Thứ bảy 14/03/2026 19:13
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Đình chỉ giải quyết vụ án hành chính trong trường hợp người khởi kiện vắng mặt

Đình chỉ giải quyết vụ án hành chính trong trường hợp người khởi kiện vắng mặt

Tóm tắt: Qua quá trình áp dụng pháp luật vào thực tiễn cho thấy, căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án hành chính tại điểm đ khoản 1 Điều 143 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 về trường hợp người khởi kiện vắng mặt đã phát sinh những bất cập, hạn chế nhất định, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, hoạt động tố tụng. Do vậy, trên cơ sở phân tích, làm rõ một số bất cập, bài viết đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về căn cứ này.

Abstract: Through the process of applying the law into practice, it has been shown that the grounds for suspending the settlement of the administrative case at Point d, Paragraph 1, Article 143 of the 2015 Law on Administrative Procedures in the absence of the plaintiff have given rise to irregularities, certain restrictions, affecting the legitimate rights and interests of the litigants, procedural activities. Therefore, on the basis of analyzing and clarifying some inadequacies, the article proposes a number of recommendations to improving the legal on this basis.

Theo điểm đ khoản 1 Điều 143 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, Tòa án quyết định đình chỉ giải quyết vụ án trong trường hợp sau: “Người khởi kiện đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt trừ trường hợp họ đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt hoặc trường hợp có sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan”. Căn cứ này có sự khác biệt so với Luật Tố tụng hành chính năm 2010 (điểm c khoản 1 Điều 120): “Người khởi kiện đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt”. Tuy nhiên, trước đó, điểm c khoản 1 Điều 41 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 lại quy định: “Nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng”. Nhìn chung, quy định về các trường hợp loại trừ, ngoại lệ khi người khởi kiện vắng mặt đã có sự thay đổi, điều chỉnh theo từng thời điểm. Song, căn cứ đình chỉ trong trường hợp người khởi kiện vắng mặt vẫn được đặt ra, quy định xuyên suốt từ thời điểm Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 đến nay. Có thể thấy rằng, căn cứ đình chỉ khi người khởi kiện vắng mặt là cần thiết, bảo đảm quy trình giải quyết vụ án hành chính không bị trì hoãn, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự khác trong vụ án. Tuy nhiên, qua quá trình áp dụng thực tiễn, quy định này (tại Điều 143 Luật Tố tụng hành chính năm 2015) đã phát sinh những bất cập, hạn chế nhất định, cần được xem xét, hoàn thiện.

1. Bất cập về căn cứ đình chỉ tại điểm đ khoản 1 Điều 143 Luật Tố tụng hành chính năm 2015

Thứ nhất, việc đình chỉ được dựa vào số lần triệu tập hợp lệ.

Với cách quy định hiện hành, việc đình chỉ khi người khởi kiện vắng mặt được tính dựa vào số lần triệu tập hợp lệ của Tòa án. Cách quy định như vậy, dẫn đến hai bất cập như sau:

Một là, đối với trường hợp đương sự được Tòa án triệu tập hợp lệ từ lần thứ ba trở đi (hơn hai lần) mà vắng mặt không có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt hoặc không có sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan, nếu Tòa án căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 143 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 để đình chỉ giải quyết vụ án hành chính là khó thuyết phục. Bởi lẽ, các quy định này chỉ áp dụng trong trường hợp: “Người khởi kiện đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai”. Tuy nhiên, nếu trường hợp này xảy ra, nghĩa là, Tòa án triệu tập hơn hai lần, người khởi kiện vẫn vắng mặt lần thứ hai mà không thuộc các trường hợp ngoại lệ (được hiểu là người khởi kiện đã từ bỏ việc khởi kiện) thì Tòa án vẫn phải căn cứ quy định nêu trên để ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án. Trong thực tiễn, để phù hợp với diễn biến vụ việc, có Tòa án đã phải kết luận: “Người khởi kiện là ông Nguyễn Văn N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ ba mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa”[1].

Hai là, với trường hợp người khởi kiện được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng người khởi kiện vắng mặt chỉ một lần ở lần triệu tập gần nhất (đối với lần triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, người khởi kiện vẫn tham gia phiên tòa, tuy nhiên, Tòa án vẫn phải hoãn phiên tòa vì vắng mặt các đương sự khác) thì Tòa án vẫn có cơ sở để đình chỉ giải quyết vụ án vì Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Lúc này, việc đình chỉ giải quyết vụ án là không bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện. Hơn nữa, về mặt lý luận, căn cứ đình chỉ trong trường hợp này được hiểu là người khởi kiện từ bỏ việc khởi kiện. Với việc người khởi kiện chỉ vắng mặt lần đầu, chưa đủ cơ sở thuyết phục để cho thấy người khởi kiện có ý chí từ bỏ việc khởi kiện. Tham khảo Án lệ số 12/2017/AL[2], tại phiên tòa phúc thẩm lần đầu, các đương sự có mặt đầy đủ theo giấy triệu tập của Tòa án, tuy nhiên, Tòa án đã hoãn phiên tòa (việc hoãn phiên tòa là do Tòa án), lúc mở lại phiên tòa, đương sự vắng mặt thì được coi là vắng mặt lần thứ nhất, Tòa án phải xác định là trường hợp được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất vắng mặt tại phiên tòa để hoãn phiên tòa, thay vì đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án.

Thứ hai, trường hợp vắng mặt tại giai đoạn chuẩn bị xét xử.

Với một số căn cứ đan xen, chẳng hạn Điều 143 được quy định tại Chương X về thủ tục đối thoại và chuẩn bị xét xử nhưng điểm đ khoản 1 Điều này lại quy định giả định trường hợp “xét xử vắng mặt”, dẫn đến quy định về căn cứ đình chỉ này được hiểu theo một số cách khác nhau: (i) Căn cứ người khởi kiện vắng mặt tại Điều 143 có thể áp dụng trong cả giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm và tại phiên tòa sơ thẩm; (ii) Căn cứ người khởi kiện vắng mặt tại Điều 143 chỉ áp dụng tại phiên tòa sơ thẩm[3]. Song, hiện nay, vướng mắc này đã được giải đáp tại mục 3 phần III Công văn số 89/TANDTC-PC ngày 30/6/2020 của Tòa án nhân dân tối cao về việc thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong xét xử, với cách hiểu (i). Theo đó, với câu hỏi: “Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, người khởi kiện được triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến Tòa để lấy lời khai, nhưng vẫn vắng mặt mà không có lý do chính đáng và không có văn bản đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Trong trường hợp này, Tòa án có được đình chỉ giải quyết vụ án không?” Tòa án đã có giải đáp như sau: “... trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hành chính mà người khởi kiện đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến Tòa để lấy lời khai mà vẫn vắng mặt thì Tòa án cấp sơ thẩm có quyền đình chỉ giải quyết vụ án, trừ trường hợp họ đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt hoặc trường hợp có sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan. Riêng đối với trường hợp người khởi kiện được triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên đối thoại mà vẫn cố tình vắng mặt thì thuộc trường hợp vụ án không tiến hành đối thoại được và Tòa án vẫn tiến hành các thủ tục để giải quyết vụ án theo quy định”.

Tuy nhiên, với cách hiểu (i) nêu trên, lại phát sinh thêm hai cách hiểu khác nhau. Theo đó, nếu ở vụ án chuyển qua giai đoạn xét xử thì số lần người khởi kiện vắng mặt để làm căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án được tính riêng trong giai đoạn này (từ thời điểm mở phiên tòa) hay được tính gộp cùng với giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án (từ thời điểm thụ lý vụ án)? Ví dụ: Tại giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, thẩm phán đã triệu tập người khởi kiện đến Tòa án để lấy lời khai, người khởi kiện đã vắng mặt không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan. Sau đó, người khởi kiện được triệu tập hợp lệ lần đầu để tham gia phiên tòa và người khởi kiện tiếp tục vắng mặt không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan. Lúc này, Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án (vì Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai và người khởi kiện vẫn vắng mặt) hay Tòa án ra quyết định hoãn phiên tòa (vì người khởi kiện chỉ mới vắng mặt lần đầu tại phiên tòa)? Hiện nay, vấn đề này chưa có giải đáp cụ thể, chính thức, dẫn đến việc áp dụng pháp luật trong có thể diễn ra theo những hướng khác nhau.

Thứ ba, trường hợp ngoại lệ đối với người đại diện.

Đối chiếu với khoản 5 Điều 60, khoản 2 Điều 157 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 143 Luật này là chưa bao quát hết các trường hợp loại trừ, thiếu tương thích với các điều luật khác. Cụ thể, với quy định tại Điều 143, Tòa án phải đình chỉ giải quyết vụ án nếu người khởi kiện được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vắng mặt, kể cả có người đại diện hợp pháp tham gia phiên tòa. Bởi vì, Điều 143 không quy định ngoại lệ đối với trường hợp này. Trong khi đó, người khởi kiện được quyền ủy quyền cho người đại diện tham gia tố tụng, căn cứ khoản 5 Điều 60, người đại diện theo ủy quyền thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng hành chính của người ủy quyền. Hơn nữa, đối chiếu với khoản 2 Điều 157, mặc dù cùng quy định hướng xử lý đối với trường hợp người khởi kiện được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, tuy nhiên, phần giả định của hai điều luật là thiếu tương thích. Theo đó, tại phần giả định của khoản 2 Điều 157, Luật quy định: “Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa, nếu vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan thì xử lý như sau: a) Đối với người khởi kiện, người đại diện theo pháp luật của người khởi kiện mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của người đó, trừ trường hợp họ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt”. Với quy định này, rõ ràng rằng, nếu có người đại diện tham gia phiên tòa thì việc vắng mặt của người khởi kiện là không thuộc trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án. Kết hợp hai sự đối chiếu nêu trên, việc điểm đ khoản 1 Điều 143 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 không quy định loại trừ đối với trường hợp người khởi kiện vắng mặt nhưng có người đại diện tham gia phiên tòa là không toàn diện, tạo ra tính nghiêm ngặt quá mức cần thiết, không bảo đảm triệt để quyền tham gia phiên tòa.

2. Kiến nghị hoàn thiện

Với bất cập thứ nhất, có quan điểm cho rằng, để bảo đảm tính chính xác và chặt chẽ trong quy định pháp luật, Luật Tố tụng hành chính cần bổ sung “triệu tập hợp lệ từ lần thứ hai”[4]. Tham khảo thực tiễn xét xử, một số Tòa án có cách nhận định như sau: “Ông Trịnh Sơn T là người có kháng cáo vẫn vắng mặt lần thứ hai không có lý do, tức là người kháng cáo đã từ bỏ quyền kháng cáo của mình”[5]. Tham khảo khoản 2 Điều 43 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996, được sửa đổi, bổ sung năm 2006: “Người khởi kiện phải có mặt tại phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án, nếu vắng mặt lần thứ nhất có lý do chính đáng thì phải hoãn phiên tòa”. Như vậy, theo tác giả, cách hiểu “vắng mặt lần thứ nhất”, “vắng mặt lần thứ hai” là cách hiểu đúng với bản chất của căn cứ này. Theo đó, căn cứ này được áp dụng trong trường hợp người khởi kiện từ bỏ việc khởi kiện, dựa vào số lần vắng mặt (hai lần - được xem là cố ý vắng mặt). Do vậy, điểm đ khoản 1 Điều 143 cần sửa đổi như sau: “Người khởi kiện đã được triệu tập hợp lệ mà vẫn vắng mặt lần thứ hai trừ trường hợp...”.

Với bất cập thứ hai, trước hết, Luật Tố tụng hành chính năm 2015 cần điều chỉnh cụm từ “đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt” trở thành “đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt”. Điều chỉnh này giúp cho việc áp dụng căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án tại giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án trở nên thống nhất và thuyết phục. Tham khảo điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, được sửa đổi, bổ sung năm 2011, cụm từ này cũng đã được nhà làm luật sử dụng: “Nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt hoặc...”. Bên cạnh đó, Tòa án nhân dân tối cao cần có hướng dẫn về trường hợp người khởi kiện vắng mặt lần thứ nhất, vắng mặt lần thứ hai. Tác giả cho rằng, số lần vắng mặt được tính để ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án cần được tính từ thời điểm thụ lý vụ án. Chẳng hạn, ở giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, thẩm phán triệu tập hợp lệ đương sự để lấy lời khai, người khởi kiện cố ý vắng mặt (lần đầu), sau khi mở phiên tòa, người khởi kiện được triệu tập hợp lệ (lần thứ nhất, để tham gia phiên tòa) và vẫn cố ý vắng mặt, lúc này căn cứ tại điểm đ khoản 1 Điều 143 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 được áp dụng để đình chỉ giải quyết vụ án. Cách áp dụng này, một mặt bảo đảm được bản chất của căn cứ đỉnh chỉ trong trường hợp người khởi kiện đã từ bỏ việc khởi kiện, mặt khác, giúp tiết kiệm thời gian, công sức cho Tòa án và các đương sự khác.

Với bất cập thứ ba, để bảo đảm tính toàn diện, triệt để quyền lợi hợp pháp của người khởi kiện, cũng như tương thích với các điều luật khác của Luật Tố tụng hành chính năm 2015, căn cứ tại điểm đ khoản 1 Điều 143 cần được bổ sung “... trừ trường hợp… hoặc có người đại diện hợp pháp tham gia phiên tòa”.

Tóm lại, để bảo đảm nguyên tắc đơn nghĩa trong việc quy định pháp luật và thống nhất trong việc áp dụng pháp luật, cùng với việc hướng dẫn về trường hợp người khởi kiện vắng mặt lần thứ nhất, vắng mặt lần thứ hai, căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án hành chính tại điểm đ khoản 1 Điều 143 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 cần được điều chỉnh như sau: “Người khởi kiện đã được triệu tập hợp lệ mà vẫn vắng mặt lần thứ hai trừ trường hợp họ đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt hoặc trường hợp có sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan hoặc có người đại diện hợp pháp tham gia phiên tòa”.

Trần Quốc Văn

Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

[1]. Quyết định số 26/2019/QĐST-HC ngày 15/11/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh ĐT về đình chỉ giải quyết vụ án hành chính.

[2]. Án lệ số 12/2017/AL về xác định trường hợp đương sự được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất sau khi Tòa án đã hoãn phiên tòa, được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 14/12/2017 và được công bố theo Quyết định số 299/QĐ-CA ngày 28/12/2017 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

[3]. Thân Văn Nhường, Đình chỉ giải quyết vụ án hành chính, https://tapchitoaan.vn/dinh-chi-giai-quyet-vu-an-hanh-chinh-vuong-mac-va-kien-nghi.

[4]. Nguyễn Hoàng Yên (2015), Một số vấn đề về cách thức xử lý khi đương sự vắng mặt tại phiên tòa xét xử vụ án hành chính, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 5, tr. 11.

[5]. Quyết định số 94/2021/QĐ-PT ngày 21/5/2021 của Tòa án nhân dân Thành phố H về đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án kinh doanh thương mại.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Số 374, tháng 2/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: