Thứ sáu 17/04/2026 00:38
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Dự thảo Thông tư liên tịch thay thế Thông tư liên tịch số 01/2009/TTLT-BTP của Bộ Tư pháp - Một số vấn đề cần trao đổi

Triển khai thực hiện Nghị định số 22/2013/NĐ-CP ngày 13/3/2013 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp, ngày 26/10/2013 tại Ninh Bình

Triển khai thực hiện Nghị định số 22/2013/NĐ-CP ngày 13/3/2013 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp, ngày 26/10/2013 tại Ninh Bình, Bộ Tư pháp đã tổ chức Tọa đàm về dự thảo Thông tư liên tịch thay thế Thông tư liên tịch số 01/2009/TTLT-BTP-BNV ngày 28/4/2009 và dự thảo Đề án phân cấp quản lý các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp. Tham dự Tọa đàm có các đại biểu đại diện Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ, đại diện của Sở Tư pháp, Sở Nội vụ các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khu vực phía Bắc. Thứ trưởng Bộ Tư pháp Lê Hồng Sơn tham dự và chủ trì Tọa đàm.

Theo Thông tư liên tịch số 01/2009/TTLT-BTP-BNV ngày 28/4/2009 của liên Bộ Tư pháp - Bộ Nội vụ, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp và công chức tư pháp - hội tịch đã được rà soát, hệ thống hóa và xác định rõ ràng, cụ thể, bảo đảm không chồng chéo với nhiệm vụ của các cơ quan chuyên môn khác thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện và các công chức chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã. Cơ cấu tổ chức của Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp đã được kiện toàn thêm một bước để đáp ứng yêu cầu triển khai nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, sau hơn bốn năm triển khai thực hiện, nhiều quy định của Thông tư đã không còn phù hợp với các văn bản mới được ban hành (Nghị định số 22/2013/NĐ-CP ngày 13/3/2013; Nghị định số 61/2012/NĐ-CP ngày 10/8/2012 của Chính phủ, Luật Lý lịch tư pháp, Luật Bồi thường nhà nước...) cũng như thực tiễn thực hiện nhiệm vụ của các cơ quan tư pháp địa phương. Những nhiệm vụ mới và thay đổi cơ cấu tổ chức của các cơ quan tư pháp địa phương cần được hệ thống hóa trong văn bản quy định thống nhất về chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan tư pháp địa phương.

Tại buổi Tọa đàm, nhiều vấn đề đã được đưa ra để các đại biểu tập trung thảo luận như: Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp và việc triển khai công tác tư pháp của Ủy ban nhân dân cấp xã; quản lý công tác thi hành án dân sự ở địa phương; số lượng, tên gọi các phòng chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Sở Tư Pháp; biên chế của Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp, công chức tư pháp - hộ tịch; tên gọi của công chức tư pháp - hộ tịch... trong đó số lượng, tên gọi các phòng chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Sở Tư pháp; biên chế của Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp; công chức tư pháp - hộ tịch và tên gọi của công chức tư pháp - hộ tịch là những vấn đề được các đại biểu quan tâm, thảo luận nhiều nhất tại Tọa đàm.

1. Về số lượng, tên gọi các phòng chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Sở Tư pháp

Theo dự thảo Thông tư liên tịch thay thế Thông tư liên tịch số 01/2009/TTLT-BTP-BNV ngày 28/4/2009, đến nay về số lượng, tên gọi các phòng chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Sở Tư pháp được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 3 của dự thảo Thông tư liên tịch. Dự thảo quy định các phòng chuyên môn nghiệp vụ được thành lập phù hợp với đặc điểm của từng địa phương theo các lĩnh vực: Xây dựng và thi hành văn bản quy phạm pháp luật; kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật (bao gồm kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật); kiểm soát thủ tục hành chính; phổ biến, giáo dục pháp luật (bao gồm phổ biến, giáo dục pháp luật và hòa giải ở cơ sở); hành chính tư pháp (bao gồm hộ tịch, quốc tịch, chứng thực, con nuôi có yếu tố nước ngoài, bồi thường nhà nước, lý lịch tư pháp, đăng ký giao dịch bảo đảm); bổ trợ tư pháp (bao gồm quản lý luật sư và tư vấn pháp luật, trọng tài thương mại, thi hành án dân sự, các lĩnh vực tư pháp khác). Căn cứ vào khối lượng công việc, tính chất, đặc điểm quản lý của công tác tư pháp cụ thể của địa phương, Giám đốc Sở Tư pháp chủ trì, phối hợp với Giám đốc Sở Nội vụ trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định cụ thể tên gọi và số lượng các phòng nghiệp vụ để bao quát các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Sở, nhưng số lượng các phòng nghiệp vụ không quá 6 phòng đối với các tỉnh, không quá 8 phòng đối với thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.

Hiện nay, có 02 loại ý kiến về số lượng và tên gọi các phòng chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Sở Tư pháp. Ý kiến thứ nhất cho rằng nên quy định thống nhất tên gọi, số lượng các phòng thuộc Sở Tư pháp để thuận lợi cho việc quản lý tổ chức bộ máy. Ý kiến khác lại cho rằng, không nên quy định thống nhất tên gọi của các phòng chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Sở Tư pháp vì vấn đề này thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân. Trao đổi về vấn đề này, các đại biểu tham gia hội thảo đều thống nhất ý kiến, cho rằng việc quy định tên gọi của các phòng chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Sở Tư pháp nên thống nhất trong toàn quốc, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác chỉ đạo, điều hành và tổ chức công việc giữa các Sở Tư pháp trong cả nước. Về vấn đề này, đồng chí Nguyễn Hùng Tiến, Giám đốc Sở Tư pháp Ninh Bình cho rằng nên thống nhất tên gọi các phòng nghiệp vụ của Sở Tư pháp trong toàn quốc để tạo thuận lợi trong quá trình công tác.

2. Về biên chế của Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp, công chức tư pháp - hộ tịch

Biên chế của Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp, công chức tư pháp - hộ tịch là một trong những vấn đề "nóng" tại buổi Tọa đàm.

Biên chế của Sở Tư pháp theo dự thảo Thông tư liên tịch: Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, khối lượng công việc, tính chất và đặc điểm của công tác tư pháp ở địa phương, Giám đốc Sở Tư pháp phối hợp với Giám đốc Sở Nội vụ trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định biên chế công chức của Sở Tư pháp trong tổng số biên chế công chức của cấp tỉnh, đảm bảo mỗi phòng chuyên môn thuộc Sở có tối thiểu 05 người, trong đó có 01 trưởng phòng, không quá 02 phó trưởng phòng và các công chức chuyên môn. Biên chế sự nghiệp của các tổ chức sự nghiệp thuộc Sở Tư pháp do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định theo định mức biên chế và quy định của pháp luật. Việc tuyển dụng, bố trí công chức, viên chức của Sở Tư pháp phải căn cứ vào vị trí việc làm, chức danh, tiêu chuẩn, cơ cấu ngạch công chức, chức danh nghề nghiệp của viên chức nhà nước theo quy định.

Biên chế công chức của Phòng Tư pháp do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định trong tổng biên chế công chức của huyện được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao, đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ.

Theo đó, dự thảo Thông tư quy định số biên chế tối thiểu của các phòng chuyên môn thuộc Sở Tư pháp, của Phòng Tư pháp cấp huyện, số lượng công chức làm công tác tư pháp - hộ tịch tối thiểu ở mỗi cấp xã để đảm bảo đủ số lượng cán bộ triển khai nhiệm vụ, đồng thời vẫn bảo đảm thẩm quyền của địa phương quyết định cụ thể số lượng biên chế giao cho các cơ quan tư pháp địa phương và công chức tư pháp - hộ tịch. Cũng có ý kiến cho rằng không nên quy định số lượng biên chế của Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp, công chức tư pháp - hộ tịch vì đây là nhiệm vụ được phân cấp cho địa phương. Nhiều ý kiến thảo luận về vấn đề này. Các đại biểu tham dự Tọa đàm là đại diện của các Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp, là những người đang trực tiếp làm thực hiện nhiệm vụ đều cho rằng hiện nay biên chế cán bộ làm công tác tư pháp tại địa phương rất khó khăn. Ngành Tư pháp với nhiều nhiệm vụ mới như công tác lý lịch tư pháp, công tác bồi thường nhà nước và mới đây là công tác kiểm soát thủ tục hành chính, số lượng công việc tăng thêm rất nhiều nhưng không đủ cán bộ đảm nhiệm công việc. Việc chuyển giao công việc, con người làm công tác kiểm soát thủ tục hành chính từ Ủy ban nhân dân sang Sở Tư pháp cũng còn nhiều khó khăn. Có những cán bộ làm công tác này tại Ủy ban nhân dân xin chuyển sang các phòng, ban khác mà không muốn sang Sở Tư pháp hoặc những cán bộ làm công tác kiểm soát thủ tục hành chính chưa đạt về chuyên môn, nghiệp vụ... Các đại biểu cũng phản ánh, hiện nay cán bộ làm công tác tư pháp tại địa phương phải kiêm nhiệm thêm nhiều công việc mới, và đề nghị Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ nghiên cứu có cơ chế phù hợp để tháo gỡ vấn đề này. Đại diện đến từ Bộ Nội vụ cũng cho biết, về biên chế từ nay đến năm 2016 với chủ trương không tăng biên chế, vì vậy việc xin thêm biên chế trong giai đoạn này là hết sức khó khăn. Các Sở Tư pháp cần chủ động trong việc bố trí nhân lực phù hợp, đảm bảo tính thống nhất về thể chế. Sở Tư pháp phải phối hợp với Sở Nội vụ để hoàn thiện đề án vị trí việc làm, nếu thực sự cần thiết phải tăng thêm biên chế thì phải thể hiện trong đề án để làm cơ sở tăng biên chế cho các Sở Tư pháp. Bên cạnh đó, ở địa phương có thể nghiên cứu đến phương án đề xuất điều chỉnh biên chế từ các đơn vị sự nghiệp (viên chức) sang biên chế hành chính (công chức) theo các quy định của pháp luật về quản lý công chức, viên chức, báo cáo đề xuất để Lãnh đạo Bộ Nội vụ nghiên cứu và có những chủ trương cụ thể, phù hợp.

3. Về tên gọi của công chức tư pháp - hộ tịch

Tên gọi của công chức tư pháp - hộ tịch cũng được các đại biểu quan tâm, thảo luận sôi nổi. Hiện nay, tại Điều 8 dự thảo Thông tư liên tịch quy định: "Ở cấp xã có công chức tư pháp - hộ tịch tham mưu giúp Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn tại Điều 7 của Thông tư liên tịch này. Đối với những xã, phường, thị trấn có khối lượng công việc lớn, căn cứ vào điều kiện cụ thể của địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bố trí ít nhất là 02 công chức tư pháp - hộ tịch đối với cấp xã loại 1 và loại 2 và ít nhất là 01 công chức tư pháp - hộ tịch đối với cấp xã loại 3".

Có ý kiến cho rằng nên đổi tên gọi của công tư pháp - hộ tịch thành công chức tư pháp cấp xã vì nay công chức tư pháp đang được giao nhiều nhiệm vụ mới, nhiều nhiệm vụ được tăng cường, mở rộng hơn trong các lĩnh vực như kiểm soát thủ tục hành chính, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, tiếp cận pháp luật của người dân ở cơ sở... Đồng thời, trong thời gian tới khi dự thảo Luật Hộ tịch được Quốc hội thông qua, khi đó chức danh hộ tịch viên sẽ thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về hộ tịch ở cấp xã. Do đó việc ghép chung hai loại nhiệm vụ này trong cùng một chức danh tư pháp - hộ tịch là không còn phù hợp. Việc tách chức danh công chức tư pháp - hộ tịch thành hai chức danh "công chức tư pháp cấp xã" và chức danh "hộ tịch viên" để đảm bảo tính chuyên môn hóa trong việc thực hiện các nhiệm vụ về tư pháp, hộ tịch ở cấp xã vừa đón đầu được các quy định mới trong tương lai. Ý kiến này đã được đa số các đại biểu đồng tình.

Tuy nhiên, việc tách hai chức danh này cũng sẽ gặp phải không ít khó khăn về biên chế cán bộ và các chế độ chính sách kèm theo. Theo quy định của Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 về chức danh, số lượng, một số chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã và Nghị định số 112/2011/NĐ-CP ngày 5/12/2012 của Chính phủ quy định về công chức tư pháp - hộ tịch là một trong 7 chức danh công chức cấp xã. Theo đó, việc phân bổ về số lượng công chức cấp xã, quy định về tuyển dụng, chế độ tiền lương, phụ cấp, chế độ chính sách khác cho công chức cấp xã (trong đó có chức danh công chức tư pháp - hộ tịch) đều phải thực hiện theo quy định của Nghị định số 92/2009/NĐ-CP và Nghị định số 112/2011/NĐ-CP. Việc tách chức danh tư pháp - hộ tịch thành hai chức danh "công chức tư pháp" và "công chức hộ tịch" sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc hưởng các chế độ chính sách của công chức cấp xã, do đó vấn đề này cần được tiếp tục nghiên cứu thêm.

Nguyễn Thị Vinh

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.
Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết phân tích các vấn đề cốt lõi về hợp đồng tiếp thị liên kết, đánh giá thực tiễn áp dụng và chỉ ra những bất cập trong quy định pháp luật, đặc biệt liên quan đến khái niệm pháp lý, cơ chế giao kết và hiệu lực phụ lục hợp đồng. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng tiếp thị liên kết, nhằm bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong quan hệ hợp đồng và góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của hoạt động tiếp thị liên kết trong môi trường thương mại điện tử tại Việt Nam.
Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự gia tăng của quan hệ hôn nhân xuyên biên giới, vấn đề giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn ngày càng trở nên cấp thiết. Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá quy định hiện hành về xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch (lex patriae). Qua đó, nhận diện một số bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực thi nguyên tắc này tại Việt Nam hiện nay.
Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Tóm tắt: Ở Việt Nam, chế định Hội thẩm nhân dân là phương thức thể chế hóa quyền làm chủ của Nhân dân trong hoạt động xét xử. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, chế định này tồn tại một số hạn chế, dẫn đến sự tham gia của Nhân dân trong nhiều trường hợp còn hình thức. Bài viết phân tích vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử, nhận diện những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về cơ chế lựa chọn, phân công, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Hội thẩm nhân dân, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: