng, thực hiện pháp luật. Còn việc sửa đổi, bổ sung các QPPL hiện hành vẫn tiến hành theo trình tự, thủ tục ban hành văn bản QPPL bình thường. Khi có văn bản mới được ban hành, có văn bản được sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ thì sẽ cập nhật vào Bộ Pháp điển.

1.2. Nhu cầu xây dựng Bộ Pháp điển của Việt Nam

Trong những năm qua, cùng với việc đẩy mạnh tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, thực hiện Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 (Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị), Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020 (Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị), công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Tuy nhiên, bên cạnh đó còn nhiều vấn đề đang đặt ra như hệ thống pháp luật còn rất phức tạp, cồng kềnh, nhiều tầng nấc, nhiều chủ thể ban hành nhiều loại văn bản QPPL; số lượng văn bản QPPL được ban hành rất lớn và có xu hướng tiếp tục gia tăng. Thực tế hiện nay, chúng ta thậm chí chưa thống kê được chính xác, đầy đủ về tổng số văn bản QPPL đã ban hành, còn hiệu lực trên cả nước.

Thực tế áp dụng pháp luật cho thấy, trong lĩnh vực pháp luật, tình trạng phổ biến là các quy định còn tản mát, phân tán trong nhiều văn bản. Người dân, doanh nghiệp rất khó khăn trong tiếp cận các quy định. Có trường hợp chính cơ quan ban hành văn bản cũng không xác định được giá trị hiệu lực của văn bản QPPL do mình ban hành; thậm chí các cơ quan nhà nước còn có quan điểm khác nhau về hiệu lực của một văn bản QPPL. Với một hệ thống văn bản QPPL như hiện nay, khó có thể tránh khỏi nội dung các văn QPPL có mâu thuẫn, chồng chéo. Mặt khác, trong điều kiện các quan hệ kinh tế - xã hội ở nước ta đang tiếp tục thay đổi mạnh mẽ, hệ thống pháp luật đang phát triển không ngừng cả về lượng và chất. Trong điều kiện đó, việc xây dựng Bộ Pháp điển ở Việt Nam là hết sức cần thiết, góp phần tạo bước chuyển biến mới về chất của hệ thống pháp luật, phục vụ đắc lực công cuộc đổi mới đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Ngày 16/4/2012, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh Pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật (Pháp lệnh Pháp điển), tạo cơ sở pháp lý nền tảng cho công tác pháp điển. Việc pháp điển được thực hiện đối với các QPPL trong văn bản QPPL của cơ quan nhà nước ở trung ương.

2. Bộ Pháp điển và công tác xây dựng Bộ Pháp điển của Việt Nam

2.1. Bộ Pháp điển của Việt Nam

Pháp lệnh Pháp điển quy định Bộ Pháp điển của Việt Nam được cấu trúc theo chủ đề. Hiện nay, Bộ Pháp điển có 45 chủ đề được đánh số thứ tự từ số 1 đến số 45, trong đó, mỗi chủ đề chứa đựng các QPPL điều chỉnh các nhóm quan hệ xã hội nhất định được xác định theo lĩnh vực, ví dụ: Chủ đề số 1 - An ninh quốc gia; chủ đề số 2 - Bảo hiểm; chủ đề số 3 - Bưu chính, viễn thông; chủ đề số 4 - Bổ trợ tư pháp… Trong trường hợp cần thiết và phù hợp, Chính phủ quyết định bổ sung chủ đề mới theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp.

Trong mỗi chủ đề có một hoặc nhiều đề mục, mỗi đề mục chứa đựng các QPPL điều chỉnh một nhóm quan hệ xã hội nhất định. Cấu trúc của đề mục dựa theo bố cục của văn bản QPPL có hiệu lực pháp lý cao nhất điều chỉnh nhóm quan hệ xã hội thuộc nội dung của đề mục. Ngày 06/6/2014, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 843/QĐ-TTg phê duyệt danh mục các đề mục trong mỗi chủ đề và phân công cơ quan thực hiện pháp điển theo các đề mục (Quyết định số 843/QĐ-TTg), theo đó, Bộ Pháp điển chứa đựng 265 đề mục thuộc 45 chủ đề. Trong mỗi đề mục có thể có các phần, chương, mục, điều, khoản, điểm và nội dung các QPPL được đưa vào bởi các văn bản sử dụng để pháp điển. Trường hợp có QPPL mới được ban hành không thuộc đề mục đã có trong Bộ Pháp điển, trên cơ sở đề xuất của cơ quan thực hiện pháp điển, Bộ Tư pháp trình Thủ tướng Chính phủ quyết định và phân công cơ quan thực hiện pháp điển đề mục mới. Đề mục mới được cập nhật vào Bộ Pháp điển tại thời điểm có hiệu lực thi hành.

Sau khi Chính phủ thông qua từng phần của Bộ Pháp điển, thì kết quả đó được đăng tải và duy trì thường xuyên, liên tục trên Cổng thông tin điện tử pháp điển và được sử dụng miễn phí. Đây là Cổng thông tin độc lập, đăng tải Bộ Pháp điển, do Nhà nước giữ bản quyền và giao Bộ Tư pháp thống nhất quản lý, duy trì hoạt động. Như vậy, Bộ Pháp điển chính thức của Nhà nước được xây dựng và duy trì dưới hình thức là một Bộ Pháp điển điện tử, đây là một hình thức tiên tiến, tiết kiệm và rất phù hợp, bảo đảm tính linh hoạt của Bộ Pháp điển trước những thay đổi thường xuyên của hệ thống pháp luật trong giai đoạn phát triển như hiện nay. Ngoài ra, Đề án xây dựng Bộ Pháp điển cũng giao Bộ Tư pháp in, quản lý một Bộ Pháp điển bằng giấy và thường xuyên thực hiện cập nhật.

2.2. Xây dựng Bộ Pháp điển của Việt Nam

- Thẩm quyền thực hiện pháp điển: Thẩm quyền và trách nhiệm thực hiện pháp điển không được giao cho một cơ quan cụ thể. Điều 4 Pháp lệnh Pháp điển quy định các cơ quan có thẩm quyền thực hiện pháp điển bao gồm các bộ, cơ quan ngang bộ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán Nhà nước, Văn phòng Quốc hội và Văn phòng Chủ tịch nước… (tổng cộng là 27 cơ quan). Đây là cách thức phân chia công việc theo hướng “tản việc”, nghĩa là nhiệm vụ pháp điển được giao cho nhiều cơ quan thực hiện (theo nguyên tắc các cơ quan có thẩm quyền, trách nhiệm thực hiện pháp điển đối với văn bản do mình ban hành, chủ trì soạn thảo). Khi nghiên cứu, có thể nhận thấy ưu điểm của quy định này là hướng tới mục tiêu bảo đảm và nâng cao chất lượng của kết quả pháp điển. Cơ quan ban hành, chủ trì soạn thảo là cơ quan có điều kiện thuận lợi trong việc thực hiện pháp điển, từ khâu xác định đề mục, lập danh mục văn bản đưa vào đề mục, cho đến khâu thực hiện kỹ thuật pháp điển, nhất là với những văn bản được pháp điển có nội dung mang tính chuyên ngành cao. Tùy tính chất, điều kiện và nhận thức của từng cơ quan thực hiện pháp điển, nhiệm vụ pháp điển lại được giao cho các đơn vị thực hiện theo hai hướng: Giao cho tổ chức pháp chế hoặc giao cho các đơn vị chuyên môn trực thuộc thực hiện.

- Lộ trình xây dựng Bộ Pháp điển của Việt Nam: Để thực hiện pháp điển hết các QPPL hiện hành, vừa qua Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1267/QĐ-TTg ngày 29/7/2014 phê duyệt Đề án xây dựng Bộ Pháp điển (Quyết định số 1267/QĐ-TTg) xác lập lộ trình xây dựng Bộ Pháp điển diễn ra và hoàn thành trong thời hạn 10 năm (2014 - 2023). Các cơ quan thực hiện pháp điển phải tiến hành ngay việc thực hiện pháp điển các đề mục đã được phân công tại Quyết định số 843/QĐ-TTg, bảo đảm hoàn thành các chủ đề của Bộ Pháp điển theo lộ trình 3 giai đoạn: Giai đoạn 1 (2014 - 2017) hoàn thành 8 chủ đề; Giai đoạn 2 (2018 - 2020) hoàn thành 27 chủ đề; Giai đoạn 3 (2021 - 2023) hoàn thành 10 chủ đề.

- Triển khai xây dựng Bộ Pháp điển trong thời gian qua: Sau hơn 02 năm triển khai thực hiện Pháp lệnh Pháp điển, công tác pháp điển hệ thống QPPL đã được thủ trưởng các bộ, ngành quan tâm chỉ đạo thực hiện và đạt được nhiều kết quả tích cực. Cho đến nay, về cơ bản, các văn bản hướng dẫn, quy định chi tiết cũng như văn bản chỉ đạo điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã đầy đủ, bảo đảm các điều kiện pháp lý cần thiết cho việc xây dựng thành công Bộ Pháp điển; 100% bộ, ngành đã quan tâm bố trí biên chế làm công tác pháp điển tại tổ chức pháp chế (hầu hết là biên chế làm việc kiêm nhiệm). Riêng Vụ Pháp chế - Bộ Y tế được bố trí 1 biên chế chuyên trách. Các tổ chức pháp chế của các bộ, ngành còn lại được bố trí biên chế làm việc kiêm nhiệm từ 1 đến 5 người. Công tác tập huấn, hướng dẫn nghiệp vụ kỹ thuật thực hiện pháp điển được quan tâm. Việc xây dựng Cổng thông tin điện tử pháp điển thành công góp phần cung cấp thông tin cũng như tuyên truyền, trao đổi về công tác pháp điển giữa các bộ, ngành, giữa Nhà nước với người dân, doanh nghiệp và để cập nhật Bộ Pháp điển khi Chính phủ thông qua. Tuy nhiên, công tác xây dựng phần mềm pháp điển còn chậm, gây khó khăn cho việc thực hiện pháp điển (hiện nay việc thực hiện pháp điển còn thủ công, dự kiến phần mềm được đưa vào sử dụng cuối năm 2015).

Về công tác thực hiện pháp điển các đề mục, ngoài 22 đề mục thuộc 8 chủ đề phải hoàn thành trong Giai đoạn 1 (2014 - 2017), có hơn 70 đề mục thuộc các chủ đề trong Giai đoạn 2 và Giai đoạn 3 (2018 - 2023) được các bộ, ngành xác định hoàn thành trước năm 2018. Trong tổng số hơn 90 đề mục được xác định hoàn thành trước năm 2018, hiện nay có 35 đề mục đang được triển khai thực hiện và 3 đề mục đã được thẩm định, đang chờ trình Chính phủ thông qua.

- Những tồn tại, hạn chế, nguyên nhân và phương hướng triển khai: Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác pháp điển hệ thống QPPL vẫn còn một số tồn tại, hạn chế đáng lưu ý như: Một số bộ, ngành chưa quan tâm đúng mức trong việc bố trí biên chế, kinh phí và các điều kiện bảo đảm phục vụ công tác pháp điển hệ thống QPPL; nhiều bộ, ngành còn chưa chủ động trong việc triển khai thực hiện pháp điển; kỹ năng nghiệp vụ của cán bộ, công chức trong công tác pháp điển còn hạn chế...

Những tồn tại hạn chế trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Trong đó có các nguyên nhân cơ bản là: (i) Thẩm quyền thực hiện pháp điển được giao cho các cơ quan theo hướng “tản việc” bộc lộ nhiều hạn chế, nên giao cho một cơ quan thống nhất triển khai thực hiện công tác này sẽ giảm thiểu được tối đa thời gian, nhân lực, chi phí mà vẫn bảo đảm chất lượng, hiệu quả của Bộ Pháp điển. Đây cũng là một hướng mới, cần được nghiên cứu kỹ lưỡng để phân tích những ưu điểm, nhược điểm và tính khả thi, hiệu quả; (ii) Pháp điển ở Việt Nam hiện nay vẫn đang là công việc mới, khó, kỹ thuật phức tạp, trong khi đó nhiều quy định hiện hành về kỹ thuật pháp điển khi thực hiện trong thực tế đã bộc lộ sự không phù hợp với nhiều trường hợp cụ thể.

Vì vậy, để khắc phục kịp thời những tồn tại, hạn chế, bảo đảm chất lượng, tiến độ xây dựng Bộ Pháp điển, chúng tôi cho rằng, các cơ quan thực hiện pháp điển cần quan tâm thực hiện tốt các việc sau:

Thứ nhất, thực hiện nghiêm chỉnh Pháp lệnh Pháp điển, Nghị định số 63/2013/NĐ-CP ngày 27/6/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, Quyết định số 843/QĐ-TTg và Quyết định số 1267/QĐ-TTg.

Thứ hai, quan tâm hoàn thiện thể chế nội bộ của cơ quan để tạo điều kiện triển khai thực hiện pháp điển thuận lợi, hiệu quả.

Thứ ba, bố trí biên chế, kinh phí và các điều kiện bảo đảm khác để phục vụ công tác pháp điển hệ thống QPPL.

Thứ tư, thường xuyên tổ chức tập huấn, trang bị kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ cho cán bộ, công chức làm công tác pháp điển hệ thống QPPL.

Thứ năm, tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện pháp điển các đề mục thuộc các chủ đề phải hoàn thành trong Giai đoạn 1 (2014 - 2017); ưu tiên thực hiện pháp điển sớm các đề mục thuộc các lĩnh vực pháp luật đã tương đối ổn định, các lĩnh vực pháp luật liên quan đến thể chế thị trường, môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, góp phần giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra trong việc tra cứu, áp dụng pháp luật.

Thứ sáu, chỉ đạo tổ chức pháp chế, các đơn vị trực thuộc liên quan phối hợp chặt chẽ với nhau và với đơn vị liên quan của các bộ, ngành khác để thực hiện hiệu quả công tác pháp điển hệ thống QPPL.

TS. Đồng Ngọc Ba & Hoàng Linh Cầm

Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật

Tài liệu tham khảo:

[1]. Khoản 1 Điều 2 Pháp lệnh Pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật.

[2]. Điều 5 Pháp lệnh Pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.

Theo dõi chúng tôi trên: