Thứ ba 06/10/2026 15:46
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Địa vị pháp lý của bị hại trong tố tụng hình sự

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 có nhiều chế định liên quan đến người tham gia tố tụng đã được sửa đổi và hoàn thiện, đáp ứng được yêu cầu của việc giải quyết án hình sự, trong đó nổi bật là quy định về bị hại. Trước đây, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định “người bị hại là người…”, từ “người” ở đây có hàm ý chỉ một thể nhân cụ thể, không phải là cơ quan, tổ chức vì thể nhân mới phù hợp với thiệt hại mang tính đặc trưng là “thể chất, tinh thần” thứ mà cơ quan, tổ chức không thể có.

Do đó, trong quá trình giải quyết vụ án, thể nhân bị thiệt hại thì đương nhiên được xác định tư cách tham gia tố tụng là người bị hại nhưng đối với cơ quan, tổ chức bị tội phạm tác động trực tiếp và bị thiệt hại thì lại không được đương nhiên xác định là người bị hại. Để được tham gia tố tụng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, cơ quan, tổ chức buộc phải có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại để được xác định tư cách tham gia tố tụng là nguyên đơn dân sự hoặc được cơ quan tiến hành tố tụng (THTT) xác định là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, việc mà đáng lẽ ra theo khoa học pháp lý và thực tiễn áp dụng pháp luật thì cơ quan, tổ chức đó phải là bị hại. Vì vậy, nếu cứ quy định buộc cơ quan, tổ chức tham gia vụ án với vai trò nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan thì sẽ khiên cưỡng và không thể bảo đảm được quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể này đặc biệt là quyền kháng cáo bản án.

Từ những vướng mắc trên, Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã định danh lại quy định bị hại không chỉ là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản mà còn là cơ quan, tổ chức (có hoặc không có tư cách pháp nhân) bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra. Với quy định mới này, phạm vi về chủ thể và các dạng thiệt hại đối với bị hại đã được mở rộng và mang tính bao quát, toàn diện hơn. Việc định danh lại thuật ngữ bị hại đã đáp ứng được yêu cầu cấp thiết trong việc bảo đảm tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể bị thiệt hại do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra đặc biệt là đối với cơ quan, tổ chức cũng như đảm bảo tính thống nhất trong việc xác định tư cách tố tụng của các cơ quan THTT.

1. Về địa vị pháp lý của bị hại trong tố tụng hình sự

Địa vị pháp lý của bị hại chính là tổng hợp quyền và nghĩa vụ pháp lý khi tham gia tố tụng hình sự (TTHS) và được quy phạm pháp luật TTHS điều chỉnh. Bị hại là chủ thể tham gia TTHS để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị tội phạm xâm phạm. Quyền năng pháp lý và nghĩa vụ pháp lý của bị hại được quy định phù hợp với Hiến pháp năm 2013 và các nguyên tắc cơ bản trong TTHS.

1.1. Về quyền của bị hại

Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến khách thể được luật hình sự bảo vệ như: Tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm và tài sản… vì vậy, cần phải có những biện pháp cụ thể để bảo vệ, khắc phục thiệt hại, khôi phục lại một phần hoặc toàn bộ tình trạng ban đầu do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra. Do vậy, khi tham gia TTHS, bị hại phải được đảm bảo thực hiện đúng và đầy đủ các quyền năng pháp lý mà pháp luật quy định.

Trước năm 2015, dù pháp luật đã quy định cụ thể quyền năng pháp lý của bị hại nhưng chưa đầy đủ và mang tính rải rác. Chính điều này dẫn đến trường hợp quên hoặc bỏ sót khi áp dụng pháp luật hoặc chỉ tập trung vào việc trừng trị kẻ phạm tội mà chưa chú trọng đến các nhóm quyền năng của bị hại. Với quy định mới tại Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, các nhóm quyền của bị hại đã được quy định cụ thể và tập trung trong một điều luật, cụ thể như sau:

Một là, nhóm các quyền mặc nhiên: Đây là nhóm các quyền mà pháp luật quy định bị hại đương nhiên được hưởng, không phụ thuộc vào bất kỳ một nghĩa vụ hay tiêu chuẩn nào và cơ quan THTT phải có nghĩa vụ tạo mọi điều kiện cần thiết để các quyền này được đảm bảo thực hiện trong thực tiễn ở mỗi giai đoạn tố tụng. Các nhóm quyền này bao gồm: (i) Quyền được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ khi bị hại tham gia các hoạt động tố tụng như lấy lời khai, đối chất, nhận dạng, thực nghiệm điều tra, xét xử… thì cơ quan THTT bắt buộc có trách nhiệm thực hiện; (ii) Ở mỗi giai đoạn tố tụng, khi cơ quan THTT ban hành các văn bản tố tụng về kết quả giải quyết như: Kết luận điều tra, cáo trạng, bản án, các quyết định tố tụng khác đều phải có trách nhiệm gửi hoặc thông báo cho bị hại biết theo thời gian luật định, bởi bị hại đương nhiên có quyền được biết để trên cơ sở đó có những chuẩn bị cần thiết cho việc tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình; (iii) Nếu như trước đây, bị hại chỉ tham gia phiên tòa một cách bị động để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì hiện nay, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã trao quyền chủ động cho bị hại khi tham gia phiên tòa để trình bày ý kiến, hỏi bị cáo và những người khác tham gia phiên tòa; tranh luận tại phiên tòa nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; xem biên bản phiên tòa. Đây là các quyền thể hiện vị thế tố tụng của bị hại, đồng thời, thông qua quyền này, có thể giúp làm sáng tỏ các tình tiết, những mâu thuẫn, thiếu sót của vụ án mà các cơ quan THTT chưa được giải quyết hoặc giải quyết chưa đầy đủ, chưa khách quan, toàn diện; (iv) Bị hại là chủ thể trực tiếp bị thiệt hại, với mong muốn được bồi thường thiệt hại, bù đắp những tổn thất về tinh thần, tài sản, được xin lỗi, cải chính công khai… thì ngoài việc tự mình bảo vệ thì bị hại có thể nhờ người khác có trình độ chuyên môn, hiểu biết pháp luật như luật sư, trợ giúp viên pháp lý… để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, bởi lẽ, không phải lúc nào bị hại cũng tự bảo vệ được mình do các yếu tố về trình độ nhận thức, sự hiểu biết về pháp luật, cùng với sự bất ổn về tinh thần do hành vi phạm tội gây ra; (v) Tham gia các hoạt động tố tụng là quyền năng thể hiện vị trí và vai trò của bị hại khi tham gia tố tụng hình sự. Từ đó, bị hại sẽ chủ động hơn trong việc tham gia giải quyết vụ án ngay từ đầu để bảo vệ quyền lợi của mình. Tuy nhiên, việc tham gia hoạt động tố tụng của bị hại phải tuân thủ những điều kiện của pháp luật để đảm bảo tính khách quan, tính khả thi, không gây khó khăn và cản trở đến hoạt động của các cơ quan THTT; (vi) Quá trình giải quyết vụ án, quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại đã được các cơ quan THTT bảo vệ theo các quy định của pháp luật, tuy nhiên vẫn có trường hợp việc bảo vệ quyền lợi cho bị hại chưa trọn vẹn, triệt để hoặc chưa thỏa mãn được các yêu cầu của bị hại. Chính vì vậy, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã trao cho bị hại quyền được kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án, khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người THTT nếu bị hại cho rằng chưa được đảm bảo đầy đủ các quyền, lợi ích chính đáng được hưởng cũng như có sự vi phạm đến từ cơ quan THTT xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

Hai là, nhóm các quyền yêu cầu: Đây là nhóm các quyền mà các cơ quan THTT phải tạo điều kiện, xem xét thực hiện trên cơ sở yêu cầu, đề nghị từ phía bị hại. Do đó, các quyền này chỉ phát sinh nếu đáp ứng hai điều kiện đó là: Có yêu cầu của bị hại và các yêu cầu này phải mang tính khả thi, tính hợp pháp, bao gồm:

(i) Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu là quyền của bị hại trong việc đưa ra các loại vật chứng, tài liệu, dữ liệu điện tử, các yêu cầu… để góp phần chứng minh tội phạm, người phạm tội, thiệt hại và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án, đặc biệt đối với những vụ án khởi tố theo yêu cầu của bị hại nhằm bảo vệ, khôi phục hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền bảo vệ, khôi phục lại những thiệt hại do tội phạm gây ra hoặc đe doạ gây ra, phù hợp với các quy định về thu thập chứng cứ của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Cùng với đó, bị hại có quyền trình bày ý kiến về những chứng cứ, tài liệu, đồ vật này hoặc yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá về nguồn gốc, cách thức thu thập, bảo quản và mối quan hệ giữa chứng cứ, tài liệu, đồ vật đối với vụ án hình sự nhằm đảm bảo cho việc tất cả các tài liệu, đồ vật, yêu cầu của bị hại đưa ra đều được xem xét, kiểm tra, đánh giá;

(ii) Kết quả của hoạt động trưng cầu giám định, định giá tài sản là một trong những nguồn chứng cứ quan trọng đối với việc giải quyết vụ án hình sự, là cơ sở tiên quyết cho việc khởi tố vụ án như: Tội Trộm cắp tài sản (Điều 173); Tội Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 134)... Do đó, việc đảm bảo quyền yêu cầu của bị hại đối với hoạt động trưng cầu giám định, định giá tài sản sẽ tạo được sự thống nhất với các quy định của Luật Giám định tư pháp năm 2012 và các văn bản hướng dẫn về định giá tài sản của Chính phủ;

(iii) Thay đổi người có thẩm quyền tố tụng và người tham gia tố tụng khác nhằm đảm bảo sự công bằng, nghiêm minh của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Đặc biệt, khi quyền, lợi ích hợp pháp của bị hại đối lập với người phạm tội nên rất cần những người THTT, người tham gia tố tụng phải thực sự khách quan và vô tư. Chính vì vậy, nếu có căn cứ xác định người có thẩm quyền THTT, người tham gia tố tụng không khách quan, vô tư thì bị hại có quyền đề nghị thay đổi để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của mình;

(iv) Bị hại là chủ thể trực tiếp bị thiệt hại của hành vi phạm tội nên chính tự thân bị hại sẽ hiểu rõ nhất hệ quả của những thiệt hại đó, do đó, bị hại phải được quyền đề nghị hình phạt, đề nghị mức bồi thường thiệt hại, biện pháp bảo đảm bồi thường đối với bị cáo để đảm bảo vụ án được việc xử lý nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, khôi phục được một phần thiệt hại đối với những mất mát đã xảy ra. Tất nhiên, việc hội đồng xét xử quyết định hình phạt, mức bồi thường, biện pháp bảo đảm đối với bị cáo như thế nào còn phải căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu khác và các quy định của pháp luật;

(v) Bị hại là chủ thể tham gia tố tụng có địa vị pháp lý độc lập, đối lập về lợi ích với bị can, bị cáo nên bị hại và người thân thích của bị hại có nguy cơ bị đe dọa hoặc trực tiếp bị xâm hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản khi tham gia TTHS. Thực tiễn giải quyết vụ án hình sự cho thấy không ít trường hợp bị hại hoặc người thân thích của họ bị đe dọa, khống chế, mua chuộc để ngăn chặn bị hại khai báo với cơ quan THTT. Do đó, quyền yêu cầu cơ quan THTT phải có những biện pháp để bảo vệ mình và người thân thích của bị hại là nhu cầu cấp thiết và chính đáng, thể hiện tránh nhiệm của Nhà nước trong việc đảm bảo quyền lợi của công dân;

(vi) Về mặt nguyên tắc chung, khởi tố vụ án hình sự là quyền và trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm duy trì trật tự và công lý, không phụ thuộc vào ý muốn cá nhân và không ai có thể can thiệp. Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhất định, xuất phát từ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, pháp luật quy định cho phép bị hại lựa chọn quyền yêu cầu khởi tố hoặc không khởi tố vụ án. Đây là những trường hợp mà hành vi phạm tội vừa xâm phạm trật tự xã hội, vừa xâm phạm trực tiếp đến thể chất, sức khoẻ, danh dự của bị hại. Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi có yêu cầu của bị hại đối với một số tội quy định tại khoản 1 điều luật như các tội: Cố ý gây thương tích, hiếp dâm, cưỡng dâm, làm nhục người khác… của Bộ luật Hình sự năm 2015. Những trường hợp này nếu bắt buộc phải khởi tố vụ án thì lợi ích về mặt xã hội thu được không lớn và có khả năng làm tổn thương thêm về mặt tinh thần cho bị hại. Vì vậy, Bộ luật Tố tụng hình sự năm đã xác lập khả năng, điều kiện để bị hại cân nhắc, quyết định có yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý về mặt hình sự đối với hành vi phạm tội hay không. Với quy định này, đã tạo điều kiện cho người phạm tội có cơ hội thuận lợi để khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra. Trường hợp không có yêu cầu khởi tố của bị hại, thì cơ quan có thẩm quyền khởi tố không được khởi tố, trường hợp là người chưa thành niên hoặc là người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết mà không thể hiện được ý chí của mình thì khi có sự đồng ý của người đại diện mới được khởi tố;

(vii) Bên cạnh quyền yêu cầu khởi tố, bị hại cũng được quyền rút đơn yêu cầu khởi tố ở bất kỳ thời điểm nào của các giai đoạn tố tụng, kể cả tại phiên tòa xét xử phúc thẩm. Đây là quy định mới nhằm tôn trọng ý chí của bị hại và tạo điều kiện cho người phạm tội khắc phục hậu quả, hạn chế việc gây thêm những tổn thất, mất mát về mặt tinh thần, danh dự không cần thiết có thể có đối với người bị hại.

1.2. Về nghĩa vụ của bị hại

Bên cạnh các quyền được pháp luật đảm bảo thì bị hại phải thực hiện các nghĩa vụ trong việc giúp cơ quan THTT xác định sự thật khách quan, giúp cho quá trình giải quyết vụ án nhanh chóng, kịp thời, nghiêm minh. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã mở rộng nghĩa vụ, trách nhiệm của bị hại trong quá trình tham gia tố tụng, đồng thời gắn với đó là biện pháp cưỡng chế đi kèm để bảo đảm nghĩa vụ phải được thực hiện trên thực tế. Theo đó, khi tham gia tố tụng, bị hại có các nghĩa vụ cơ bản sau: (i) Phải có mặt theo giấy triệu tập của người có thẩm THTT nếu không vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan để trình bày những vấn đề có liên quan đến vụ án mà họ biết một cách trung thực, khách quan để cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá. Trường hợp bị hại cố ý vắng mặt thì có thể bị áp dụng biện pháp cưỡng chế dẫn giải. Sự có mặt của bị hại có vai trò rất quan trọng, nhất là đối với những vụ án khởi tố theo yêu cầu bởi nếu bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt thì việc điều tra, truy tố, xét xử sẽ gặp khó khăn trong việc thu thập, đánh giá chứng cứ và có thể dẫn đến oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm, bên cạnh đó, quyền lợi của bị hại cũng khó được bảo đảm; (ii) Chấp hành quyết định, yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền THTT là việc thực hiện hoặc không thực hiện một việc trong TTHS như có mặt theo giấy triệu tập, thực hiện việc giao nộp các tài liệu, vật chứng, chứng cứ, tham gia các hoạt động điều tra như đối chất, nhận dạng, trưng cầu giám định…

Bên cạnh đó, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã loại bỏ trách nhiệm hình sự đối với bị hại trong trường hợp từ chối khai báo mà không có lý do chính đáng, quy định này đã thể hiện tính nhân văn của pháp luật trong việc bảo vệ bị hại. Mặt khác cũng xác định trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan THTT.

2. Một số hạn chế về pháp luật và kiến nghị hoàn thiện

Thứ nhất, về xác định tư cách tham gia tố tụng của bị hại chưa cụ thể, rõ ràng đối với cơ quan, tổ chức. Bởi lẽ, Điều 62 và Điều 63 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cùng quy định cơ quan, tổ chức bị thiệt hại do tội phạm gây ra, vậy trường hợp nào được xác định là bị hại, trường hợp nào được xác định là nguyên đơn dân sự. Với mỗi tư cách tham gia tố tụng khác nhau thì phạm vi quyền kháng cáo cũng khác nhau, trong khi bị hại được kháng cáo toàn bộ bản án, quyết định của Tòa án thì nguyên đơn dân sự chỉ được kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án về phần bồi thường thiệt hại, điều này sẽ đánh mất tính công bằng trong việc tham gia tố tụng.

Thứ hai, đối với những thiệt hại của cơ quan, tổ chức về tài sản thì có căn cứ xác định và được bồi thường theo nguyên tắc ngang giá. Tuy nhiên, việc xác định thiệt hại về uy tín của cơ quan, tổ chức do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra còn gặp nhiều khó khăn trong việc xác định như thế nào là ảnh hưởng đến uy tín của cơ quan, tổ chức (ví dụ: Doanh nghiệp liên doanh, đại diện thương hiệu, cơ sở được ủy quyền, chi nhánh doanh nghiệp… thì xác định thiệt hại như thế nào?). Quy định này mang tính trừu tượng, khó phân định chính xác uy tín bị thiệt hại đến mức độ nào và trong cấu thành tội phạm cũng không coi thiệt hại về uy tín là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt. Vì vậy, cần phải có hướng dẫn cụ thể thiệt hại về uy tín của cơ quan, tổ chức, hình thức xâm hại đến uy tín, mức độ thiệt hại về uy tín, phương thức bồi thường và khắc phục hậu quả thiệt hại về uy tín trong trường hợp có khả năng gây ra hậu quả về tài sản. Bên cạnh đó, nếu điều luật đã quy định thiệt hại về uy tín của cơ quan, tổ chức thì cũng cần xem xét bổ sung thiệt hại về uy tín của thể nhân để đảm bảo sự công bằng khi tham gia tố tụng của các chủ thể.

Thứ ba, người bị hại chỉ có thể bị dẫn giải nếu họ từ chối giám định do từ chối triệu tập của người có thẩm quyền THTT theo điểm b khoản 2 Điều 127 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Trong khi đó, điểm a khoản 4 Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì người bị hại có thể bị áp dụng biện pháp dẫn giải nếu cố ý vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan kể cả trong trường hợp được triệu tập để tham gia tất cả các hoạt động tố tụng.

Từ những phân tích trên, theo tác giả, cần sửa đổi Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 như sau:

“Điều 62. Bị hại

1. Bị hại là cá nhân, cơ quan, tổ chức trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra.

2…

4.

a) Có mặt theo giấy triệu tập để giám định của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; trường hợp cố ý vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì có thể bị dẫn giải”.

Thứ tư, về thời điểm rút yêu cầu khởi tố của bị hại và hậu quả pháp lý của việc rút yêu cầu khởi tố chưa thống nhất ở giai đoạn xét xử phúc thẩm và các giai đoạn tố tụng trước đó dẫn đến việc vận dụng pháp luật của các Tòa án còn chưa chính xác. Cụ thể, trong giai đoạn xét xử phúc thẩm bị hại rút yêu cầu khởi tố thì một số Tòa án không được chấp nhận và vẫn tiếp tục xét xử do Điều 348, 359 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 không quy định căn cứ đình chỉ theo khoản 2 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Do đó, cần ban hành văn bản hướng dẫn để thống nhất nhận thức trong quá trình áp dụng pháp luật của các cơ quan THTT về vấn đề này.

Thiều Văn Thịnh

Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: