Thứ sáu 13/03/2026 05:23
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Đề xuất bỏ dịch vụ logistics ra khỏi danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện

Bài viết phân tích quy định pháp luật hiện hành về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics và đưa ra cơ sở của việc đề xuất bỏ dịch vụ này ra khỏi danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics và giúp cho ngành logistics phát triển.


1. Cơ sở đề xuất bỏ dịch vụ logistics ra khỏi danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện

Theo nghiên cứu của tác giả, về bản chất, dịch vụ logistics không phải là ngành nghề độc lập.

Hội đồng quản lý logistics Hoa Kỳ (Council of Logistics Management Professionals) đã định nghĩa: “Logistics là quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm soát quá trình lưu chuyển, dự trữ hàng hóa, dịch vụ và những thông tin liên quan từ điểm xuất phát đầu tiên đến nơi tiêu thụ cuối cùng sao cho hiệu quả và phù hợp với yêu cầu của khách hàng”[1].

Nhóm tác giả John Mangan, Chandra Lalwani, Tim Butcher and Rouya Javadpour trong công trình nghiên cứu của mình đã sử dụng định nghĩa này và thêm các từ gạch chân góp phần làm cho nó cụ thể và chặt chẽ hơn: “Logistics là quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm soát việc vận chuyểnlưu trữ hàng hóa bao gồm các dịch vụ và những thông tin liên quan từ điểm xuất phát đầu tiên đến nơi tiêu thụ cuối cùng sao cho hiệu quả và phù hợp với yêu cầu của khách hàng”[2].

Theo tác giả Đặng Đình Đào thì “Logistics là quá trình phân phối và lưu thông hàng hóa được tổ chức và quản lý khoa học việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm soát quá trình lưu chuyển hàng hóa, dịch vụ… từ điểm khởi nguồn sản xuất đến tay người tiêu dùng cuối cùng với chi phí thấp nhất nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất xã hội được tiến hành nhịp nhàng, liên tục và đáp ứng tốt nhất các nhu cầu của khách hàng”[3].

Ở Singapore, Luật Thương mại và Luật Vận tải không định nghĩa khái niệm và phân loại dịch vụ logistics. Chính phủ Singapore tôn trọng ý kiến của Hiệp hội Logistics Singapore. Trong chương trình đào tạo của mình, Hiệp hội trích dẫn khái niệm “dịch vụ giao nhận và logistics” (freight forwarding and logistics services) theo định nghĩa chính thức của FIATA tại Thông tư CL 04-06 ngày 29/10/2004 thì dịch vụ giao nhận vận tải và logistics là bất kỳ loại dịch vụ nào liên quan đến việc vận chuyển (được thực hiện bởi một hay nhiều phương thức vận tải), gom hàng, lưu trữ, xếp dỡ, xử lý, đóng gói hàng hóa cũng như các dịch vụ tư vấn, cố vấn, bao gồm nhưng không giới hạn về hải quan và các vấn đề tài chính, kê khai hàng hóa theo quy định, mua bảo hiểm, thu hoặc chi các khoản thanh toán hoặc các chứng từ liên quan đến hàng hóa. Dịch vụ giao nhận (hiện đại) cũng bao gồm các dịch vụ logistics với công nghệ thông tin và truyền thông hiện đại tích hợp với việc vận chuyển, xử lý hoặc dự trữ hàng hóa và trên thực tế là quản lý toàn bộ chuỗi cung ứng. Những dịch vụ này có thể được thiết kế riêng biệt để đảm bảo các dịch vụ được cung cấp một cách linh hoạt”[4].

Pháp luật Nhật Bản không có định nghĩa rõ ràng về dịch vụ logistics, thay vào đó, Nhật Bản chia nhỏ các phân ngành của logistics để quy định theo từng lĩnh vực riêng. Tuy nhiên, pháp luật Nhật Bản có định nghĩa về giao nhận hàng hóa (Freight Forwarding) là dịch vụ nhằm mục đích vận chuyển hàng hóa, thông qua người vận tải thực tế đường bộ, đường biển, đường hàng không và đường sắt. Từ “logistics” theo tài liệu huấn luyện của Quỹ Hợp tác Nhật - ASEAN (JAIF) và Hiệp hội Giao nhận Nhật gọi là “hỗ trợ từ phía sau” hay “hậu cần”.

Tại Mỹ có một số khác biệt với châu Âu và các nước khác trong việc định nghĩa và phân loại logistics. Theo Ủy ban Hàng hải Liên bang Hoa Kỳ thì “Logistics là bất kỳ loại dịch vụ gì liên quan đến việc vận tải, gom hàng, lưu trữ, làm hàng, đóng gói hay phân phối hàng hóa cũng như các dịch vụ phụ trợ và tư vấn có liên quan, bao gồm nhưng không giới hạn ở việc làm thủ tục hải quan, và các vấn đề tài chính, kê khai hàng hóa cho mục đích hành chính, mua bảo hiểm hàng hóa và thu thập hoặc thực hiện thanh toán hay các tài liệu liên quan đến hàng hóa”[5].

Tài liệu của Dự án hỗ trợ chính sách thương mại và đầu tư của châu Âu đã định nghĩa: “Logistics là tập hợp của nhiều dịch vụ khác nhau liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới hoạt động vận tải hàng hóa”[6]. Theo phân loại các ngành/phân ngành dịch vụ của EVFTA thì không có khái niệm dịch vụ logistics. Các hoạt động logistics cụ thể thực tế nằm trong các phân ngành dịch vụ hỗ trợ vận tải thuộc ngành dịch vụ vận tải.

Trong bảng Phân nhóm dịch vụ của Liên Hợp Quốc (CPC) không có dịch vụ logistics nói chung mà chỉ có từng dịch vụ cụ thể trong mảng hoạt động logistics. Các cam kết mở cửa của Việt Nam trong WTO, EVFTA cũng như trong các FTA khác đều là cam kết theo từng dịch vụ cụ thể này.

Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 định nghĩa: “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó, thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao”.

Như vậy, dịch vụ logistics được hiểu như một quá trình được tổ chức và quản lý khoa học, phân phối và lưu thông hàng hóa, dịch vụ từ giai đoạn tiền sản xuất cho tới khi hàng hóa tới tay người tiêu dùng cuối cùng[7]. Logistics gắn liền với quá trình sản xuất từ giai đoạn nguyên liệu đầu vào cho đến khi thành phẩm đến tay người tiêu dùng thông qua các kênh phân phối. Logistics là dịch vụ thương mại gồm một chuỗi dịch vụ được tổ chức và quản lý khoa học gắn liền với cả quá trình sản xuất, lưu thông, phân phối, tiêu dùng hàng hóa. Logistics tạo ra giá trị gia tăng bằng cách tạo ra các tiện ích. Logistics là quá trình đảm bảo đúng sản phẩm tại đúng thời điểm vào đúng thời gian yêu cầu và đúng điều kiện và đúng giá cả. Có thể nói, “Logistics bao trùm hoạt động mua sắm, quản lý nhà cung cấp, quản lý nguyên vật liệu, quản lý sản xuất, dự trữ, lưu kho, phân phối, vận chuyển và dịch vụ khách hàng”[8].

2. Quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics

Dịch vụ logistics là ngành nghề kinh doanh có điều kiện, điều kiện này được quy định tại Mục 61 Phụ lục 4 Luật Đầu tư năm 2014[9]; Mục 60 Phụ lục 4 Luật sửa đổi, bổ sung Điều 6 và Phụ lục 4 về Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật Đầu tư; Nghị định số 163/2017/NĐ-CP ngày 30/12/2017 của Chính phủ quy định về kinh doanh dịch vụ logistics ban hành có hiệu lực từ ngày 20/02/2018 (Nghị định số 163/2017/NĐ-CP), thay thế Nghị định số 140/2007/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Thương mại về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics và giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics.

Theo Nghị định số 163/2017/NĐ-CP, các nhà đầu tư nước ngoài có thể đầu tư dưới các hình thức hiện diện thương mại là: Văn phòng đại diện, hợp đồng hợp tác kinh doanh, liên doanh. Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài được thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp của nhà đầu tư nước ngoài không quá 49%, 50% hoặc 51%, hoặc không hạn chế tùy theo từng loại hình dịch vụ logistics được phép cung cấp. Bằng quy định này, Nghị định số 163/2017/NĐ-CP đã mở rộng đối tượng áp dụng ra các doanh nghiệp logistics nước ngoài. Nghị định số 163/2017/NĐ-CP cũng quy định cụ thể các điều kiện đối với nhà đầu tư nước ngoài kinh doanh dịch vụ logistics (khoản 3 Điều 4), trong đó, có nội dung nổi bật là “Nhà đầu tư nước ngoài sẽ được mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp theo tỷ lệ khi kinh doanh dịch vụ logistics liên quan đến vận tải” (quy định hiện hành chỉ cho phép thành lập công ty liên doanh).

Nghị định số 163/2017/NĐ-CP quy định thêm về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics là: Thương nhân tiến hành một phần hoặc toàn bộ hoạt động kinh doanh logistics bằng phương tiện điện tử có kết nối mạng Internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác, ngoài việc phải đáp ứng theo quy định của pháp luật chuyên ngành, còn phải tuân thủ các quy định về thương mại điện tử.

Thương nhân kinh doanh 16 nhóm dịch vụ cụ thể được quy định tại Điều 3 Nghị định số 163/2017/NĐ-CP phải đáp ứng các điều kiện đầu tư, kinh doanh theo quy định của pháp luật đối với từng dịch vụ đó. Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics ngoài việc phải đáp ứng những điều kiện chung thì còn phải tuân thủ các quy định của luật chuyên ngành. Ví dụ, khi doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics thì phải đăng ký ngành kinh doanh dịch vụ logistics vì đây là ngành kinh doanh có điều kiện. Sau đó, khi doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics đó muốn tham gia trực tiếp vào vận tải hàng hóa, thì doanh nghiệp này phải đăng ký ngành nghề vận chuyển và phải đảm bảo các quy định về điều kiện kinh doanh vận tải, như xe ô tô, bến bãi, bộ máy điều hành vận tải, an toàn giao thông có làm dịch vụ khai thuê hải quan thì phải đăng ký đại lý hải quan thì phải có chứng chỉ đại lý khai thuê hải quan, điều kiện cấp chứng chỉ theo quy định của cơ quan hải quan có thẩm quyền. Ví dụ, thương nhân đăng ký kinh doanh vận tải cho xe ô tô thì các chủ thể sở hữu phương tiện phải tuân thủ theo Nghị định số 86/2014/NĐ-CP ngày 10/9/2014 của Chính phủ về kinh doanh và điều kiện kinh doanh vận tải bằng xe ô tô.

Có thể thấy, Nghị định số 163/2017/NĐ-CP đã có những quy định rõ ràng, thông thoáng, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong nước, nước ngoài, các tổ chức, cá nhân có liên quan tham gia vào đầu tư phát triển thị trường dịch vụ logistics Việt Nam. Việc ban hành Nghị định này đã bao quát các dịch vụ logistics, nội luật hóa các cam kết quốc tế về logistics như đề ra trong Kế hoạch hành động nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics đến năm 2025, ban hành theo Quyết định số 200/QĐ-TTg ngày 14/02/2017 của Thủ tướng Chính phủ. Đây là một bước tiến mới của Chính phủ trong việc cải cách thể chế liên quan đến ngành dịch vụ logistics, trong đó, có các quy định cụ thể về đầu tư phát triển dịch vụ logistics của Việt Nam.

3. Đề xuất bỏ điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics ra khỏi ngành nghề kinh doanh có điều kiện

Như trên đã phân tích, hiện nay, theo pháp luật Việt Nam, để kinh doanh dịch vụ logistics, các doanh nghiệp đăng ký kinh doanh đang phải tuân thủ cùng lúc ít nhất hai điều kiện kinh doanh: Một là, điều kiện cho ngành riêng lẻ trong chuỗi và hai là, điều kiện chung của chuỗi logistics khi bị gọi là ngành nghề kinh doanh. Một số chuyên gia cho rằng, bản chất logistics cũng không phải là ngành kinh doanh mang tính chất đặc thù ảnh hưởng đặc biệt nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe đến con người hay đến an ninh quốc gia. Logistics là một ngành mang tính chất kinh tế kinh doanh thông thường với các chuỗi hoạt động có mối liên hệ với nhau mà bất kỳ cá nhân nào cũng có thể kinh doanh, vì vậy, nên bỏ điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics. Dịch vụ logistics cụ thể của ngành luật riêng nào sẽ chịu quy định riêng của ngành đó. Quy định như vậy phù hợp với quan điểm của một số quốc gia có ngành logistics phát triển trên khu vực và thế giới. Ví dụ như, ở Singapore, cơ quan chức năng Singapore không quy định “điều kiện kinh doanh” mà để chính ngành logistics điều tiết hoạt động của nó. Nguyên tắc này gọi là “industry self-regulation”. Pháp luật Singapore không quy định về dịch vụ logistics mà quy định theo từng ngành như vận tải biển, vận tải hàng không... Pháp luật Nhật Bản không có định nghĩa rõ ràng về dịch vụ logistics. Thay vào đó, Nhật Bản chia nhỏ các phân ngành của logistics để quy định theo từng lĩnh vực riêng và từng lĩnh vực riêng đó sẽ chịu giấy phép hoạt động riêng. Cụ thể, quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics: “Điều kiện kinh doanh các loại dịch vụ logistics được quy định theo từng bộ luật riêng cho các lĩnh vực trong ngành logistics” (Tatsuyuki Kose, 2013)[10].

Theo Báo cáo Dòng chảy pháp luật kinh doanh năm 2019 của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam thì các tiêu chí rà soát, bãi bỏ các ngành nghề kinh doanh gồm:

“1. Ngành nghề kinh doanh không liên quan trực tiếp hoặc không chứng minh được có ảnh hướng trực tiếp tới các nội dung quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng (khoản 2 Điều 14 Hiến pháp và khoản 1 Điều 7 Luật Đầu tư);

2. Ngành, nghề đã được quản lý bằng quy chuẩn, tiêu chuẩn;

3. Ngành, nghề mà chất lượng đầu ra của ngành nghề đó do thị trường, khách hàng lựa chọn sàng lọc và quyết định;

4. Các sản phẩm, dịch vụ công ích có thể lựa chọn, kiểm soát thông qua đấu thầu, đặt hàng của Nhà nước”[11].

Đối chiếu các tiêu chí này, dịch vụ logistics nên được bỏ ra khỏi danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện là phù hợp với tiêu chí 3. Trong bối cảnh thị trường cạnh tranh như hiện nay thì tự các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics phải cạnh tranh để nâng cao chất lượng dịch vụ để thu hút khách hàng. Do đó, Nhà nước không cần can thiệp vào vấn đề này bằng các điều kiện kinh doanh.

Logistics không phải là một ngành nghề riêng biệt mà chỉ là một chuỗi hoạt động bao gồm rất nhiều công việc khác nhau liên quan đến nhiều ngành nghề như vận tải, đóng gói, làm thủ tục thuế, hải quan… Đối với từng dịch vụ cụ thể, Nhà nước đã có những điều kiện riêng cho từng ngành nghề (như kinh doanh dịch vụ vận tải, đại lý hải quan...). Việc đưa dịch vụ logistics vào danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện sẽ hạn chế sự phát triển của ngành và sẽ tạo ra gánh nặng chi phí cho doanh nghiệp, giảm sức cạnh tranh và không tạo được động lực cho các chủ thể tham gia kinh doanh dịch vụ này. Vì vậy, nên bỏ dịch vụ logistics là ngành nghề kinh doanh có điều kiện, điều kiện này được quy định tại Mục 61 Phụ lục 4 Luật Đầu tư năm 2014 và Mục 60 Phụ lục 4 Luật sửa đổi, bổ sung Điều 6 và Phụ lục 4 về danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật Đầu tư.

Đào Thị Cấm

Vụ Pháp chế, Bộ Công Thương


[1] www.cscmp.org.

[2] Chandra Lalwani John Mangan, Tim Butcher and Rouya Javadpour (2012), Global Logistics and Supply Chain Management, John Wiley & Sons Inc-Second Edition, page 9.

[3] Nguyễn Đình Hiền & Đặng Đình Đào (2013), Một số vấn đề về phát triển bền vững hệ thống logistics ở nước ta trong hội nhập quốc tế, Nxb. Lao động - Xã hội, tr. 20.

[4] Võ Sỹ Mạnh (2016), Báo cáo rà soát thực trạng quy định pháp luật Việt Nam về dịch vụ logistics và kinh nghiệm quốc tế về quản lý dịch vụ logistics, đề xuất sửa đổi Nghị định số 140/2007/NĐ-CP ngày 05/9/2007 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về điều kiện kinh doanh dịch vụ lô-gi-stíc và giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ lô-gi-stíc, Báo Người Lao động tháng 10/2016.

[5] Võ Sỹ Mạnh (2016), Tlđd.

[6] Eu-Mutrap (2017), EVFTA với ngành logistics Việt Nam, http://www.trungtamwto.vn/an-pham/10684-evfta-va-nganh-logistics-viet-nam.

[7] Nguyễn Đình Hiền & Đặng Đình Đào (2013), Một số vấn đề về phát triển bền vững hệ thống logistics ở nước ta trong hội nhập quốc tế, Nxb. Lao động - Xã hội, tr. 18.

[8] Hoàng Văn Châu (2009), Giáo trình Logistics và Vận tải quốc tế, Nxb. Thông tin và Truyền thông, tr. 9.

[9] Luật Đầu tư năm 2014.

[10] Võ Sỹ Mạnh (2016), Tlđd.

[11] Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (2019), Báo cáo Dòng chảy pháp luật kinh doanh năm 2019, Nxb. Công Thương, Bộ Công Thương, tr. 40.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: