Thứ tư 04/03/2026 18:01
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Đặc điểm của văn phòng công chứng dưới góc nhìn kinh tế

Luật Công chứng năm 2014 quy định văn phòng công chứng hoạt động theo loại hình công ty hợp danh. Đây là loại hình doanh nghiệp đặc thù bởi vừa được sự điều chỉnh chuyên ngành của Luật Công chứng

Luật Công chứng năm 2014 quy định văn phòng công chứng hoạt động theo loại hình công ty hợp danh. Đây là loại hình doanh nghiệp đặc thù bởi vừa được sự điều chỉnh chuyên ngành của Luật Công chứng năm 2014, lại đồng thời được sự điều chỉnh về loại hình hoạt động của Luật Doanh nghiệp năm 2014. Văn phòng công chứng hoạt động theo sự ủy quyền của Nhà nước để cung cấp các dịch vụ công cho xã hội thông qua việc thực hiện chức năng công chứng, chứng thực. Đồng hành với chủ trương xã hội hóa nghề công chứng, bên cạnh các phòng công chứng là đơn vị hành chính sự nghiệp, pháp luật đã thừa nhận loại hình công chứng tư nhân là các văn phòng công chứng.

Cũng giống như các tổ chức kinh tế khác, văn phòng công chứng được các công chứng viên thành lập là nhằm tìm kiếm lợi nhuận từ hoạt động công chứng của mình. Tuy thực hiện chức năng cung cấp dịch vụ công theo sự ủy quyền của Nhà nước nhưng các văn phòng công chứng mang bản chất và đặc thù của một doanh nghiệp nên mục đích lợi nhuận là điều kiện tiên quyết. Bởi lẽ, để thành lập một văn phòng công chứng phải đáp ứng rất nhiều quy định vừa cả về chủ thể thành lập, giới hạn quy hoạch thành lập và cơ sở vật chất. Trong quá trình hoạt động, các văn phòng công chứng phải cạnh tranh lẫn nhau nhằm thu hút khách hàng trong khuôn khổ cho phép của pháp luật. Việc chuyển nhượng văn phòng công chứng cũng là quy định tiến bộ nhằm tạo điều kiện cho các công chứng viên thu hồi lại vốn đầu tư và thu thêm những giá trị thặng dư vô hình khác khi không còn nhu cầu tiếp tục hoạt động văn phòng công chứng.

Từ những cơ sở phân tích nêu trên đã cho thấy hoạt động của văn phòng công chứng là một loại hình kinh doanh, hoạt động đặc thù và nhằm mục đích lợi nhuận. Yếu tố lợi nhuận trong hoạt động văn phòng công chứng không được quy định, thể hiện trực tiếp trong Luật Công chứng năm 2014, mà để tìm hiểu nó cần khai thác, nghiên cứu các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan. Do đó, đây là vấn đề cấp bách và cần thiết để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu.

Thứ nhất, hoạt động của văn phòng công chứng là một hình thức đầu tư, kinh doanh có điều kiện

Công dân được kinh doanh những ngành nghề mà pháp luật không cấm. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, để kinh doanh những ngành nghề nhất định thì người kinh doanh phải đáp ứng những điều kiện bắt buộc mà pháp luật quy định phải có. Đối với hoạt động công chứng, đây là một trong các hình thức hoạt động đầu tư, kinh doanh có điều kiện. Điều này được quy định cụ thể tại Phụ lục 4 Luật Đầu tư năm 2014 và Luật sửa đổi, bổ sung Điều 6 và Phụ lục 4 về danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật Đầu tư năm 2016. Để hoạt động của văn phòng công chứng phải đáp ứng các quy định cụ thể tại Luật Công chứng và các văn bản hướng dẫn có liên quan.

Theo Luật Công chứng năm 2014, chủ thể đầu tư thành lập văn phòng công chứng phải là công chứng viên. Văn phòng công chứng phải có từ hai công chứng viên hợp danh trở lên và trưởng văn phòng công chứng phải có kinh nghiệm hành nghề công chứng từ hai năm trở lên[1]. Đồng thời, việc thành lập văn phòng công chứng còn phải đáp ứng những tiêu chí xét chọn về trụ sở, trang thiết bị, nhân sự… của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi dự định đặt trụ sở. Theo đó, đối với các đề án thành lập mới văn phòng công chứng sẽ được Sở Tư pháp thẩm định các tiêu chí xét chọn, nếu đáp ứng được các tiêu chí theo quy định của Ủy ban nhân dân tỉnh sẽ được cấp phép cho thành lập.

Hiện nay, văn phòng công chứng được thành lập bị giới hạn về số lượng theo địa giới hành chính tại nơi đặt trụ sở theo quy hoạch tổng thể về phát triển tổ chức hành nghề công chứng[2]. Theo đó, những địa bàn nào đã có đủ số lượng tổ chức hành nghề công chứng thì không được thành lập mới các tổ chức hành nghề công chứng tại địa bàn đó. Trong quá trình hoạt động, văn phòng công chứng chỉ được thực hiện những công việc trong phạm vi quy định của Luật Công chứng năm 2014 và chỉ được thu phí theo khung của Bộ Tài chính, thù lao công chứng và các chi phí khác theo mức trần quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có trụ sở. Các chế độ về báo cáo, thống kê[3], bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp công chứng viên[4] phải thực hiện đúng quy định của pháp luật, nếu vi phạm sẽ bị chế tài xử lý[5].

Như vậy, pháp luật đã có những quy định riêng biệt áp dụng cho văn phòng công chứng từ điều kiện thành lập, nội dung hoạt động và khung thu phí, mức trần thù lao công chứng. Đây là cơ sở minh chứng hoạt động của văn phòng công chứng là hình thức đầu tư, kinh doanh có điều kiện.

Thứ hai, văn phòng công chứng hoạt động theo loại hình công ty hợp danh
Tổ chức hành nghề công chứng theo quy định pháp luật về công chứng hiện hành gồm có các phòng công chứng và văn phòng công chứng. Theo đó, phòng công chứng là đơn vị hành chính sự nghiệp thuộc Sở Tư pháp, do Ủy ban nhân dân tỉnh thành lập[6]. Còn văn phòng công chứng hoạt động theo loại hình công ty hợp danh nhưng không có thành viên góp vốn[7]. Như vậy, có thể nhận thấy, Luật Công chứng năm 2014 đã thừa nhận các văn phòng công chứng là một loại hình doanh nghiệp đặc thù, vừa được sự điều chỉnh chuyên ngành của Luật Công chứng năm 2014, vừa theo các quy định liên quan như đối với một doanh nghiệp.

Theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014, công ty hợp danh phải có ít nhất 02 thành viên là chủ sở hữu chung, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung. Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty[8]. Bên cạnh đó, thành viên hợp danh có quyền nhân danh công ty tiến hành hoạt động kinh doanh các ngành, nghề kinh doanh của công ty; có quyền sử dụng con dấu, tài sản của công ty để hoạt động kinh doanh các ngành, nghề kinh doanh của công ty; được chia lợi nhuận tương ứng với tỷ lệ vốn góp hoặc theo thỏa thuận quy định tại Điều lệ công ty; khi công ty giải thể hoặc phá sản, được chia một phần giá trị tài sản còn lại tương ứng theo tỷ lệ phần vốn góp vào công ty nếu Điều lệ công ty không quy định một tỷ lệ khác[9].

Tương ứng các quy định trên của Luật Doanh nghiệp năm 2014, các văn phòng công chứng phải có từ hai công chứng viên hợp danh trở lên[10]; người đại diện theo pháp luật của văn phòng công chứng là trưởng văn phòng và phải là công chứng viên hợp danh; các công chứng viên hợp danh hoặc công chứng viên làm việc theo hợp đồng lao động được công chứng hợp đồng, giao dịch, bản dịch nhân danh tổ chức hành nghề công chứng mà mình đang hành nghề[11]; được thu phí công chứng, thù lao công chứng, chi phí khác làm nguồn thu nhập tính thuế[12]. Đồng thời, các công chứng viên hợp danh cũng phải cùng nhau góp vốn để hình thành tài sản chung của văn phòng công chứng và được phân chia lợi nhuận theo tỷ lệ đã đóng góp hoặc thỏa thuận giữa các bên như đối với thành viên công ty hợp danh.

Một vấn đề rất quan trọng chưa được chính thức quy định trong Luật Công chứng năm 2014 đó là vấn đề về giới hạn trách nhiệm về tài sản của các công chứng viên hợp danh. Theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì các thành viên hợp danh phải cùng nhau liên đới chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty[13]. Luật Công chứng năm 2014 quy định về công chứng viên hợp danh nhưng không thể hiện bất kỳ nội dung nào về vấn đề tài sản góp vốn vào văn phòng công chứng, cũng như nghĩa vụ về tài sản đối với văn phòng công chứng của các công chứng viên hợp danh. Luật Công chứng năm 2014 chỉ quy định văn phòng công chứng được tổ chức và hoạt động theo các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan đối với loại hình công ty hợp danh. Như vậy, Luật Công chứng năm 2014 đã dẫn chiếu đến quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014 và thông qua đó gián tiếp quy định trách nhiệm liên đới bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của văn phòng công chứng của các công chứng viên hợp danh.

Pháp luật công chứng không quy định về việc điều hành hoạt động của văn phòng công chứng mà chỉ ghi nhận văn phòng công chứng hoạt động theo loại hình công ty hợp danh. Như vậy, vấn đề nội bộ về điều hành, hoạt động của văn phòng công chứng sẽ phải tuân theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014. Theo đó, các thành viên hợp danh sẽ đồng thời là thành viên của hội đồng thành viên, cùng nhau quyết định những nội dung quan trọng của văn phòng công chứng. Các công chứng viên hợp danh đều có quyền nhân danh văn phòng công chứng thực hiện chức năng hoạt động của văn phòng công chứng. Bên cạnh đó, các trường hợp chấm dứt tư cách thành viên hợp danh của các công chứng viên hợp danh cũng tuân theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014.

Thứ ba, văn phòng công chứng hoạt động vì mục đích lợi nhuận
Yếu tố lợi nhuận là điều kiện tiên quyết trong hoạt động đầu tư, kinh doanh. Trong hoạt động vủa văn phòng công chứng cũng không ngoại lệ, các công chứng viên khi thành lập văn phòng công chứng đều hướng đến lợi nhuận. Bởi để thành lập và đưa văn phòng công chứng vào hoạt động phải đáp ứng rất nhiều điều kiện khắt khe của pháp luật. Tuy hoạt động của văn phòng công chứng là cung cấp các dịch vụ công theo sự ủy nhiệm của Nhà nước nhưng mục đích chính vẫn là tìm kiếm lợi nhuận từ hoạt động đầu tư. Yếu tố lợi nhuận trong hoạt động của văn phòng công chứng thể hiện qua các hình thức sau:

- Các công chứng viên phải đầu tư tài chính rất lớn để thành lập văn phòng công chứng

Bên cạnh việc đáp ứng các quy định pháp luật về chủ thể thành lập văn phòng công chứng là các công chứng viên hợp danh, văn phòng công chứng mới muốn thành lập còn phải đáp ứng các điều kiện khác về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ trong suốt quá hoạt động như: Trụ sở văn phòng phải thuộc quyền sở hữu của một trong các công chứng viên hợp danh hoặc được thuê với thời hạn trên 05 năm[14]; diện tích phục vụ cho hoạt động phải đảm bảo tối thiểu theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có trụ sở; phải trang bị các máy móc, thiết bị phục vụ hoạt động… Do đó, số tiền chủ đầu tư đã đầu tư trụ sở, trang bị cơ sở vật chất, trang thiết bị là rất lớn. Với số tiền lớn đã đầu tư, nhà đầu tư nhằm đến mục đích là tìm kiếm lợi nhuận từ hoạt động công chứng của mình.

- Các văn phòng công chứng phải cạnh tranh lẫn nhau để tồn tại

Yếu tố cạnh tranh là đương nhiên, tất yếu trong mọi hoạt động khi có nhiều đơn vị cung cấp. Tuy Luật Công chứng năm 2014 chưa chính thức quy định vấn đề cạnh tranh trong hoạt động công chứng nhưng cũng đã có những quy định về đạo đức hành nghề công chứng viên[15], trong đó, có điều chỉnh hành vi cạnh tranh giữa các tổ chức hành nghề công chứng. Bên cạnh các hành vi cạnh tranh không lành mạnh bị ngăn cấm, các văn phòng công chứng phải thực hiện các giải pháp tiến bộ để cạnh tranh với nhau trong khuôn khổ cho phép như: Chất lượng cung cấp dịch vụ, hình ảnh, thương hiệu, thái độ ứng xử… Trong điều kiện kinh tế thị trường phát triển, các văn phòng công chứng phải không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ để có thể tồn tại và để tồn tại thì phải cạnh tranh trong hoạt động lẫn nhau và trong giới hạn cho phép của pháp luật.

- Việc chuyển nhượng văn phòng công chứng nhằm thu hồi vốn và tìm lợi nhuận

Văn phòng công chứng được thành lập và đi vào hoạt động là kết quả của rất nhiều công sức, tiền của đã đầu tư của các công chứng viên hợp danh. Tuy nhiên, vì lý do nào đó mà văn phòng công chứng không thể tiếp tục duy trì, hoạt động nên chỉ có hai giải pháp đưa ra: (i) Chấm dứt hoạt động theo quy định pháp luật; (ii) Chuyển nhượng văn phòng công chứng cho các công chứng viên khác để họ tiếp nhận và tiếp tục duy trì hoạt động của văn phòng công chứng.

Văn phòng công chứng có thể được xem như khối tài sản vừa hữu hình vừa có giá trị vô hình của các công chứng viên hợp danh. Do đó, khi chuyển nhượng lại cho người khác thì giá chuyển nhượng sẽ được thực hiện theo nguyên tắc thoả thuận của các bên và giá trị chuyển nhượng sẽ cao hơn giá trị hữu hình của tổng tài sản văn phòng công chứng bởi những yếu tố vô hình khác như: Giấy phép hoạt động đã có sẵn, thâm niên hoạt động, vị trí trụ sở, lượng hồ sơ, khách hàng… Tất cả những yếu tố này tạo nên lợi nhuận cho các công chứng viên khi chuyển nhượng lại văn phòng công chứng.

- Nguồn thu của các văn phòng công chứng là thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp

Theo quy định của Luật Công chứng năm 2014, văn phòng công chứng có con dấu và tài khoản riêng, hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về tài chính bằng nguồn thu từ phí công chứng, thù lao công chứng và các nguồn thu hợp pháp khác. Đối với việc thu phí công chứng, mức thu phí của các văn phòng công chứng là mức thu đã bao gồm thuế giá trị gia tăng theo quy định của Luật Thuế giá trị gia tăng và các văn bản hướng dẫn thi hành[16]. Các khoản thu này được xác định là doanh thu của văn phòng công chứng để làm căn cứ tính thuế thu nhập doanh nghiệp. Sau khi đã trừ đi các chi phí hợp lý thì khoản thu nhập còn lại của văn phòng công chứng sẽ được xác định là thu nhập chịu thuế để đóng thuế thu nhập doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, các văn phòng công chứng được thành lập mới tại địa bàn kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn sẽ được hưởng ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp[17]. Theo quy định hiện hành về thuế thu nhập doanh nghiệp thì văn phòng công chứng thành lập tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn chịu mức thuế thu nhập doanh nghiệp là 20% trong thời gian mười năm, tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn chịu mức thuế suất thu nhập doanh nghiệp ưu đãi là 10% trong thời hạn 15 năm. Bên cạnh đó, văn phòng công chứng thành lập tại địa bàn kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được miễn thuế 04 năm, giảm 50% số thuế phải nộp trong 09 năm tiếp theo, thành lập tại địa bàn kinh tế - xã hội khó khăn được miễn thuế 02 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 04 năm tiếp theo[18].

Từ những phân tích nêu trên có thể minh chứng rằng, hoạt động của văn phòng công chứng là nhằm mục đích lợi nhuận. Bởi suy cho cùng, văn phòng công chứng cũng là một loại hình doanh nghiệp, là một loại hình tổ chức kinh tế đặc thù, hoạt động theo sự ủy quyền của Nhà nước nhằm cung cấp dịch vụ công cho xã hội trong lĩnh vực công chứng, chứng thực. Chính những chủ trương xã hội hóa nghề công chứng và quy định về hoạt động công chứng tư theo loại hình doanh nghiệp của Luật Công chứng năm 2014 đã thể hiện yếu tố thương mại trong hoạt động của các văn phòng công chứng.

Nguyễn Huy Cường


Văn phòng Công chứng Công Lý, tỉnh Trà Vinh


[1] Điều 22 Luật Công chứng năm 2014.

[2] Quyết định số 2104/QĐ-TTg ngày 29/12/2012 của Thủ tướng Chính phủ về Quy hoạch tổng thể phát triển tổ chức hành nghề công chứng đến năm 2020”.

[3] Chương II Thông tư số 04/2016/TT-BTP ngày 03/3/2016 của Bộ Tư pháp quy định một số nội dung về hoạt động thống kê của Ngành Tư pháp.

[4] Chương III Nghị định số 29/2015/NĐ-CP ngày 15/3/2015 của Chính phủ quy đnh chi tiết và hưng dn thi hành mt s điu ca Lut Công chng.

[5] Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã; Nghị định số 67/2015/NĐ-CP ngày 14/8/2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 110/2013/NĐ- CP.

[6] Điều 19 Luật Công chứng năm 2014.

[7] Điều 22 Luật Công chứng năm 2014.

[8] Điều 172 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

[9] Điều 176 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

[10] Điều 22 Luật Công chứng năm 2014.

[11] Điều 17 Luật Công chứng năm 2014.

[12] Điều 32 Luật Công chứng năm 2014.

[13] Điều 172 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

[14] Theo quyết định của Ủy ban nhân dân một số thành phố, tỉnh như Hồ Chí Minh, Hà Nội, Trà Vinh… về tiêu chí xét duyệt hồ sơ thành lập các văn phòng công chứng.

[15] Thông tư số 11/2012/TT-BTP ngày 30/10/2012 của Bộ Tư pháp ban hành quy tắc đạo đức hành nghề công chứng.

[16] Điều 4 Thông tư số 257/2016/TT-BTC ngày 11/11/2016 của Bộ Tài chính quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý, sử dụng phí công chứng; phí chứng thức; phí thẩm định tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề công chứng; phí thẩm định điều kiện hoạt động văn phòng công chứng; lệ phí cấp thẻ công chứng viên.

[17] Điều 16 Nghị định số 29/2015/NĐ-CP.

[18] Nghị định số 218/2013/NĐ-CP ngày 26/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp và Nghị định số 91/2014/NĐ-CP ngày 01/10/2014 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều tại các nghị định quy định về thuế.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.
LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79-NQ/TW) được ban hành không chỉ khẳng định vai trò chủ đạo, dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước, mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn về hiệu quả, năng lực cạnh tranh và khả năng làm chủ công nghệ. Trong dòng chảy đó, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam - LILAMA đang cho thấy những nỗ lực rõ nét nhằm bứt phá, tái định vị từ một doanh nghiệp lắp máy truyền thống thành lực lượng tiên phong trong chế tạo, tổng thầu và làm chủ công nghệ công nghiệp - năng lượng.

Theo dõi chúng tôi trên: