Thứ ba 14/07/2026 17:19
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Dự thảo Thông tư liên tịch thay thế Thông tư liên tịch số 01/2009/TTLT-BTP của Bộ Tư pháp - Một số vấn đề cần trao đổi

Triển khai thực hiện Nghị định số 22/2013/NĐ-CP ngày 13/3/2013 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp, ngày 26/10/2013 tại Ninh Bình

Triển khai thực hiện Nghị định số 22/2013/NĐ-CP ngày 13/3/2013 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp, ngày 26/10/2013 tại Ninh Bình, Bộ Tư pháp đã tổ chức Tọa đàm về dự thảo Thông tư liên tịch thay thế Thông tư liên tịch số 01/2009/TTLT-BTP-BNV ngày 28/4/2009 và dự thảo Đề án phân cấp quản lý các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp. Tham dự Tọa đàm có các đại biểu đại diện Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ, đại diện của Sở Tư pháp, Sở Nội vụ các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khu vực phía Bắc. Thứ trưởng Bộ Tư pháp Lê Hồng Sơn tham dự và chủ trì Tọa đàm.

Theo Thông tư liên tịch số 01/2009/TTLT-BTP-BNV ngày 28/4/2009 của liên Bộ Tư pháp - Bộ Nội vụ, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp và công chức tư pháp - hội tịch đã được rà soát, hệ thống hóa và xác định rõ ràng, cụ thể, bảo đảm không chồng chéo với nhiệm vụ của các cơ quan chuyên môn khác thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện và các công chức chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã. Cơ cấu tổ chức của Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp đã được kiện toàn thêm một bước để đáp ứng yêu cầu triển khai nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, sau hơn bốn năm triển khai thực hiện, nhiều quy định của Thông tư đã không còn phù hợp với các văn bản mới được ban hành (Nghị định số 22/2013/NĐ-CP ngày 13/3/2013; Nghị định số 61/2012/NĐ-CP ngày 10/8/2012 của Chính phủ, Luật Lý lịch tư pháp, Luật Bồi thường nhà nước...) cũng như thực tiễn thực hiện nhiệm vụ của các cơ quan tư pháp địa phương. Những nhiệm vụ mới và thay đổi cơ cấu tổ chức của các cơ quan tư pháp địa phương cần được hệ thống hóa trong văn bản quy định thống nhất về chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan tư pháp địa phương.

Tại buổi Tọa đàm, nhiều vấn đề đã được đưa ra để các đại biểu tập trung thảo luận như: Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp và việc triển khai công tác tư pháp của Ủy ban nhân dân cấp xã; quản lý công tác thi hành án dân sự ở địa phương; số lượng, tên gọi các phòng chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Sở Tư Pháp; biên chế của Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp, công chức tư pháp - hộ tịch; tên gọi của công chức tư pháp - hộ tịch... trong đó số lượng, tên gọi các phòng chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Sở Tư pháp; biên chế của Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp; công chức tư pháp - hộ tịch và tên gọi của công chức tư pháp - hộ tịch là những vấn đề được các đại biểu quan tâm, thảo luận nhiều nhất tại Tọa đàm.

1. Về số lượng, tên gọi các phòng chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Sở Tư pháp

Theo dự thảo Thông tư liên tịch thay thế Thông tư liên tịch số 01/2009/TTLT-BTP-BNV ngày 28/4/2009, đến nay về số lượng, tên gọi các phòng chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Sở Tư pháp được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 3 của dự thảo Thông tư liên tịch. Dự thảo quy định các phòng chuyên môn nghiệp vụ được thành lập phù hợp với đặc điểm của từng địa phương theo các lĩnh vực: Xây dựng và thi hành văn bản quy phạm pháp luật; kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật (bao gồm kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật); kiểm soát thủ tục hành chính; phổ biến, giáo dục pháp luật (bao gồm phổ biến, giáo dục pháp luật và hòa giải ở cơ sở); hành chính tư pháp (bao gồm hộ tịch, quốc tịch, chứng thực, con nuôi có yếu tố nước ngoài, bồi thường nhà nước, lý lịch tư pháp, đăng ký giao dịch bảo đảm); bổ trợ tư pháp (bao gồm quản lý luật sư và tư vấn pháp luật, trọng tài thương mại, thi hành án dân sự, các lĩnh vực tư pháp khác). Căn cứ vào khối lượng công việc, tính chất, đặc điểm quản lý của công tác tư pháp cụ thể của địa phương, Giám đốc Sở Tư pháp chủ trì, phối hợp với Giám đốc Sở Nội vụ trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định cụ thể tên gọi và số lượng các phòng nghiệp vụ để bao quát các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Sở, nhưng số lượng các phòng nghiệp vụ không quá 6 phòng đối với các tỉnh, không quá 8 phòng đối với thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.

Hiện nay, có 02 loại ý kiến về số lượng và tên gọi các phòng chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Sở Tư pháp. Ý kiến thứ nhất cho rằng nên quy định thống nhất tên gọi, số lượng các phòng thuộc Sở Tư pháp để thuận lợi cho việc quản lý tổ chức bộ máy. Ý kiến khác lại cho rằng, không nên quy định thống nhất tên gọi của các phòng chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Sở Tư pháp vì vấn đề này thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân. Trao đổi về vấn đề này, các đại biểu tham gia hội thảo đều thống nhất ý kiến, cho rằng việc quy định tên gọi của các phòng chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Sở Tư pháp nên thống nhất trong toàn quốc, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác chỉ đạo, điều hành và tổ chức công việc giữa các Sở Tư pháp trong cả nước. Về vấn đề này, đồng chí Nguyễn Hùng Tiến, Giám đốc Sở Tư pháp Ninh Bình cho rằng nên thống nhất tên gọi các phòng nghiệp vụ của Sở Tư pháp trong toàn quốc để tạo thuận lợi trong quá trình công tác.

2. Về biên chế của Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp, công chức tư pháp - hộ tịch

Biên chế của Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp, công chức tư pháp - hộ tịch là một trong những vấn đề "nóng" tại buổi Tọa đàm.

Biên chế của Sở Tư pháp theo dự thảo Thông tư liên tịch: Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, khối lượng công việc, tính chất và đặc điểm của công tác tư pháp ở địa phương, Giám đốc Sở Tư pháp phối hợp với Giám đốc Sở Nội vụ trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định biên chế công chức của Sở Tư pháp trong tổng số biên chế công chức của cấp tỉnh, đảm bảo mỗi phòng chuyên môn thuộc Sở có tối thiểu 05 người, trong đó có 01 trưởng phòng, không quá 02 phó trưởng phòng và các công chức chuyên môn. Biên chế sự nghiệp của các tổ chức sự nghiệp thuộc Sở Tư pháp do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định theo định mức biên chế và quy định của pháp luật. Việc tuyển dụng, bố trí công chức, viên chức của Sở Tư pháp phải căn cứ vào vị trí việc làm, chức danh, tiêu chuẩn, cơ cấu ngạch công chức, chức danh nghề nghiệp của viên chức nhà nước theo quy định.

Biên chế công chức của Phòng Tư pháp do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định trong tổng biên chế công chức của huyện được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao, đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ.

Theo đó, dự thảo Thông tư quy định số biên chế tối thiểu của các phòng chuyên môn thuộc Sở Tư pháp, của Phòng Tư pháp cấp huyện, số lượng công chức làm công tác tư pháp - hộ tịch tối thiểu ở mỗi cấp xã để đảm bảo đủ số lượng cán bộ triển khai nhiệm vụ, đồng thời vẫn bảo đảm thẩm quyền của địa phương quyết định cụ thể số lượng biên chế giao cho các cơ quan tư pháp địa phương và công chức tư pháp - hộ tịch. Cũng có ý kiến cho rằng không nên quy định số lượng biên chế của Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp, công chức tư pháp - hộ tịch vì đây là nhiệm vụ được phân cấp cho địa phương. Nhiều ý kiến thảo luận về vấn đề này. Các đại biểu tham dự Tọa đàm là đại diện của các Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp, là những người đang trực tiếp làm thực hiện nhiệm vụ đều cho rằng hiện nay biên chế cán bộ làm công tác tư pháp tại địa phương rất khó khăn. Ngành Tư pháp với nhiều nhiệm vụ mới như công tác lý lịch tư pháp, công tác bồi thường nhà nước và mới đây là công tác kiểm soát thủ tục hành chính, số lượng công việc tăng thêm rất nhiều nhưng không đủ cán bộ đảm nhiệm công việc. Việc chuyển giao công việc, con người làm công tác kiểm soát thủ tục hành chính từ Ủy ban nhân dân sang Sở Tư pháp cũng còn nhiều khó khăn. Có những cán bộ làm công tác này tại Ủy ban nhân dân xin chuyển sang các phòng, ban khác mà không muốn sang Sở Tư pháp hoặc những cán bộ làm công tác kiểm soát thủ tục hành chính chưa đạt về chuyên môn, nghiệp vụ... Các đại biểu cũng phản ánh, hiện nay cán bộ làm công tác tư pháp tại địa phương phải kiêm nhiệm thêm nhiều công việc mới, và đề nghị Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ nghiên cứu có cơ chế phù hợp để tháo gỡ vấn đề này. Đại diện đến từ Bộ Nội vụ cũng cho biết, về biên chế từ nay đến năm 2016 với chủ trương không tăng biên chế, vì vậy việc xin thêm biên chế trong giai đoạn này là hết sức khó khăn. Các Sở Tư pháp cần chủ động trong việc bố trí nhân lực phù hợp, đảm bảo tính thống nhất về thể chế. Sở Tư pháp phải phối hợp với Sở Nội vụ để hoàn thiện đề án vị trí việc làm, nếu thực sự cần thiết phải tăng thêm biên chế thì phải thể hiện trong đề án để làm cơ sở tăng biên chế cho các Sở Tư pháp. Bên cạnh đó, ở địa phương có thể nghiên cứu đến phương án đề xuất điều chỉnh biên chế từ các đơn vị sự nghiệp (viên chức) sang biên chế hành chính (công chức) theo các quy định của pháp luật về quản lý công chức, viên chức, báo cáo đề xuất để Lãnh đạo Bộ Nội vụ nghiên cứu và có những chủ trương cụ thể, phù hợp.

3. Về tên gọi của công chức tư pháp - hộ tịch

Tên gọi của công chức tư pháp - hộ tịch cũng được các đại biểu quan tâm, thảo luận sôi nổi. Hiện nay, tại Điều 8 dự thảo Thông tư liên tịch quy định: "Ở cấp xã có công chức tư pháp - hộ tịch tham mưu giúp Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn tại Điều 7 của Thông tư liên tịch này. Đối với những xã, phường, thị trấn có khối lượng công việc lớn, căn cứ vào điều kiện cụ thể của địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bố trí ít nhất là 02 công chức tư pháp - hộ tịch đối với cấp xã loại 1 và loại 2 và ít nhất là 01 công chức tư pháp - hộ tịch đối với cấp xã loại 3".

Có ý kiến cho rằng nên đổi tên gọi của công tư pháp - hộ tịch thành công chức tư pháp cấp xã vì nay công chức tư pháp đang được giao nhiều nhiệm vụ mới, nhiều nhiệm vụ được tăng cường, mở rộng hơn trong các lĩnh vực như kiểm soát thủ tục hành chính, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, tiếp cận pháp luật của người dân ở cơ sở... Đồng thời, trong thời gian tới khi dự thảo Luật Hộ tịch được Quốc hội thông qua, khi đó chức danh hộ tịch viên sẽ thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về hộ tịch ở cấp xã. Do đó việc ghép chung hai loại nhiệm vụ này trong cùng một chức danh tư pháp - hộ tịch là không còn phù hợp. Việc tách chức danh công chức tư pháp - hộ tịch thành hai chức danh "công chức tư pháp cấp xã" và chức danh "hộ tịch viên" để đảm bảo tính chuyên môn hóa trong việc thực hiện các nhiệm vụ về tư pháp, hộ tịch ở cấp xã vừa đón đầu được các quy định mới trong tương lai. Ý kiến này đã được đa số các đại biểu đồng tình.

Tuy nhiên, việc tách hai chức danh này cũng sẽ gặp phải không ít khó khăn về biên chế cán bộ và các chế độ chính sách kèm theo. Theo quy định của Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 về chức danh, số lượng, một số chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã và Nghị định số 112/2011/NĐ-CP ngày 5/12/2012 của Chính phủ quy định về công chức tư pháp - hộ tịch là một trong 7 chức danh công chức cấp xã. Theo đó, việc phân bổ về số lượng công chức cấp xã, quy định về tuyển dụng, chế độ tiền lương, phụ cấp, chế độ chính sách khác cho công chức cấp xã (trong đó có chức danh công chức tư pháp - hộ tịch) đều phải thực hiện theo quy định của Nghị định số 92/2009/NĐ-CP và Nghị định số 112/2011/NĐ-CP. Việc tách chức danh tư pháp - hộ tịch thành hai chức danh "công chức tư pháp" và "công chức hộ tịch" sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc hưởng các chế độ chính sách của công chức cấp xã, do đó vấn đề này cần được tiếp tục nghiên cứu thêm.

Nguyễn Thị Vinh

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: