Chủ nhật 15/03/2026 09:50
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Điều kiện, tiêu chuẩn đối với người điều hành, quản lý trong các tổ chức tín dụng

Tóm tắt: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2017 đã có những quy định mới về điều kiện, tiêu chuẩn của người điều hành, quản lý trong các tổ chức tín dụng. Những quy định này được sửa đổi, bổ sung nhằm nâng cao được năng lực quản lý, hạn chế rủi ro đối với hoạt động

Tóm tắt: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2017 đã có những quy định mới về điều kiện, tiêu chuẩn của người điều hành, quản lý trong các tổ chức tín dụng. Những quy định này được sửa đổi, bổ sung nhằm nâng cao được năng lực quản lý, hạn chế rủi ro đối với hoạt động của tổ chức tín dụng.

Abstract: The Law on amendments and supplements to some articles of the Law on Credit Institutions of 2017 has new provisions on conditions, standards of executives and managers in credit institutions. These provisions are amended and supplemented in order to improve management capacity and to limit risks to the operation of credit institutions.

Có thể nói, sự ra đời của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã khắc phục được một số tồn tại của Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997 và các văn bản khác về quản trị, điều hành ngân hàng thương mại. Nếu Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997 chỉ có 06 điều luật quy định về quản trị, điều hành đối với ngân hàng thương mại, thì đến Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 đã bổ sung nhiều quy định đặc thù liên quan đến quản trị các tổ chức tín dụng (TCTD) nói chung và ngân hàng thương mại cổ phần nói riêng (60 điều). Các quy định này chủ yếu được luật hóa từ Nghị định số 59/2009/NĐ-CP ngày 16/7/2009 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương mại, Quyết định số 24/2007/QĐ-NHNN ngày 07/6/2007 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành quy chế cấp giấy phép thành lập và hoạt động ngân hàng thương mại cổ phần (Quyết định số 24/2007/QĐ-NHNN) và các văn bản pháp luật khác do Ngân hàng Nhà nước ban hành, có tham khảo “25 nguyên tắc cơ bản về giám sát ngân hàng hiệu quả của Ủy ban Basel” nhằm bảo đảm hoạt động của TCTD được an toàn, hiệu quả. Tuy nhiên, hệ thống văn bản điều chỉnh vấn đề quản trị, điều hành ngân hàng hiện nay thực sự vẫn chưa tương đồng, chưa nghiên cứu áp dụng triệt để các nguyên tắc chung về quản trị của thế giới và còn nhiều bất cập khác quy định về thành viên hội đồng quản trị độc lập, về số vốn tối thiểu của chủ tịch hội đồng quản trị... làm hạn chế hiệu quả quản trị, điều hành của ngân hàng.

Do vậy, năm 2017, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng (sau đây gọi là Luật Các tổ chức tín dụng năm 2017), trong đó có sửa đổi, bổ sung một số quy định nhằm khắc phục những tồn tại về quản trị, điều hành ngân hàng thương mại cổ phần. Cụ thể:

1. Khắc phục được bất cập của quy định về người có liên quan của Luật Các tổ chức tín dụng

Thực tế hiện nay, có không ít ngân hàng ở Việt Nam đang đứng trước nguy cơ đổ vỡ hoặc phá sản do quản lý yếu kém, đánh giá không đúng tình hình kinh doanh của doanh nghiệp đi vay. Rất nhiều trong số các khoản vay giữa ngân hàng và doanh nghiệp đã được thực hiện bằng “quan hệ”, bằng những giao dịch phi lợi ích ngân hàng, khiến cho nợ xấu tại các ngân hàng ngày càng gia tăng và ngân hàng rơi vào tình trạng mất khả năng chi trả. Các đối tượng này thường được xác định là những người có liên quan của ngân hàng. Pháp luật ở hầu hết các nước đã sớm đưa ra các quy định nhằm hạn chế những giao dịch như vậy thông qua quy định về người có liên quan. Điển hình như ở Mỹ quy định, đối với những giao dịch giữa thành viên ngân hàng với ngân hàng phải công khai. Khi thực hiện giao dịch, thành viên ngân hàng phải thông báo và giải trình về giao dịch, tình trạng tài chính của bản thân với ban quản trị ngân hàng. Hay Vương quốc Anh có quy định, các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi cũng phải được thông qua bởi các cổ đông, kể cả trong trường hợp nó được thiết lập một cách công bằng[1].

Tại Việt Nam, pháp luật về doanh nghiệp đã có quy định để xác định những người có liên quan của doanh nghiệp. Đồng thời cũng quy định giao dịch giữa doanh nghiệp và người có liên quan của doanh nghiệp cần thiết có sự đồng ý của hội đồng thành viên hoặc đại hội đồng cổ đông. Pháp luật về ngân hàng và các tổ chức tín dụng qua nhiều lần sửa đổi đã có những quy định riêng để xác định những người có liên quan của ngân hàng để kiểm soát giao dịch giữa tổ chức tín dụng và những người có liên quan này, nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những rủi ro có thể xảy ra cho ngân hàng. Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 có quy định về các đối tượng có liên quan là các tổ chức, cá nhân có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp trong khoản 28 Điều 4. Tuy nhiên, quy định này chủ yếu căn cứ vào yếu tố định lượng để xác định người có liên quan như tổ chức tín dụng và công ty con của người của tổ chức tín dụng, giữa các công ty con của tổ chức tín dụng với nhau, cha, mẹ, anh, chị em, vợ, chồng của người quản lý với tổ chức tín dụng… Đây là các mối quan hệ chúng ta rất dễ nhìn thấy bởi nó là các mối quan hệ mang tính pháp lý (có giấy tờ chứng minh). Tuy nhiên, cũng có nhiều mối quan hệ không được thể hiện trên giấy tờ, nhưng giữa tổ chức, cá nhân nào đó với tổ chức tín dụng lại có mối quan hệ đặc biệt để có thể phối hợp cùng nhau tạo ra những giao dịch bất lợi, gây ra hậu quả tổn thất nặng nề cho tổ chức tín dụng. Chính điều này đã tạo ra những kẽ hở khiến cho chính bản thân các tổ chức tín dụng, Ngân hàng Nhà nước không có căn cứ để kiểm soát giao dịch giữa họ với nhau. Chẳng hạn như việc ủy thác cho nhân viên gửi tiền tại các ngân hàng khác để hưởng lãi suất chênh lệch hay tình trạng một số ngân hàng thương mại đi vay Ngân hàng Nhà nước với lãi suất thấp để cho vay lại với lãi suất cao hơn[2], không qua kiểm soát, gây thất thoát cho Ngân hàng Nhà nước nhiều ngàn tỉ đồng. Hay những người có quan hệ rất “gần gũi” với người quản lý, điều hành của ngân hàng như bạn bè thân, họ hàng gần của những người này… lại chưa được để ý và coi đó cũng có thể là người liên quan trong một vài trường hợp để cân nhắc kiểm soát các giao dịch của họ với ngân hàng. Những giao dịch này có khả năng đẩy ngân hàng đứng trước nguy cơ gia tăng nợ xấu, trực tiếp ảnh hưởng tới sự an toàn của ngân hàng. Trong khi đó, doanh nghiệp thực sự có nhu cầu vay vốn không thể tiếp cận vốn do lãi suất quá cao, thúc đẩy tình trạng “đi đêm” giữa người vay vốn và nhân viên tín dụng ngân hàng, khiến cho hoạt động tư lợi diễn ra mạnh mẽ và đa dạng hơn trước. Điều này làm suy giảm niềm tin của nhà đầu tư, làm tổn hại tới sự an toàn và bền vững của hệ thống ngân hàng trong nước[3]. Pháp luật cần có sự thay đổi để điều chỉnh mối quan hệ ngày càng đa dạng trong xã hội.

Luật Các tổ chức tín dụng năm 2017 đã mở rộng phạm vi người liên quan dựa trên mức độ rủi ro của mối quan hệ giữa những người này với hoạt động của TCTD. Theo đó, Luật quy định người có liên quan bao gồm cả pháp nhân, cá nhân có mối quan hệ tiềm ẩn rủi ro cho hoạt động của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được xác định theo quy định nội bộ của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoặc theo yêu cầu bằng văn bản của Ngân hàng Nhà nước thông qua hoạt động thanh tra, giám sát đối với từng trường hợp cụ thể. Như vậy, bên cạnh người quản lý, các chủ thể khác bao gồm những người là nhân viên ngân hàng và những người không phải nhân viên ngân hàng đang thực hiện nhiệm vụ tại tổ chức này như thanh tra viên, kiểm toán viên từ tổ chức kiểm toán độc lập… cũng có thể bị coi là người có liên quan của ngân hàng nếu có hành vi giao kết với ngân hàng nhằm tìm kiếm cơ hội tư lợi cho bản thân mình. Pháp luật cần có sự thay đổi để điều chỉnh mối quan hệ ngày càng đa dạng trong xã hội.

2. Bổ sung các trường hợp không được đảm nhiệm chức vụ

Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997 và năm 2010 đều có các quy định về những trường hợp không được đảm nhiệm chức vụ trong các tổ chức tín dụng[4], để nhằm hạn chế, ngăn ngừa các hành vi vi phạm của người quản lý, điều hành trong quá trình quản trị, điều hành tổ chức tín dụng. Luật Các tổ chức tín dụng năm 2017 đã bổ sung trường hợp không được đảm nhiệm chức vụ (điểm h khoản 1 Điều 33) là các cá nhân phải chịu trách nhiệm theo kết luận thanh tra dẫn đến việc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng ở khung phạt tiền cao nhất đối với một số hành vi vi phạm ảnh hưởng đến an toàn hoạt động ngân hàng như hành vi vi phạm quy định về giấy phép, quản trị, điều hành, cổ phần, cổ phiếu, góp vốn, mua cổ phần, cấp tín dụng, mua trái phiếu doanh nghiệp, tỷ lệ bảo đảm an toàn. Cũng như các đối tượng bị cấm khác, theo thuyết suy đoán thì đây có thể là những đối tượng có hành vi gây thiệt hại trong tương lại cho hệ thống ngân hàng nói chung và ngân hàng cổ phần nói riêng, dù khi họ có hành vi vi phạm có thể chưa nắm giữ vị trí lãnh đạo.

Trong thời gian vừa qua có khá nhiều vụ trọng án liên quan đến đạo đức của người đảm nhiệm chức vụ trong ngân hàng. Hành vi của họ dẫn đến sự sai phạm của các tổ chức tín dụng trong hoạt động ngân hàng, như vụ 29 ngân hàng để lãi suất vượt trần[5]. Có nhiều người xem nhẹ việc tuân thủ các quy định nghiêm ngặt của ngành ngân hàng. Theo thuyết ngăn ngừa phòng chống, với những đối tượng đã có hành vi sai trái thì rất có thể khi họ đảm nhiệm chức vụ, sẽ tiếp tục những hành vi sai trái đó. Vì vậy, đây vừa là sự hạn chế, ngăn ngừa hành vi sai phạm trong tương lai đồng thời cũng là một hình phạt răn đe đối với những đối tượng đó.

3. Bổ sung các quy định về không cùng đảm nhiệm chức vụ

Bên cạnh những điều kiện về chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp, cần phải có những quy định để đảm bảo những người quản lý, điều hành ngân hàng thương mại độc lập với nhau, đảm bảo thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của mình. Luật còn bổ sung các quy định về các trường hợp không được cùng đảm nhiệm chức vụ của các lãnh đạo ngân hàng.

Nếu như trước đây, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 chỉ quy định chủ tịch hội đồng quản trị không được đồng thời là người điều hành của tổ chức tín dụng đó và của tổ chức tín dụng khác; thành viên hội đồng quản trị không được đồng thời là người quản lý của tổ chức tín dụng khác, trừ trường hợp tổ chức này là công ty con của tổ chức tín dụng đó hoặc là thành viên ban kiểm soát của tổ chức tín dụng đó (khoản 1Điều 34 ), thì trong Luật Các tổ chức tín dụng năm 2017 quy định thêm chủ tịch hội đồng quản trị không được đồng thời là chủ tịch hội đồng quản trị, thành viên hội đồng quản trị, chủ tịch hội đồng thành viên, thành viên hội đồng thành viên, chủ tịch công ty, tổng giám đốc (giám đốc), phó tổng giám đốc (phó giám đốc) hoặc các chức danh tương đương của doanh nghiệp khác.

Đối với tổng giám đốc (giám đốc), phó tổng giám đốc (phó giám đốc) và các chức danh tương đương trước đây chỉ bị cấm đồng thời đảm nhiệm chức vụ thành viên hội đồng quản trị, thành viên hội đồng thành viên, thành viên ban kiểm soát của tổ chức tín dụng khác, trừ trường hợp tổ chức đó là công ty con của tổ chức tín dụng; tổng giám đốc (giám đốc), phó tổng giám đốc (phó giám đốc) của doanh nghiệp khác (khoản 4 Điều 34 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010). Hiện nay, tổng giám đốc (giám đốc), phó tổng giám đốc (phó giám đốc) còn bị cấm đảm nhiệm đồng thời chức vụ thành viên hội đồng quản trị, thành viên hội đồng thành viên, thành viên ban kiểm soát của tổ chức tín dụng, trừ trường hợp tổ chức đó là công ty con của tổ chức tín dụng. Riêng đối với tổng giám đốc (giám đốc) còn bị cấm đồng thời là chủ tịch hội đồng quản trị, thành viên hội đồng quản trị, chủ tịch hội đồng thành viên, thành viên hội đồng thành viên, chủ tịch công ty, tổng giám đốc (giám đốc), phó tổng giám đốc (phó giám đốc) hoặc các chức danh tương đương của doanh nghiệp khác. Đối với phó tổng giám đốc (phó giám đốc) và các chức danh tương đương không được đồng thời là tổng giám đốc (giám đốc), phó tổng giám đốc (phó giám đốc) của doanh nghiệp khác. Quy định này phần nào sẽ hạn chế được tình trạng sở hữu chéo trong ngân hàng thương mại cổ phần, hạn chế tình trạng “sân trước sân sau” làm lũng đoạn ngân hàng và ảnh hưởng đến thị trường tài chính.

Có ý kiến cho rằng, quy định như vậy là quá chặt chẽ, sẽ tác động lớn đến thực trạng quản lý, điều hành của các tổ chức tín dụng và doanh nghiệp hiện. Bởi lẽ, hiện nay có rất nhiều cán bộ ngân hàng kiêm nhiệm chức vụ trong doanh nghiệp khác. Thêm nữa, quy định này cũng tạo ra một thách thức mới cho cơ quan quản lý liên quan đến tình trạng sở hữu chéo trong lĩnh vực ngân hàng. Tình trạng sở hữu chéo sẽ khó kiểm soát hơn bởi có thể sẽ nảy sinh tình trạng đứng tên hộ trong doanh nghiệp hoặc tổ chức tín dụng, nếu sự thanh tra, giám sát, quản lý không chặt chẽ từ phía Ngân hàng Nhà nước thì sẽ khó phát hiện sở hữu chéo.

Tuy nhiên, với quy định hiện hành, chủ tịch hội đồng quản trị, chủ tịch hội đồng thành viên, tổng giám đốc (giám đốc) của tổ chức tín dụng đồng thời được đảm nhiệm người quản lý của doanh nghiệp khác. Thực tế này đã phát sinh những hệ lụy, ảnh hưởng xấu đến hoạt động ngân hàng và an toàn hệ thống. Quy định này nhằm hạn chế, ngăn ngừa việc lạm dụng quyền đồng thời là người quản trị, điều hành tại TCTD và doanh nghiệp để thực hiện hoạt động đầu tư, cấp tín dụng không trên cơ sở thị trường, tạo ra rủi ro lớn cho hoạt động của TCTD. Với quy định mới, nhiều lãnh đạo ngân hàng sẽ phải lựa chọn từ nhiệm khỏi ngân hàng hoặc doanh nghiệp do mình đứng đầu.

4. Bổ sung điều kiện, tiêu chuẩn đối với các chức danh quản lý, điều hành của ngân hàng

Với môi trường hoạt động đặc thù có nhiều khả năng phát sinh các rủi ro về mặt đạo đức, chuyên môn, nghiệp vụ thì yêu cầu phải có các tiêu chuẩn, điều kiện chặt chẽ hơn với những người giữ chức danh quản lý, điều hành như yêu cầu về mặt phẩm chất, đạo đức, trình độ chuyên môn, trình độ quản lý là hết sức cần thiết. Quy định pháp luật về tổ chức tín dụng qua các thời kỳ đều đã đưa ra ngày càng chặt chẽ về những tiêu chuẩn, điều kiện đối với người quản lý, điều hành ngân hàng thương mại cổ phần.

Cụ thể, những điều kiện, tiêu chuẩn đối với thành viên hội đồng quản trị, thành viên ban kiểm soát, tổng giám đốc, phó tổng giám đốc trong Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997 còn mang tính định tính và được thay thế bằng những tiêu chuẩn được cụ thể hóa từ Quyết định số 24/2007/QĐ-NHNN. Người điều hành, quản lý ngân hàng thương mại cổ phần là những người xác định các mục tiêu phát triển của ngân hàng thương mại cổ phần và đưa ra được những chính sách để cụ thể hóa những mục tiêu đã đề ra. Điều đó đòi hỏi người quản lý, điều hành phải có chuyên môn trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, quản trị kinh doanh, phải am hiểu pháp luật và có năng lực tổ chức, quản lý. Những yêu cầu này phải được chuẩn mực hóa bằng các văn bằng, chứng chỉ, kinh nghiệm làm việc thực tế và kết quả của những công việc trước đây. Trong Quyết định số 24/2007/QĐ-NHNN đã chuẩn hóa tiêu chuẩn “hiểu biết về hoạt động ngân hàng” chỉ quy định chung chung trong Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997. Hiểu biết về hoạt động ngân hàng được đánh giá thông qua việc có bằng đại học hoặc trên đại học về một trong các chuyên ngành kinh tế, quản trị kinh doanh, luật; hoặc có kinh nghiệm làm việc quản lý những doanh nghiệp có quy mô tương đương quy mô một ngân hàng thương mại hoặc làm việc trực tiếp trong lĩnh vực ngân hàng. Những tiêu chuẩn về bằng cấp, kinh nghiệm làm việc cụ thể cho các chức danh quản lý, điều hành như vậy sẽ đảm bảo năng lực chuyên môn nhằm đáp ứng yêu cầu quản trị, điều hành một doanh nghiệp đặc biệt ngân hàng thương mại cổ phần.

Yêu cầu về đạo đức nghề nghiệp là cần thiết, nhưng yêu cầu này cũng phải được chuẩn hóa theo những điều kiện cụ thể. Đạo đức nghề nghiệp ở đây nên được hiểu là trách nhiệm của người quản lý, điều hành thực hiện nghĩa vụ với ngân hàng thương mại cổ phần, đảm bảo đặt lợi ích của ngân hàng thương mại cổ phần lên hàng đầu. Những quy định rõ ràng về trách nhiệm, nghĩa vụ của những người quản lý, điều hành ngân hàng thương mại cổ phần đảm bảo những người quản lý, điều hành không được tư lợi mà phải thực hiện các quyết định vì lợi ích của ngân hàng.

Đến Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 quy định thêm về tiêu chuẩn, điều kiện đối với thành viên của hội đồng quản trị (khoản 1 Điều 50). Muốn trở thành thành viên hội đồng quản trị, ứng viên phải đáp ứng ba điều kiện: (i) Không thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 33; (ii) Có đạo đức nghề nghiệp; (iii) Có 5% vốn hoặc có bằng đại học trở lên hoặc có kinh nghiệm quản lý ít nhất 03 năm hoặc 05 năm. Đối với tiêu chuẩn, điều kiện trở thành giám đốc, tổng giám đốc cụ thể là: (i) Không thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 33; (ii) Có đạo đức nghề nghiệp; (iii) Có bằng đại học trở lên; (iv) Có ít nhất 05 năm kinh nghiệm quản lý hoặc 10 năm kinh nghiệm làm việc.

Như vậy, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 cho phép tỉ lệ sở hữu vốn có thể là điều kiện thay thế cho các điều kiện về trình độ quản lý và kinh nghiệm quản lý đối với thành viên hội đồng quản trị và tổng giám đốc không cần đồng thời có kinh nghiệm làm việc và kinh nghiệm điều hành. Chính quy định này khiến cho thời gian vừa qua, có nhiều đối tượng dù không có năng lực quản lý, kinh nghiệm quản lý vẫn ngồi vào ghế thành viên hội đồng quản trị do lượng vốn họ nắm trong tay. Trong khi đó, chức năng của hội đồng quản trị là điều hành, quản lý hoạt động của doanh nghiệp. Sự thiếu hiểu biết, thiếu kinh nghiệm của những thành viên trong hội đồng quản trị cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến hoạt động yếu kém của các tổ chức tín dụng.

Thời gian qua đã phát sinh nhiều sai phạm của người giữ chức danh quản lý, điều hành tại các tổ chức tín dụng, trong đó có những sai phạm gây thiệt hại tới hàng nghìn tỉ đồng, gây mất lòng tin của người dân vào hệ thống ngân hàng. Đa số các cán bộ quản lý cấp trung và cao cấp ở các ngân hàng thương mại chủ yếu được đề bạt qua hoạt động chuyên môn, hoặc do mối quan hệ thân thiết từ các lãnh đạo cấp cao. Họ rất thiếu kiến thức về quản lý và điều hành một chi nhánh, một hệ thống theo hướng hiện đại, vì thế đôi khi chỉ sơ suất trong quản lý nhân sự là đã gây ra những rủi ro không nhỏ trong hoạt động ngân hàng. Điển hình với các vụ án trong việc lợi dụng kẽ hở trong quản lý ấn chỉ, hệ thống công nghệ tin học… nhiều cán bộ ngân hàng đã lập sổ tiết kiệm khống cầm cố lấy tiền đánh cắp mật khẩu để chuyển tiền của khách hàng vào tài khoản của đồng phạm hoặc tất toán sổ tiết kiệm khống nhằm chiếm đoạt tiền của khách hàng.

Do vậy, yêu cầu đặt ra là cần sửa đổi, bổ sung Điều 50 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 về tiêu chuẩn, điều kiện đối với các chức danh chủ tịch hội đồng quản trị, thành viên hội đồng quản trị, thành viên ban kiểm soát, giám đốc/tổng giám đốc của các tổ chức tín dụng theo hướng chặt chẽ hơn. Mục tiêu là nâng cao năng lực quản trị, điều hành của người quản lý, điều hành tại các tổ chức tín dụng, qua đó nâng cao năng lực quản trị và kiểm soát rủi ro của các tổ chức này.

Luật Các tổ chức tín dụng năm 2017 đã có sự sửa đổi theo hướng thắt chặt và yêu cầu cao về kinh nghiệm và năng lực trình độ quản lý, loại bỏ yếu tố sở hữu vốn ra khỏi điều kiện trở thành thành viên hội đồng quản trị. Như vậy, hiện nay, để trở thành thành viên hội đồng quản trị của ngân hàng phải có điều kiện: Không thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 33, có đạo đức nghề nghiệp, có bằng đại học trở lên, có kinh nghiệm quản lý.

Tương tự, bên cạnh các điều kiện khác, tổng giám đốc của TCTD bắt buộc phải có ít nhất 05 năm là người điều hành của TCTD hoặc có ít nhất 05 năm là tổng giám đốc (giám đốc), phó tổng giám đốc (phó giám đốc) doanh nghiệp có vốn chủ sở hữu tối thiểu bằng mức vốn pháp định đối với loại hình TCTD tương ứng và có ít nhất 05 năm làm việc trực tiếp trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, kế toán, kiểm toán hoặc có ít nhất 10 năm làm việc trực tiếp trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, kế toán, kiểm toán. So với Luật Doanh nghiệp năm 2014, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2017 quy định chặt chẽ hơn. Luật Doanh nghiệp năm 2014vẫn cho phép chỉ cần có vốn là có thể trở thành thành viên trong hội đồng quản trị.

ThS. Nguyễn Thị Nguyệt

Đại học Thương mại







[1]. Phạm Hải Ly, Pháp luật về kiểm soát giao dịch tư lợi trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ.

[2]. “Thế giới ngầm trong lòng ngân hàng”, Xuân Dung, nguồn http://bizlive.vn/ngan-hang/the-gioi-ngam-trong-long-ngan-hang-85462.html.

[3]. Phạm Hải Ly, Pháp luật về kiểm soát giao dịch tư lợi trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ.

[4]. Xem Điều 40 Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997, Điều 33 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010.

[5]. Nhìn lại 03 năm cuộc đua vượt trần lãi suất, Kình Dương, nguồn https://www.stockbiz.vn/News/2017/8/29/765904/nhin-lai-3-nam-cuoc-dua-vuot-tran-lai-suat.aspx.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: