Thứ ba 25/08/2026 15:56
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Ghi nhận từ cuộc thi tìm hiểu pháp luật về phòng, chống tham nhũng

Tháng 7/2013, cuộc thi Tiểu phẩm tuyên truyền pháp luật về phòng, chống tham nhũng qua video clip được triển khai đến các địa phương, các bộ, ngành, tổ chức xã hội trong cả nước. Chỉ sau gần 03 tháng phát động, đã có hơn 40 tiểu phẩm dự thi gửi về Bộ Tư pháp.

Đây là cuộc thi có chủ đề nhạy cảm, khô khan và tương đối khó thể hiện, mỗi tiểu phẩm phải xây dựng nội dung ở bối cảnh đời thường (không phải bối cảnh sân khấu) và chỉ được kéo dài trong thời gian từ 07 đến 15 phút. Các tiểu phẩm tham dự cuộc thi đã bám sát chủ đề cuộc thi, khai thác đề tài khá phong phú, mang đậm tính thời sự, hình thức thể hiện khá đa dạng. Những câu chuyện rất gần gũi với cuộc sống đời thường, đó là chuyện người nhà quan chức nhận quà biếu, mừng thọ, mừng xuân; quan chức chạy án, chạy chức, chạy việc…; hay những câu chuyện sang tên tài sản cho con để che giấu tài sải bất minh; xác nhận sự kiện hộ tịch không đúng; hoặc những kiểu nhũng nhiễu, biển thủ công quỹ trong quá trình giải phóng mặt bằng, khai khống, khai man tiền đền bù cho người dân, không công khai, minh bạch trong việc đấu thầu xây cầu, xây đường nông thôn mới, trong giải quyết chính sách tái định cư… tại các dự án; thậm chí những việc làm vô nhân đạo như bớt xén tiền cứu trợ đồng bào bị thiên tai bão lụt… đã được tái hiện bằng những màn diễn khá ấn tượng, gây căm phẫn. Có lẽ, nhiều người đều biết rõ những câu chuyện rất nóng đó đã và đang diễn ra trong cuộc sống hàng ngày, nhưng khi được dựng thành những tiểu phẩm, những tình huống cụ thể với những màn, cảnh, lời thoại thâm thúy, hàm xúc, chân thực, đã để lại nhiều ấn tượng sâu sắc và lắng đọng cho người xem và có những hiệu ứng nhất định so với việc phản ánh qua báo chí. Thông qua các tiểu phẩm dự thi về đề tài chống tham nhũng, có thể hình dung cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng còn hết sức cam go và phức tạp, bởi hành vi tham nhũng có muôn vàn biến tướng, bình phong, với nhiều vỏ bọc tinh vi dưới nhiều hình thức: Đó là những chiếc phong bì chúc tết, mừng thọ, mừng cưới, những chiếc phong bì chạy thủ tục… được gửi đến không chỉ với những người có chức, có quyền, mà còn tìm đến với những người thân của họ vào đúng những thời điểm nhạy cảm, những lúc gia cảnh gặp khó khăn, nhằm “thuyết phục” họ nhận sự “quan tâm” giúp đỡ, để giải quyết một công việc nào đó... Để chiến thắng được những cám dỗ đó, đòi hỏi những người có chức quyền và người thân của họ phải hiểu biết pháp luật về chống tham nhũng, có ý chí, bản lĩnh vững vàng để tự đấu tranh với bản thân, với người thân và những kẻ cơ hội, lợi dụng.

Không còn nghi ngờ gì nữa, tham nhũng đã thực sự trở thành đại dịch, thành giặc, là mối, mọt đục khoét những bức tường đạo đức và pháp luật mà chúng ta đang đổ bao công sức xây nên, có những lúc người ta phải thất vọng, thốt lên “tin vào ai?”. Tuy nhiên, để nhận diện hành vi tham nhũng không phải là điều dễ, các tiểu phẩm dự thi đã phần nào giúp người xem hiểu được biến tướng và sự chuyển hóa của tham nhũng cùng những hậu họa ghê gớm của nạn tham nhũng. Chính vì vậy, để phòng, chống tham nhũng, rất cần có sự chung tay của mọi người trong xã hội, rất cần đưa pháp luật đến mọi người dân.

Ngoài việc tuyên truyền, phổ biến để nhận diện hành vi tham nhũng, một số tiểu phẩm dự thi đã phổ biến những hình thức đấu tranh chống tham nhũng, những quy định của pháp luật về xử lý những hành vi tham nhũng một cách nhẹ nhàng dễ tiếp cận, mà sâu sắc. Một số tiểu phẩm mạnh dạn vạch trần biểu hiện tham nhũng trong Ngành Tư pháp, đặc biệt là lĩnh vực đăng ký hộ tịch (tiểu phẩm của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre; Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Thuận; Sở Tư pháp thành phố Hồ Chí Minh; Sở Tư pháp Lâm Đồng…). Nhiều tiểu phẩm đã đề cập đến “văn hóa phong bì”, vấn đề công khai minh bạch ở chính quyền cấp xã, phường; về cuộc đấu tranh với hành vi tham nhũng trong gia đình những cán bộ có chức, có quyền. Có tiểu phẩm còn đề xuất các giải pháp phòng, chống tham nhũng.

Điều đáng ghi nhận là, ngoài một số tiểu phẩm mang tính răn đe, lên án hành vi tham nhũng, không ít tiểu phẩm dự thi đã thể hiện dưới góc độ nêu gương, xây dựng được hình ảnh người lãnh đạo hết lòng vì nhân dân, đã chiến thắng được bản thân, thuyết phục được người thân, đồng nghiệp giữ mình không bị “vấp ngã” trước sức mạnh và cám dỗ của “đồng tiền có gai”, đồng tiền bẩn thỉu (các tiểu phẩm của Sở Tư pháp Cà Mau; Phòng Tài nguyên môi trường Kiên Giang; Sở Tư pháp Vĩnh Long; Sở Tư pháp Lâm Đồng…). Qua các tiểu phẩm, người xem tin tưởng hơn vào cuộc chiến phòng, chống hành vi tham nhũng, cũng như được trang bị nhiều kiến thức pháp luật về chủ đề này. Những câu thoại ấn tượng sâu sắc, chắc chắn còn đọng lại rất lâu trong lòng người xem .

Mặc dù cũng còn một số ít tiểu phẩm do thời gian chuẩn bị quá ngắn, kinh phí hạn hẹp, nên chưa đầu tư nhiều cho kịch bản, diễn viên, cách thức truyền tải còn khiên cưỡng; thậm chí gây phản cảm, đơn điệu, khô cứng, giáo điều, chất lượng âm thanh, hình ảnh chưa đạt, tuy nhiên, Ban giám khảo cuộc thi đã đánh giá đa số các tiểu phẩm đảm bảo tính logic, sát thực tiễn, đạt yêu cầu về hiệu quả tuyên truyền. Một số tiểu phẩm thể hiện nội dung tuyên truyền rõ nét, ý tưởng kịch bản tốt, có hiệu quả, thể hiện sự đầu tư có trách nhiệm của đơn vị dự thi… Về kỹ thuật, nhiều tiểu phẩm dàn dựng công phu, chất lượng âm thanh, ánh sáng, bối cảnh đạt hiệu quả cao…

Qua hai vòng chấm (sơ khảo và chung khảo), với tinh thần làm việc nghiêm túc, công bằng, khách quan, Ban giám khảo cuộc thi đã thống nhất lựa chọn 14 tiểu phẩm đạt chất lượng tốt vào chung khảo, trong đó:

01 tiểu phẩm đạt giải nhất là: Tiểu phẩm “Dân kiểm tra” của Sở Tư pháp Hà Nội;

02 tiểu phẩm đạt giải nhì là: Tiểu phẩm “Công khai minh bạch” của Sở Tư pháp tỉnh Bắc Ninh và “Đôi mắt” của Sở Tư pháp tỉnh Cà Mau;

05 tiểu phẩm được giải ba là: Tiểu phẩm “Như là tai họa” của Sở Tư pháp thành phố Hồ Chí Minh; “Con đường mang hình dấu hỏi” của Trung ương Hội Nông dân Việt Nam; “Đồng Tiền có gai” của Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng; “Khi người tố cáo bị hại” của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương và “Chuyện phường tôi” của Bộ Công an;

06 giải khuyến khích gồm: Tiểu phẩm của Đài Truyền hình Việt Nam, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Thuận; Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang; Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre; Sở Tư pháp Hải Phòng và Sở Tư pháp tỉnh Bắc Kạn.

Đây là lần đầu tiên tổ chức cuộc thi tuyên truyền, phổ biến pháp luật về phòng, chống tham nhũng bằng hình thức tiểu phẩm video clip, số lượng các đơn vị tham dự và chất lượng kết quả cuộc thi là rất đáng mừng. Mặc dù, thời gian dự thi hơi ngắn, với chủ đề cuộc thi rất nhạy cảm, khô khan, nhưng chỉ trong thời gian chưa đầy 03 tháng, nhiều đơn vị đã nhiệt tình hưởng ứng với tinh thần trách nhiệm cao đối với công tác phổ biến, tuyên truyền pháp luật, có địa phương dựng 02 tiểu phẩm dự thi (như Ninh Thuận, Lâm Đồng, Bình Dương, Bến Tre, Vĩnh Long và Kiên Giang) có phòng tư pháp, Ủy ban nhân dân huyện cũng gửi tiểu phẩm về dự thi.

Các tiểu phẩm đạt giải cao sẽ được phát trên phương tiện thông tin đại chúng, chắc chắn sẽ góp phần phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng của nước ta và tuyên truyền Công ước của Liên Hợp Quốc về phòng, chống tham nhũng một cách hiệu quả. Hình thức phổ biến pháp luật qua các tiểu phẩm video clip cần tiếp tục được nghiên cứu, rút kinh nghiệm và phát triển.

Chúng tôi tin tưởng và mong ước xã hội ta sẽ sớm loại bỏ khỏi đời sống những hành vi “bôi trơn”, “đút lót” chạy chức quyền… những mầm mống chính để tham nhũng phát triển

Duy Kiên

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: