Thứ ba 28/07/2026 20:59
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Đình chỉ giải quyết vụ án hành chính trong trường hợp người khởi kiện vắng mặt

Đình chỉ giải quyết vụ án hành chính trong trường hợp người khởi kiện vắng mặt

Tóm tắt: Qua quá trình áp dụng pháp luật vào thực tiễn cho thấy, căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án hành chính tại điểm đ khoản 1 Điều 143 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 về trường hợp người khởi kiện vắng mặt đã phát sinh những bất cập, hạn chế nhất định, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, hoạt động tố tụng. Do vậy, trên cơ sở phân tích, làm rõ một số bất cập, bài viết đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về căn cứ này.

Abstract: Through the process of applying the law into practice, it has been shown that the grounds for suspending the settlement of the administrative case at Point d, Paragraph 1, Article 143 of the 2015 Law on Administrative Procedures in the absence of the plaintiff have given rise to irregularities, certain restrictions, affecting the legitimate rights and interests of the litigants, procedural activities. Therefore, on the basis of analyzing and clarifying some inadequacies, the article proposes a number of recommendations to improving the legal on this basis.

Theo điểm đ khoản 1 Điều 143 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, Tòa án quyết định đình chỉ giải quyết vụ án trong trường hợp sau: “Người khởi kiện đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt trừ trường hợp họ đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt hoặc trường hợp có sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan”. Căn cứ này có sự khác biệt so với Luật Tố tụng hành chính năm 2010 (điểm c khoản 1 Điều 120): “Người khởi kiện đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt”. Tuy nhiên, trước đó, điểm c khoản 1 Điều 41 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 lại quy định: “Nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng”. Nhìn chung, quy định về các trường hợp loại trừ, ngoại lệ khi người khởi kiện vắng mặt đã có sự thay đổi, điều chỉnh theo từng thời điểm. Song, căn cứ đình chỉ trong trường hợp người khởi kiện vắng mặt vẫn được đặt ra, quy định xuyên suốt từ thời điểm Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 đến nay. Có thể thấy rằng, căn cứ đình chỉ khi người khởi kiện vắng mặt là cần thiết, bảo đảm quy trình giải quyết vụ án hành chính không bị trì hoãn, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự khác trong vụ án. Tuy nhiên, qua quá trình áp dụng thực tiễn, quy định này (tại Điều 143 Luật Tố tụng hành chính năm 2015) đã phát sinh những bất cập, hạn chế nhất định, cần được xem xét, hoàn thiện.

1. Bất cập về căn cứ đình chỉ tại điểm đ khoản 1 Điều 143 Luật Tố tụng hành chính năm 2015

Thứ nhất, việc đình chỉ được dựa vào số lần triệu tập hợp lệ.

Với cách quy định hiện hành, việc đình chỉ khi người khởi kiện vắng mặt được tính dựa vào số lần triệu tập hợp lệ của Tòa án. Cách quy định như vậy, dẫn đến hai bất cập như sau:

Một là, đối với trường hợp đương sự được Tòa án triệu tập hợp lệ từ lần thứ ba trở đi (hơn hai lần) mà vắng mặt không có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt hoặc không có sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan, nếu Tòa án căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 143 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 để đình chỉ giải quyết vụ án hành chính là khó thuyết phục. Bởi lẽ, các quy định này chỉ áp dụng trong trường hợp: “Người khởi kiện đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai”. Tuy nhiên, nếu trường hợp này xảy ra, nghĩa là, Tòa án triệu tập hơn hai lần, người khởi kiện vẫn vắng mặt lần thứ hai mà không thuộc các trường hợp ngoại lệ (được hiểu là người khởi kiện đã từ bỏ việc khởi kiện) thì Tòa án vẫn phải căn cứ quy định nêu trên để ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án. Trong thực tiễn, để phù hợp với diễn biến vụ việc, có Tòa án đã phải kết luận: “Người khởi kiện là ông Nguyễn Văn N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ ba mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa”[1].

Hai là, với trường hợp người khởi kiện được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng người khởi kiện vắng mặt chỉ một lần ở lần triệu tập gần nhất (đối với lần triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, người khởi kiện vẫn tham gia phiên tòa, tuy nhiên, Tòa án vẫn phải hoãn phiên tòa vì vắng mặt các đương sự khác) thì Tòa án vẫn có cơ sở để đình chỉ giải quyết vụ án vì Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Lúc này, việc đình chỉ giải quyết vụ án là không bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện. Hơn nữa, về mặt lý luận, căn cứ đình chỉ trong trường hợp này được hiểu là người khởi kiện từ bỏ việc khởi kiện. Với việc người khởi kiện chỉ vắng mặt lần đầu, chưa đủ cơ sở thuyết phục để cho thấy người khởi kiện có ý chí từ bỏ việc khởi kiện. Tham khảo Án lệ số 12/2017/AL[2], tại phiên tòa phúc thẩm lần đầu, các đương sự có mặt đầy đủ theo giấy triệu tập của Tòa án, tuy nhiên, Tòa án đã hoãn phiên tòa (việc hoãn phiên tòa là do Tòa án), lúc mở lại phiên tòa, đương sự vắng mặt thì được coi là vắng mặt lần thứ nhất, Tòa án phải xác định là trường hợp được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất vắng mặt tại phiên tòa để hoãn phiên tòa, thay vì đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án.

Thứ hai, trường hợp vắng mặt tại giai đoạn chuẩn bị xét xử.

Với một số căn cứ đan xen, chẳng hạn Điều 143 được quy định tại Chương X về thủ tục đối thoại và chuẩn bị xét xử nhưng điểm đ khoản 1 Điều này lại quy định giả định trường hợp “xét xử vắng mặt”, dẫn đến quy định về căn cứ đình chỉ này được hiểu theo một số cách khác nhau: (i) Căn cứ người khởi kiện vắng mặt tại Điều 143 có thể áp dụng trong cả giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm và tại phiên tòa sơ thẩm; (ii) Căn cứ người khởi kiện vắng mặt tại Điều 143 chỉ áp dụng tại phiên tòa sơ thẩm[3]. Song, hiện nay, vướng mắc này đã được giải đáp tại mục 3 phần III Công văn số 89/TANDTC-PC ngày 30/6/2020 của Tòa án nhân dân tối cao về việc thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong xét xử, với cách hiểu (i). Theo đó, với câu hỏi: “Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, người khởi kiện được triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến Tòa để lấy lời khai, nhưng vẫn vắng mặt mà không có lý do chính đáng và không có văn bản đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Trong trường hợp này, Tòa án có được đình chỉ giải quyết vụ án không?” Tòa án đã có giải đáp như sau: “... trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hành chính mà người khởi kiện đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến Tòa để lấy lời khai mà vẫn vắng mặt thì Tòa án cấp sơ thẩm có quyền đình chỉ giải quyết vụ án, trừ trường hợp họ đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt hoặc trường hợp có sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan. Riêng đối với trường hợp người khởi kiện được triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên đối thoại mà vẫn cố tình vắng mặt thì thuộc trường hợp vụ án không tiến hành đối thoại được và Tòa án vẫn tiến hành các thủ tục để giải quyết vụ án theo quy định”.

Tuy nhiên, với cách hiểu (i) nêu trên, lại phát sinh thêm hai cách hiểu khác nhau. Theo đó, nếu ở vụ án chuyển qua giai đoạn xét xử thì số lần người khởi kiện vắng mặt để làm căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án được tính riêng trong giai đoạn này (từ thời điểm mở phiên tòa) hay được tính gộp cùng với giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án (từ thời điểm thụ lý vụ án)? Ví dụ: Tại giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, thẩm phán đã triệu tập người khởi kiện đến Tòa án để lấy lời khai, người khởi kiện đã vắng mặt không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan. Sau đó, người khởi kiện được triệu tập hợp lệ lần đầu để tham gia phiên tòa và người khởi kiện tiếp tục vắng mặt không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan. Lúc này, Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án (vì Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai và người khởi kiện vẫn vắng mặt) hay Tòa án ra quyết định hoãn phiên tòa (vì người khởi kiện chỉ mới vắng mặt lần đầu tại phiên tòa)? Hiện nay, vấn đề này chưa có giải đáp cụ thể, chính thức, dẫn đến việc áp dụng pháp luật trong có thể diễn ra theo những hướng khác nhau.

Thứ ba, trường hợp ngoại lệ đối với người đại diện.

Đối chiếu với khoản 5 Điều 60, khoản 2 Điều 157 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 143 Luật này là chưa bao quát hết các trường hợp loại trừ, thiếu tương thích với các điều luật khác. Cụ thể, với quy định tại Điều 143, Tòa án phải đình chỉ giải quyết vụ án nếu người khởi kiện được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vắng mặt, kể cả có người đại diện hợp pháp tham gia phiên tòa. Bởi vì, Điều 143 không quy định ngoại lệ đối với trường hợp này. Trong khi đó, người khởi kiện được quyền ủy quyền cho người đại diện tham gia tố tụng, căn cứ khoản 5 Điều 60, người đại diện theo ủy quyền thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng hành chính của người ủy quyền. Hơn nữa, đối chiếu với khoản 2 Điều 157, mặc dù cùng quy định hướng xử lý đối với trường hợp người khởi kiện được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, tuy nhiên, phần giả định của hai điều luật là thiếu tương thích. Theo đó, tại phần giả định của khoản 2 Điều 157, Luật quy định: “Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa, nếu vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan thì xử lý như sau: a) Đối với người khởi kiện, người đại diện theo pháp luật của người khởi kiện mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của người đó, trừ trường hợp họ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt”. Với quy định này, rõ ràng rằng, nếu có người đại diện tham gia phiên tòa thì việc vắng mặt của người khởi kiện là không thuộc trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án. Kết hợp hai sự đối chiếu nêu trên, việc điểm đ khoản 1 Điều 143 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 không quy định loại trừ đối với trường hợp người khởi kiện vắng mặt nhưng có người đại diện tham gia phiên tòa là không toàn diện, tạo ra tính nghiêm ngặt quá mức cần thiết, không bảo đảm triệt để quyền tham gia phiên tòa.

2. Kiến nghị hoàn thiện

Với bất cập thứ nhất, có quan điểm cho rằng, để bảo đảm tính chính xác và chặt chẽ trong quy định pháp luật, Luật Tố tụng hành chính cần bổ sung “triệu tập hợp lệ từ lần thứ hai”[4]. Tham khảo thực tiễn xét xử, một số Tòa án có cách nhận định như sau: “Ông Trịnh Sơn T là người có kháng cáo vẫn vắng mặt lần thứ hai không có lý do, tức là người kháng cáo đã từ bỏ quyền kháng cáo của mình”[5]. Tham khảo khoản 2 Điều 43 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996, được sửa đổi, bổ sung năm 2006: “Người khởi kiện phải có mặt tại phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án, nếu vắng mặt lần thứ nhất có lý do chính đáng thì phải hoãn phiên tòa”. Như vậy, theo tác giả, cách hiểu “vắng mặt lần thứ nhất”, “vắng mặt lần thứ hai” là cách hiểu đúng với bản chất của căn cứ này. Theo đó, căn cứ này được áp dụng trong trường hợp người khởi kiện từ bỏ việc khởi kiện, dựa vào số lần vắng mặt (hai lần - được xem là cố ý vắng mặt). Do vậy, điểm đ khoản 1 Điều 143 cần sửa đổi như sau: “Người khởi kiện đã được triệu tập hợp lệ mà vẫn vắng mặt lần thứ hai trừ trường hợp...”.

Với bất cập thứ hai, trước hết, Luật Tố tụng hành chính năm 2015 cần điều chỉnh cụm từ “đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt” trở thành “đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt”. Điều chỉnh này giúp cho việc áp dụng căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án tại giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án trở nên thống nhất và thuyết phục. Tham khảo điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, được sửa đổi, bổ sung năm 2011, cụm từ này cũng đã được nhà làm luật sử dụng: “Nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt hoặc...”. Bên cạnh đó, Tòa án nhân dân tối cao cần có hướng dẫn về trường hợp người khởi kiện vắng mặt lần thứ nhất, vắng mặt lần thứ hai. Tác giả cho rằng, số lần vắng mặt được tính để ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án cần được tính từ thời điểm thụ lý vụ án. Chẳng hạn, ở giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, thẩm phán triệu tập hợp lệ đương sự để lấy lời khai, người khởi kiện cố ý vắng mặt (lần đầu), sau khi mở phiên tòa, người khởi kiện được triệu tập hợp lệ (lần thứ nhất, để tham gia phiên tòa) và vẫn cố ý vắng mặt, lúc này căn cứ tại điểm đ khoản 1 Điều 143 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 được áp dụng để đình chỉ giải quyết vụ án. Cách áp dụng này, một mặt bảo đảm được bản chất của căn cứ đỉnh chỉ trong trường hợp người khởi kiện đã từ bỏ việc khởi kiện, mặt khác, giúp tiết kiệm thời gian, công sức cho Tòa án và các đương sự khác.

Với bất cập thứ ba, để bảo đảm tính toàn diện, triệt để quyền lợi hợp pháp của người khởi kiện, cũng như tương thích với các điều luật khác của Luật Tố tụng hành chính năm 2015, căn cứ tại điểm đ khoản 1 Điều 143 cần được bổ sung “... trừ trường hợp… hoặc có người đại diện hợp pháp tham gia phiên tòa”.

Tóm lại, để bảo đảm nguyên tắc đơn nghĩa trong việc quy định pháp luật và thống nhất trong việc áp dụng pháp luật, cùng với việc hướng dẫn về trường hợp người khởi kiện vắng mặt lần thứ nhất, vắng mặt lần thứ hai, căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án hành chính tại điểm đ khoản 1 Điều 143 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 cần được điều chỉnh như sau: “Người khởi kiện đã được triệu tập hợp lệ mà vẫn vắng mặt lần thứ hai trừ trường hợp họ đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt hoặc trường hợp có sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan hoặc có người đại diện hợp pháp tham gia phiên tòa”.

Trần Quốc Văn

Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

[1]. Quyết định số 26/2019/QĐST-HC ngày 15/11/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh ĐT về đình chỉ giải quyết vụ án hành chính.

[2]. Án lệ số 12/2017/AL về xác định trường hợp đương sự được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất sau khi Tòa án đã hoãn phiên tòa, được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 14/12/2017 và được công bố theo Quyết định số 299/QĐ-CA ngày 28/12/2017 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

[3]. Thân Văn Nhường, Đình chỉ giải quyết vụ án hành chính, https://tapchitoaan.vn/dinh-chi-giai-quyet-vu-an-hanh-chinh-vuong-mac-va-kien-nghi.

[4]. Nguyễn Hoàng Yên (2015), Một số vấn đề về cách thức xử lý khi đương sự vắng mặt tại phiên tòa xét xử vụ án hành chính, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 5, tr. 11.

[5]. Quyết định số 94/2021/QĐ-PT ngày 21/5/2021 của Tòa án nhân dân Thành phố H về đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án kinh doanh thương mại.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Số 374, tháng 2/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

Ngày 23/3/2026, Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội đã ban hành Chỉ thị số 09-CT/TU về nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi công vụ; siết chặt kỷ luật, kỷ cương và trách nhiệm của cán bộ, nhất là người đứng đầu trong giai đoạn phát triển mới của Thủ đô Hà Nội (Chỉ thị số 09-CT/TU). Theo đó, Thành phố xác định rõ việc định vị hình ảnh và giá trị cốt lõi của Thủ đô với 09 đặc trưng "Thủ đô văn hiến - kết nối toàn cầu - thanh lịch, hào hoa - phát triển hài hòa - thanh bình, thịnh vượng - chính quyền phục vụ - doanh nghiệp cống hiến - xã hội niềm tin - người dân hạnh phúc", lấy "Văn hiến - bản sắc - sáng tạo" làm trục giá trị xuyên suốt.
Nhiều điểm mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Nhiều điểm mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng gắn với kiểm soát quyền lực nhà nước trong hoạt động giám sát, góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 được thông qua trên cơ sở kế thừa, bổ sung nhiều quy định mới về nguyên tắc định hướng, chủ thể giám sát, nội dung và quy trình để hoạt động giám sát đạt hiệu quả, chất lượng. Việc gắn kết giữa hoạt động giám sát với việc hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương có tính chất tương hỗ để hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Việc Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội thông qua cơ chế đặc thù về đầu tư, phát triển nhà ở cho thuê được xem là bước đi mới trong thực hiện Luật Thủ đô năm 2026. Với nhiều ưu đãi về đất đai, thủ tục đầu tư và cơ chế khai thác dự án, chính sách này không chỉ tạo động lực thu hút doanh nghiệp tham gia phát triển nhà ở cho thuê mà còn góp phần mở rộng nguồn cung nhà ở, bảo đảm an sinh xã hội và thúc đẩy phát triển đô thị bền vững.
Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Trong những năm gần đây, chủ trương về chuyển đổi số đã trở thành một trong những định hướng chiến lược quan trọng của Đảng và Nhà nước. Với tinh thần chủ động, tích cực tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là yêu cầu khách quan (Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị) tới Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã xác định “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới”.
Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 253/2026/NĐ-CP quy định miễn thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu nhập từ tiền lương làm thêm giờ đánh dấu bước điều chỉnh quan trọng trong chính sách thuế theo hướng hỗ trợ người lao động (NLĐ) và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Đây không chỉ là giải pháp nhằm tăng thu nhập thực nhận mà còn thể hiện sự kết nối giữa pháp luật thuế với pháp luật lao động. Tuy nhiên, quá trình triển khai cũng đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến quản lý thuế, bảo hiểm xã hội và quan hệ lao động, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý để bảo đảm tính minh bạch và hiệu quả của chính sách.
Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Ngày 19/6/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 1111/QĐ-TTg (Quyết định số 1111/QĐ-TTg) về việc ban hành Kế hoạch tổ chức “Ngày Văn hóa Việt Nam” giai đoạn 2026 - 2030. Đây không chỉ là một văn bản hành chính thuần túy, mà là một lời hiệu triệu, một chiến lược toàn diện nhằm đưa các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo đà cho đất nước bước vào kỷ nguyên mới.
Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Thực hiện Nghị quyết số 2092/NQ-UBTVQH15 về tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) và Nghị quyết số 2093/NQ-UBTVQH15 về việc thành lập Ban Chỉ đạo tổng rà soát, Bộ Tư pháp với vai trò là Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo đang tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện các nhiệm vụ được giao. Trong tuần từ ngày 06/7/2026 đến hết ngày 12/7/2026, công tác rà soát đã bước vào giai đoạn then chốt với sự tham gia đồng bộ của các bộ, ngành và địa phương trên cả nước, tập trung vào việc đánh giá thực chất và đảm bảo chất lượng báo cáo.
Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Ngày 02/7/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam (Kế hoạch), với các nội dung chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa Việt Nam; đưa các hệ giá trị thấm sâu vào đời sống xã hội; chủ động ngăn chặn tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống; nâng cao sức đề kháng của người dân trước những tác động tiêu cực.
Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Ngày 24/4/2026, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI thống nhất thông qua Nghị quyết số 24/2026/QH16 về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công trong thời gian 02 năm. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026 và được thực hiện đến hết ngày 30/9/2028.
Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước, công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động kinh tế - xã hội. Nếu như nhiệm kỳ trước đặt nền móng cho nhiều cải cách thể chế thì ngay từ những tháng đầu của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, công tác lập pháp đã được triển khai với cường độ cao, thể hiện rõ quyết tâm đưa thể chế đi trước một bước trong tiến trình phát triển đất nước.
Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026. Luật đã cụ thể hóa các văn bản quan trọng của Bộ Chính trị và Ban Bí thư, như: Kết luận số 12-KL/TW ngày 19/3/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Chỉ thị số 27-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Quy định số 231-QĐ/TW ngày 17/01/2025 của Bộ Chính trị về bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Trong tháng 6/2026, nhiều văn bản pháp luật mới đã được cập nhật, bao quát các lĩnh vực hành chính, tư pháp, thuế - phí, tài chính - ngân hàng, giao thông, xây dựng, đầu tư, khoa học - công nghệ và thương mại… Đây là những quy định quan trọng, tác động trực tiếp đến cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân.
Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Ngày 01/7/2026, Luật Viên chức số 129/2025/QH15 và Nghị định số 232/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành, tạo cơ sở pháp lý mới cho việc quản lý viên chức theo vị trí việc làm. Hai văn bản này cụ thể hóa chủ trương của Đảng về đổi mới cơ chế quản lý viên chức, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của viên chức.
Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Để bảo đảm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 925/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Theo dõi chúng tôi trên: