Thứ sáu 17/04/2026 02:19
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Đình chỉ giải quyết vụ án hành chính trong trường hợp người khởi kiện vắng mặt

Đình chỉ giải quyết vụ án hành chính trong trường hợp người khởi kiện vắng mặt

Tóm tắt: Qua quá trình áp dụng pháp luật vào thực tiễn cho thấy, căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án hành chính tại điểm đ khoản 1 Điều 143 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 về trường hợp người khởi kiện vắng mặt đã phát sinh những bất cập, hạn chế nhất định, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, hoạt động tố tụng. Do vậy, trên cơ sở phân tích, làm rõ một số bất cập, bài viết đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về căn cứ này.

Abstract: Through the process of applying the law into practice, it has been shown that the grounds for suspending the settlement of the administrative case at Point d, Paragraph 1, Article 143 of the 2015 Law on Administrative Procedures in the absence of the plaintiff have given rise to irregularities, certain restrictions, affecting the legitimate rights and interests of the litigants, procedural activities. Therefore, on the basis of analyzing and clarifying some inadequacies, the article proposes a number of recommendations to improving the legal on this basis.

Theo điểm đ khoản 1 Điều 143 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, Tòa án quyết định đình chỉ giải quyết vụ án trong trường hợp sau: “Người khởi kiện đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt trừ trường hợp họ đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt hoặc trường hợp có sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan”. Căn cứ này có sự khác biệt so với Luật Tố tụng hành chính năm 2010 (điểm c khoản 1 Điều 120): “Người khởi kiện đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt”. Tuy nhiên, trước đó, điểm c khoản 1 Điều 41 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 lại quy định: “Nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng”. Nhìn chung, quy định về các trường hợp loại trừ, ngoại lệ khi người khởi kiện vắng mặt đã có sự thay đổi, điều chỉnh theo từng thời điểm. Song, căn cứ đình chỉ trong trường hợp người khởi kiện vắng mặt vẫn được đặt ra, quy định xuyên suốt từ thời điểm Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 đến nay. Có thể thấy rằng, căn cứ đình chỉ khi người khởi kiện vắng mặt là cần thiết, bảo đảm quy trình giải quyết vụ án hành chính không bị trì hoãn, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự khác trong vụ án. Tuy nhiên, qua quá trình áp dụng thực tiễn, quy định này (tại Điều 143 Luật Tố tụng hành chính năm 2015) đã phát sinh những bất cập, hạn chế nhất định, cần được xem xét, hoàn thiện.

1. Bất cập về căn cứ đình chỉ tại điểm đ khoản 1 Điều 143 Luật Tố tụng hành chính năm 2015

Thứ nhất, việc đình chỉ được dựa vào số lần triệu tập hợp lệ.

Với cách quy định hiện hành, việc đình chỉ khi người khởi kiện vắng mặt được tính dựa vào số lần triệu tập hợp lệ của Tòa án. Cách quy định như vậy, dẫn đến hai bất cập như sau:

Một là, đối với trường hợp đương sự được Tòa án triệu tập hợp lệ từ lần thứ ba trở đi (hơn hai lần) mà vắng mặt không có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt hoặc không có sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan, nếu Tòa án căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 143 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 để đình chỉ giải quyết vụ án hành chính là khó thuyết phục. Bởi lẽ, các quy định này chỉ áp dụng trong trường hợp: “Người khởi kiện đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai”. Tuy nhiên, nếu trường hợp này xảy ra, nghĩa là, Tòa án triệu tập hơn hai lần, người khởi kiện vẫn vắng mặt lần thứ hai mà không thuộc các trường hợp ngoại lệ (được hiểu là người khởi kiện đã từ bỏ việc khởi kiện) thì Tòa án vẫn phải căn cứ quy định nêu trên để ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án. Trong thực tiễn, để phù hợp với diễn biến vụ việc, có Tòa án đã phải kết luận: “Người khởi kiện là ông Nguyễn Văn N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ ba mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa”[1].

Hai là, với trường hợp người khởi kiện được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng người khởi kiện vắng mặt chỉ một lần ở lần triệu tập gần nhất (đối với lần triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, người khởi kiện vẫn tham gia phiên tòa, tuy nhiên, Tòa án vẫn phải hoãn phiên tòa vì vắng mặt các đương sự khác) thì Tòa án vẫn có cơ sở để đình chỉ giải quyết vụ án vì Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Lúc này, việc đình chỉ giải quyết vụ án là không bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện. Hơn nữa, về mặt lý luận, căn cứ đình chỉ trong trường hợp này được hiểu là người khởi kiện từ bỏ việc khởi kiện. Với việc người khởi kiện chỉ vắng mặt lần đầu, chưa đủ cơ sở thuyết phục để cho thấy người khởi kiện có ý chí từ bỏ việc khởi kiện. Tham khảo Án lệ số 12/2017/AL[2], tại phiên tòa phúc thẩm lần đầu, các đương sự có mặt đầy đủ theo giấy triệu tập của Tòa án, tuy nhiên, Tòa án đã hoãn phiên tòa (việc hoãn phiên tòa là do Tòa án), lúc mở lại phiên tòa, đương sự vắng mặt thì được coi là vắng mặt lần thứ nhất, Tòa án phải xác định là trường hợp được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất vắng mặt tại phiên tòa để hoãn phiên tòa, thay vì đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án.

Thứ hai, trường hợp vắng mặt tại giai đoạn chuẩn bị xét xử.

Với một số căn cứ đan xen, chẳng hạn Điều 143 được quy định tại Chương X về thủ tục đối thoại và chuẩn bị xét xử nhưng điểm đ khoản 1 Điều này lại quy định giả định trường hợp “xét xử vắng mặt”, dẫn đến quy định về căn cứ đình chỉ này được hiểu theo một số cách khác nhau: (i) Căn cứ người khởi kiện vắng mặt tại Điều 143 có thể áp dụng trong cả giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm và tại phiên tòa sơ thẩm; (ii) Căn cứ người khởi kiện vắng mặt tại Điều 143 chỉ áp dụng tại phiên tòa sơ thẩm[3]. Song, hiện nay, vướng mắc này đã được giải đáp tại mục 3 phần III Công văn số 89/TANDTC-PC ngày 30/6/2020 của Tòa án nhân dân tối cao về việc thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong xét xử, với cách hiểu (i). Theo đó, với câu hỏi: “Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, người khởi kiện được triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến Tòa để lấy lời khai, nhưng vẫn vắng mặt mà không có lý do chính đáng và không có văn bản đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Trong trường hợp này, Tòa án có được đình chỉ giải quyết vụ án không?” Tòa án đã có giải đáp như sau: “... trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hành chính mà người khởi kiện đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến Tòa để lấy lời khai mà vẫn vắng mặt thì Tòa án cấp sơ thẩm có quyền đình chỉ giải quyết vụ án, trừ trường hợp họ đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt hoặc trường hợp có sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan. Riêng đối với trường hợp người khởi kiện được triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên đối thoại mà vẫn cố tình vắng mặt thì thuộc trường hợp vụ án không tiến hành đối thoại được và Tòa án vẫn tiến hành các thủ tục để giải quyết vụ án theo quy định”.

Tuy nhiên, với cách hiểu (i) nêu trên, lại phát sinh thêm hai cách hiểu khác nhau. Theo đó, nếu ở vụ án chuyển qua giai đoạn xét xử thì số lần người khởi kiện vắng mặt để làm căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án được tính riêng trong giai đoạn này (từ thời điểm mở phiên tòa) hay được tính gộp cùng với giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án (từ thời điểm thụ lý vụ án)? Ví dụ: Tại giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, thẩm phán đã triệu tập người khởi kiện đến Tòa án để lấy lời khai, người khởi kiện đã vắng mặt không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan. Sau đó, người khởi kiện được triệu tập hợp lệ lần đầu để tham gia phiên tòa và người khởi kiện tiếp tục vắng mặt không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan. Lúc này, Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án (vì Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai và người khởi kiện vẫn vắng mặt) hay Tòa án ra quyết định hoãn phiên tòa (vì người khởi kiện chỉ mới vắng mặt lần đầu tại phiên tòa)? Hiện nay, vấn đề này chưa có giải đáp cụ thể, chính thức, dẫn đến việc áp dụng pháp luật trong có thể diễn ra theo những hướng khác nhau.

Thứ ba, trường hợp ngoại lệ đối với người đại diện.

Đối chiếu với khoản 5 Điều 60, khoản 2 Điều 157 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 143 Luật này là chưa bao quát hết các trường hợp loại trừ, thiếu tương thích với các điều luật khác. Cụ thể, với quy định tại Điều 143, Tòa án phải đình chỉ giải quyết vụ án nếu người khởi kiện được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vắng mặt, kể cả có người đại diện hợp pháp tham gia phiên tòa. Bởi vì, Điều 143 không quy định ngoại lệ đối với trường hợp này. Trong khi đó, người khởi kiện được quyền ủy quyền cho người đại diện tham gia tố tụng, căn cứ khoản 5 Điều 60, người đại diện theo ủy quyền thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng hành chính của người ủy quyền. Hơn nữa, đối chiếu với khoản 2 Điều 157, mặc dù cùng quy định hướng xử lý đối với trường hợp người khởi kiện được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, tuy nhiên, phần giả định của hai điều luật là thiếu tương thích. Theo đó, tại phần giả định của khoản 2 Điều 157, Luật quy định: “Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa, nếu vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan thì xử lý như sau: a) Đối với người khởi kiện, người đại diện theo pháp luật của người khởi kiện mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của người đó, trừ trường hợp họ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt”. Với quy định này, rõ ràng rằng, nếu có người đại diện tham gia phiên tòa thì việc vắng mặt của người khởi kiện là không thuộc trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án. Kết hợp hai sự đối chiếu nêu trên, việc điểm đ khoản 1 Điều 143 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 không quy định loại trừ đối với trường hợp người khởi kiện vắng mặt nhưng có người đại diện tham gia phiên tòa là không toàn diện, tạo ra tính nghiêm ngặt quá mức cần thiết, không bảo đảm triệt để quyền tham gia phiên tòa.

2. Kiến nghị hoàn thiện

Với bất cập thứ nhất, có quan điểm cho rằng, để bảo đảm tính chính xác và chặt chẽ trong quy định pháp luật, Luật Tố tụng hành chính cần bổ sung “triệu tập hợp lệ từ lần thứ hai”[4]. Tham khảo thực tiễn xét xử, một số Tòa án có cách nhận định như sau: “Ông Trịnh Sơn T là người có kháng cáo vẫn vắng mặt lần thứ hai không có lý do, tức là người kháng cáo đã từ bỏ quyền kháng cáo của mình”[5]. Tham khảo khoản 2 Điều 43 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996, được sửa đổi, bổ sung năm 2006: “Người khởi kiện phải có mặt tại phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án, nếu vắng mặt lần thứ nhất có lý do chính đáng thì phải hoãn phiên tòa”. Như vậy, theo tác giả, cách hiểu “vắng mặt lần thứ nhất”, “vắng mặt lần thứ hai” là cách hiểu đúng với bản chất của căn cứ này. Theo đó, căn cứ này được áp dụng trong trường hợp người khởi kiện từ bỏ việc khởi kiện, dựa vào số lần vắng mặt (hai lần - được xem là cố ý vắng mặt). Do vậy, điểm đ khoản 1 Điều 143 cần sửa đổi như sau: “Người khởi kiện đã được triệu tập hợp lệ mà vẫn vắng mặt lần thứ hai trừ trường hợp...”.

Với bất cập thứ hai, trước hết, Luật Tố tụng hành chính năm 2015 cần điều chỉnh cụm từ “đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt” trở thành “đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt”. Điều chỉnh này giúp cho việc áp dụng căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án tại giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án trở nên thống nhất và thuyết phục. Tham khảo điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, được sửa đổi, bổ sung năm 2011, cụm từ này cũng đã được nhà làm luật sử dụng: “Nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt hoặc...”. Bên cạnh đó, Tòa án nhân dân tối cao cần có hướng dẫn về trường hợp người khởi kiện vắng mặt lần thứ nhất, vắng mặt lần thứ hai. Tác giả cho rằng, số lần vắng mặt được tính để ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án cần được tính từ thời điểm thụ lý vụ án. Chẳng hạn, ở giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, thẩm phán triệu tập hợp lệ đương sự để lấy lời khai, người khởi kiện cố ý vắng mặt (lần đầu), sau khi mở phiên tòa, người khởi kiện được triệu tập hợp lệ (lần thứ nhất, để tham gia phiên tòa) và vẫn cố ý vắng mặt, lúc này căn cứ tại điểm đ khoản 1 Điều 143 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 được áp dụng để đình chỉ giải quyết vụ án. Cách áp dụng này, một mặt bảo đảm được bản chất của căn cứ đỉnh chỉ trong trường hợp người khởi kiện đã từ bỏ việc khởi kiện, mặt khác, giúp tiết kiệm thời gian, công sức cho Tòa án và các đương sự khác.

Với bất cập thứ ba, để bảo đảm tính toàn diện, triệt để quyền lợi hợp pháp của người khởi kiện, cũng như tương thích với các điều luật khác của Luật Tố tụng hành chính năm 2015, căn cứ tại điểm đ khoản 1 Điều 143 cần được bổ sung “... trừ trường hợp… hoặc có người đại diện hợp pháp tham gia phiên tòa”.

Tóm lại, để bảo đảm nguyên tắc đơn nghĩa trong việc quy định pháp luật và thống nhất trong việc áp dụng pháp luật, cùng với việc hướng dẫn về trường hợp người khởi kiện vắng mặt lần thứ nhất, vắng mặt lần thứ hai, căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án hành chính tại điểm đ khoản 1 Điều 143 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 cần được điều chỉnh như sau: “Người khởi kiện đã được triệu tập hợp lệ mà vẫn vắng mặt lần thứ hai trừ trường hợp họ đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt hoặc trường hợp có sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan hoặc có người đại diện hợp pháp tham gia phiên tòa”.

Trần Quốc Văn

Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

[1]. Quyết định số 26/2019/QĐST-HC ngày 15/11/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh ĐT về đình chỉ giải quyết vụ án hành chính.

[2]. Án lệ số 12/2017/AL về xác định trường hợp đương sự được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất sau khi Tòa án đã hoãn phiên tòa, được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 14/12/2017 và được công bố theo Quyết định số 299/QĐ-CA ngày 28/12/2017 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

[3]. Thân Văn Nhường, Đình chỉ giải quyết vụ án hành chính, https://tapchitoaan.vn/dinh-chi-giai-quyet-vu-an-hanh-chinh-vuong-mac-va-kien-nghi.

[4]. Nguyễn Hoàng Yên (2015), Một số vấn đề về cách thức xử lý khi đương sự vắng mặt tại phiên tòa xét xử vụ án hành chính, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 5, tr. 11.

[5]. Quyết định số 94/2021/QĐ-PT ngày 21/5/2021 của Tòa án nhân dân Thành phố H về đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án kinh doanh thương mại.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Số 374, tháng 2/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.

Theo dõi chúng tôi trên: