Thứ bảy 17/10/2026 12:48
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Đề xuất bỏ dịch vụ logistics ra khỏi danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện

Bài viết phân tích quy định pháp luật hiện hành về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics và đưa ra cơ sở của việc đề xuất bỏ dịch vụ này ra khỏi danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics và giúp cho ngành logistics phát triển.


1. Cơ sở đề xuất bỏ dịch vụ logistics ra khỏi danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện

Theo nghiên cứu của tác giả, về bản chất, dịch vụ logistics không phải là ngành nghề độc lập.

Hội đồng quản lý logistics Hoa Kỳ (Council of Logistics Management Professionals) đã định nghĩa: “Logistics là quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm soát quá trình lưu chuyển, dự trữ hàng hóa, dịch vụ và những thông tin liên quan từ điểm xuất phát đầu tiên đến nơi tiêu thụ cuối cùng sao cho hiệu quả và phù hợp với yêu cầu của khách hàng”[1].

Nhóm tác giả John Mangan, Chandra Lalwani, Tim Butcher and Rouya Javadpour trong công trình nghiên cứu của mình đã sử dụng định nghĩa này và thêm các từ gạch chân góp phần làm cho nó cụ thể và chặt chẽ hơn: “Logistics là quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm soát việc vận chuyển và lưu trữ hàng hóa bao gồm các dịch vụ và những thông tin liên quan từ điểm xuất phát đầu tiên đến nơi tiêu thụ cuối cùng sao cho hiệu quả và phù hợp với yêu cầu của khách hàng”[2].

Theo tác giả Đặng Đình Đào thì “Logistics là quá trình phân phối và lưu thông hàng hóa được tổ chức và quản lý khoa học việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm soát quá trình lưu chuyển hàng hóa, dịch vụ… từ điểm khởi nguồn sản xuất đến tay người tiêu dùng cuối cùng với chi phí thấp nhất nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất xã hội được tiến hành nhịp nhàng, liên tục và đáp ứng tốt nhất các nhu cầu của khách hàng”[3].

Ở Singapore, Luật Thương mại và Luật Vận tải không định nghĩa khái niệm và phân loại dịch vụ logistics. Chính phủ Singapore tôn trọng ý kiến của Hiệp hội Logistics Singapore. Trong chương trình đào tạo của mình, Hiệp hội trích dẫn khái niệm “dịch vụ giao nhận và logistics” (freight forwarding and logistics services) theo định nghĩa chính thức của FIATA tại Thông tư CL 04-06 ngày 29/10/2004 thì dịch vụ giao nhận vận tải và logistics là bất kỳ loại dịch vụ nào liên quan đến việc vận chuyển (được thực hiện bởi một hay nhiều phương thức vận tải), gom hàng, lưu trữ, xếp dỡ, xử lý, đóng gói hàng hóa cũng như các dịch vụ tư vấn, cố vấn, bao gồm nhưng không giới hạn về hải quan và các vấn đề tài chính, kê khai hàng hóa theo quy định, mua bảo hiểm, thu hoặc chi các khoản thanh toán hoặc các chứng từ liên quan đến hàng hóa. Dịch vụ giao nhận (hiện đại) cũng bao gồm các dịch vụ logistics với công nghệ thông tin và truyền thông hiện đại tích hợp với việc vận chuyển, xử lý hoặc dự trữ hàng hóa và trên thực tế là quản lý toàn bộ chuỗi cung ứng. Những dịch vụ này có thể được thiết kế riêng biệt để đảm bảo các dịch vụ được cung cấp một cách linh hoạt”[4].

Pháp luật Nhật Bản không có định nghĩa rõ ràng về dịch vụ logistics, thay vào đó, Nhật Bản chia nhỏ các phân ngành của logistics để quy định theo từng lĩnh vực riêng. Tuy nhiên, pháp luật Nhật Bản có định nghĩa về giao nhận hàng hóa (Freight Forwarding) là dịch vụ nhằm mục đích vận chuyển hàng hóa, thông qua người vận tải thực tế đường bộ, đường biển, đường hàng không và đường sắt. Từ “logistics” theo tài liệu huấn luyện của Quỹ Hợp tác Nhật - ASEAN (JAIF) và Hiệp hội Giao nhận Nhật gọi là “hỗ trợ từ phía sau” hay “hậu cần”.

Tại Mỹ có một số khác biệt với châu Âu và các nước khác trong việc định nghĩa và phân loại logistics. Theo Ủy ban Hàng hải Liên bang Hoa Kỳ thì “Logistics là bất kỳ loại dịch vụ gì liên quan đến việc vận tải, gom hàng, lưu trữ, làm hàng, đóng gói hay phân phối hàng hóa cũng như các dịch vụ phụ trợ và tư vấn có liên quan, bao gồm nhưng không giới hạn ở việc làm thủ tục hải quan, và các vấn đề tài chính, kê khai hàng hóa cho mục đích hành chính, mua bảo hiểm hàng hóa và thu thập hoặc thực hiện thanh toán hay các tài liệu liên quan đến hàng hóa”[5].

Tài liệu của Dự án hỗ trợ chính sách thương mại và đầu tư của châu Âu đã định nghĩa: “Logistics là tập hợp của nhiều dịch vụ khác nhau liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới hoạt động vận tải hàng hóa”[6]. Theo phân loại các ngành/phân ngành dịch vụ của EVFTA thì không có khái niệm dịch vụ logistics. Các hoạt động logistics cụ thể thực tế nằm trong các phân ngành dịch vụ hỗ trợ vận tải thuộc ngành dịch vụ vận tải.

Trong bảng Phân nhóm dịch vụ của Liên Hợp Quốc (CPC) không có dịch vụ logistics nói chung mà chỉ có từng dịch vụ cụ thể trong mảng hoạt động logistics. Các cam kết mở cửa của Việt Nam trong WTO, EVFTA cũng như trong các FTA khác đều là cam kết theo từng dịch vụ cụ thể này.

Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 định nghĩa: “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó, thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao”.

Như vậy, dịch vụ logistics được hiểu như một quá trình được tổ chức và quản lý khoa học, phân phối và lưu thông hàng hóa, dịch vụ từ giai đoạn tiền sản xuất cho tới khi hàng hóa tới tay người tiêu dùng cuối cùng[7]. Logistics gắn liền với quá trình sản xuất từ giai đoạn nguyên liệu đầu vào cho đến khi thành phẩm đến tay người tiêu dùng thông qua các kênh phân phối. Logistics là dịch vụ thương mại gồm một chuỗi dịch vụ được tổ chức và quản lý khoa học gắn liền với cả quá trình sản xuất, lưu thông, phân phối, tiêu dùng hàng hóa. Logistics tạo ra giá trị gia tăng bằng cách tạo ra các tiện ích. Logistics là quá trình đảm bảo đúng sản phẩm tại đúng thời điểm vào đúng thời gian yêu cầu và đúng điều kiện và đúng giá cả. Có thể nói, “Logistics bao trùm hoạt động mua sắm, quản lý nhà cung cấp, quản lý nguyên vật liệu, quản lý sản xuất, dự trữ, lưu kho, phân phối, vận chuyển và dịch vụ khách hàng”[8].

2. Quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics

Dịch vụ logistics là ngành nghề kinh doanh có điều kiện, điều kiện này được quy định tại Mục 61 Phụ lục 4 Luật Đầu tư năm 2014[9]; Mục 60 Phụ lục 4 Luật sửa đổi, bổ sung Điều 6 và Phụ lục 4 về Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật Đầu tư; Nghị định số 163/2017/NĐ-CP ngày 30/12/2017 của Chính phủ quy định về kinh doanh dịch vụ logistics ban hành có hiệu lực từ ngày 20/02/2018 (Nghị định số 163/2017/NĐ-CP), thay thế Nghị định số 140/2007/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Thương mại về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics và giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics.

Theo Nghị định số 163/2017/NĐ-CP, các nhà đầu tư nước ngoài có thể đầu tư dưới các hình thức hiện diện thương mại là: Văn phòng đại diện, hợp đồng hợp tác kinh doanh, liên doanh. Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài được thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp của nhà đầu tư nước ngoài không quá 49%, 50% hoặc 51%, hoặc không hạn chế tùy theo từng loại hình dịch vụ logistics được phép cung cấp. Bằng quy định này, Nghị định số 163/2017/NĐ-CP đã mở rộng đối tượng áp dụng ra các doanh nghiệp logistics nước ngoài. Nghị định số 163/2017/NĐ-CP cũng quy định cụ thể các điều kiện đối với nhà đầu tư nước ngoài kinh doanh dịch vụ logistics (khoản 3 Điều 4), trong đó, có nội dung nổi bật là “Nhà đầu tư nước ngoài sẽ được mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp theo tỷ lệ khi kinh doanh dịch vụ logistics liên quan đến vận tải” (quy định hiện hành chỉ cho phép thành lập công ty liên doanh).

Nghị định số 163/2017/NĐ-CP quy định thêm về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics là: Thương nhân tiến hành một phần hoặc toàn bộ hoạt động kinh doanh logistics bằng phương tiện điện tử có kết nối mạng Internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác, ngoài việc phải đáp ứng theo quy định của pháp luật chuyên ngành, còn phải tuân thủ các quy định về thương mại điện tử.

Thương nhân kinh doanh 16 nhóm dịch vụ cụ thể được quy định tại Điều 3 Nghị định số 163/2017/NĐ-CP phải đáp ứng các điều kiện đầu tư, kinh doanh theo quy định của pháp luật đối với từng dịch vụ đó. Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics ngoài việc phải đáp ứng những điều kiện chung thì còn phải tuân thủ các quy định của luật chuyên ngành. Ví dụ, khi doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics thì phải đăng ký ngành kinh doanh dịch vụ logistics vì đây là ngành kinh doanh có điều kiện. Sau đó, khi doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics đó muốn tham gia trực tiếp vào vận tải hàng hóa, thì doanh nghiệp này phải đăng ký ngành nghề vận chuyển và phải đảm bảo các quy định về điều kiện kinh doanh vận tải, như xe ô tô, bến bãi, bộ máy điều hành vận tải, an toàn giao thông có làm dịch vụ khai thuê hải quan thì phải đăng ký đại lý hải quan thì phải có chứng chỉ đại lý khai thuê hải quan, điều kiện cấp chứng chỉ theo quy định của cơ quan hải quan có thẩm quyền. Ví dụ, thương nhân đăng ký kinh doanh vận tải cho xe ô tô thì các chủ thể sở hữu phương tiện phải tuân thủ theo Nghị định số 86/2014/NĐ-CP ngày 10/9/2014 của Chính phủ về kinh doanh và điều kiện kinh doanh vận tải bằng xe ô tô.

Có thể thấy, Nghị định số 163/2017/NĐ-CP đã có những quy định rõ ràng, thông thoáng, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong nước, nước ngoài, các tổ chức, cá nhân có liên quan tham gia vào đầu tư phát triển thị trường dịch vụ logistics Việt Nam. Việc ban hành Nghị định này đã bao quát các dịch vụ logistics, nội luật hóa các cam kết quốc tế về logistics như đề ra trong Kế hoạch hành động nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics đến năm 2025, ban hành theo Quyết định số 200/QĐ-TTg ngày 14/02/2017 của Thủ tướng Chính phủ. Đây là một bước tiến mới của Chính phủ trong việc cải cách thể chế liên quan đến ngành dịch vụ logistics, trong đó, có các quy định cụ thể về đầu tư phát triển dịch vụ logistics của Việt Nam.

3. Đề xuất bỏ điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics ra khỏi ngành nghề kinh doanh có điều kiện

Như trên đã phân tích, hiện nay, theo pháp luật Việt Nam, để kinh doanh dịch vụ logistics, các doanh nghiệp đăng ký kinh doanh đang phải tuân thủ cùng lúc ít nhất hai điều kiện kinh doanh: Một là, điều kiện cho ngành riêng lẻ trong chuỗi và hai là, điều kiện chung của chuỗi logistics khi bị gọi là ngành nghề kinh doanh. Một số chuyên gia cho rằng, bản chất logistics cũng không phải là ngành kinh doanh mang tính chất đặc thù ảnh hưởng đặc biệt nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe đến con người hay đến an ninh quốc gia. Logistics là một ngành mang tính chất kinh tế kinh doanh thông thường với các chuỗi hoạt động có mối liên hệ với nhau mà bất kỳ cá nhân nào cũng có thể kinh doanh, vì vậy, nên bỏ điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics. Dịch vụ logistics cụ thể của ngành luật riêng nào sẽ chịu quy định riêng của ngành đó. Quy định như vậy phù hợp với quan điểm của một số quốc gia có ngành logistics phát triển trên khu vực và thế giới. Ví dụ như, ở Singapore, cơ quan chức năng Singapore không quy định “điều kiện kinh doanh” mà để chính ngành logistics điều tiết hoạt động của nó. Nguyên tắc này gọi là “industry self-regulation”. Pháp luật Singapore không quy định về dịch vụ logistics mà quy định theo từng ngành như vận tải biển, vận tải hàng không... Pháp luật Nhật Bản không có định nghĩa rõ ràng về dịch vụ logistics. Thay vào đó, Nhật Bản chia nhỏ các phân ngành của logistics để quy định theo từng lĩnh vực riêng và từng lĩnh vực riêng đó sẽ chịu giấy phép hoạt động riêng. Cụ thể, quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics: “Điều kiện kinh doanh các loại dịch vụ logistics được quy định theo từng bộ luật riêng cho các lĩnh vực trong ngành logistics” (Tatsuyuki Kose, 2013)[10].

Theo Báo cáo Dòng chảy pháp luật kinh doanh năm 2019 của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam thì các tiêu chí rà soát, bãi bỏ các ngành nghề kinh doanh gồm:

“1. Ngành nghề kinh doanh không liên quan trực tiếp hoặc không chứng minh được có ảnh hướng trực tiếp tới các nội dung quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng (khoản 2 Điều 14 Hiến pháp và khoản 1 Điều 7 Luật Đầu tư);

2. Ngành, nghề đã được quản lý bằng quy chuẩn, tiêu chuẩn;

3. Ngành, nghề mà chất lượng đầu ra của ngành nghề đó do thị trường, khách hàng lựa chọn sàng lọc và quyết định;

4. Các sản phẩm, dịch vụ công ích có thể lựa chọn, kiểm soát thông qua đấu thầu, đặt hàng của Nhà nước”[11].

Đối chiếu các tiêu chí này, dịch vụ logistics nên được bỏ ra khỏi danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện là phù hợp với tiêu chí 3. Trong bối cảnh thị trường cạnh tranh như hiện nay thì tự các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics phải cạnh tranh để nâng cao chất lượng dịch vụ để thu hút khách hàng. Do đó, Nhà nước không cần can thiệp vào vấn đề này bằng các điều kiện kinh doanh.

Logistics không phải là một ngành nghề riêng biệt mà chỉ là một chuỗi hoạt động bao gồm rất nhiều công việc khác nhau liên quan đến nhiều ngành nghề như vận tải, đóng gói, làm thủ tục thuế, hải quan… Đối với từng dịch vụ cụ thể, Nhà nước đã có những điều kiện riêng cho từng ngành nghề (như kinh doanh dịch vụ vận tải, đại lý hải quan...). Việc đưa dịch vụ logistics vào danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện sẽ hạn chế sự phát triển của ngành và sẽ tạo ra gánh nặng chi phí cho doanh nghiệp, giảm sức cạnh tranh và không tạo được động lực cho các chủ thể tham gia kinh doanh dịch vụ này. Vì vậy, nên bỏ dịch vụ logistics là ngành nghề kinh doanh có điều kiện, điều kiện này được quy định tại Mục 61 Phụ lục 4 Luật Đầu tư năm 2014 và Mục 60 Phụ lục 4 Luật sửa đổi, bổ sung Điều 6 và Phụ lục 4 về danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật Đầu tư.

Đào Thị Cấm

Vụ Pháp chế, Bộ Công Thương


[1] www.cscmp.org.

[2] Chandra Lalwani John Mangan, Tim Butcher and Rouya Javadpour (2012), Global Logistics and Supply Chain Management, John Wiley & Sons Inc-Second Edition, page 9.

[3] Nguyễn Đình Hiền & Đặng Đình Đào (2013), Một số vấn đề về phát triển bền vững hệ thống logistics ở nước ta trong hội nhập quốc tế, Nxb. Lao động - Xã hội, tr. 20.

[4] Võ Sỹ Mạnh (2016), Báo cáo rà soát thực trạng quy định pháp luật Việt Nam về dịch vụ logistics và kinh nghiệm quốc tế về quản lý dịch vụ logistics, đề xuất sửa đổi Nghị định số 140/2007/NĐ-CP ngày 05/9/2007 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về điều kiện kinh doanh dịch vụ lô-gi-stíc và giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ lô-gi-stíc, Báo Người Lao động tháng 10/2016.

[5] Võ Sỹ Mạnh (2016), Tlđd.

[6] Eu-Mutrap (2017), EVFTA với ngành logistics Việt Nam, http://www.trungtamwto.vn/an-pham/10684-evfta-va-nganh-logistics-viet-nam.

[7] Nguyễn Đình Hiền & Đặng Đình Đào (2013), Một số vấn đề về phát triển bền vững hệ thống logistics ở nước ta trong hội nhập quốc tế, Nxb. Lao động - Xã hội, tr. 18.

[8] Hoàng Văn Châu (2009), Giáo trình Logistics và Vận tải quốc tế, Nxb. Thông tin và Truyền thông, tr. 9.

[9] Luật Đầu tư năm 2014.

[10] Võ Sỹ Mạnh (2016), Tlđd.

[11] Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (2019), Báo cáo Dòng chảy pháp luật kinh doanh năm 2019, Nxb. Công Thương, Bộ Công Thương, tr. 40.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: