Thứ bảy 27/06/2026 21:50
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về dịch vụ logistics ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu những giải pháp cơ bản góp phần thực hiện có hiệu quả các mục tiêu về nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics ở Việt Nam.


Abstract: The paper focuses on the study of fundamental solutions contributing to the effective implementation of goals on improving competition capability and logistics service development in Vietnam.

Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hoá theo thoả thuận với khách hàng để hưởng thù lao (Điều 233 Luật Thương mại năm 2005).

Là quốc gia có vị trí địa lý vô cùng thuận lợi cho hoạt động logistics, tuy nhiên trong nhiều năm trước đây, Việt Nam thiếu chiến lược rõ ràng nhằm phát triển dịch vụ logistics. Đến năm 2017, với Quyết định số 200/QĐ-TTg ngày 14/02/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt kế hoạch hành động nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics Việt Nam đến năm 2025 (Quyết định số 200/QĐ-TTg) thì những quan điểm phát triển, mục tiêu phát triển và các nhiệm vụ chủ yếu đã được đặt ra mang tầm chiến lược.

Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy để triển khai thực hiện chiến lược của Chính phủ về phát triển dịch vụ logistics là một chặng đường dài nhiều khó khăn và phức tạp. Hoạt động đầu tiên phản ánh nỗ lực của Chính phủ là tổ chức thành công diễn đàn logistics Việt Nam năm 2017 với chủ đề “Nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics Việt Nam” do Bộ Công Thương chủ trì được tổ chức ngày 15/12/2017 tại Hà Nội. Qua đó cho thấy bức tranh toàn cảnh về dịch vụ logistics của Việt Nam. Chi phí logistics ở nước ta còn ở mức cao, tương đương 20% GDP (trong khi các nước phát triển chỉ từ 9-14%) nhưng chỉ đóng góp khoảng 3% vào GDP. Tỷ lệ thuê ngoài khoảng 35 - 40%, số lượng doanh nghiệp logistics của nước ta có khoảng 3.000 doanh nghiệp hoạt động trong ngành dịch vụ logistics nhưng chỉ chiếm thị phần là 25%, trong khi đó chỉ với 30 doanh nghiệp nước ngoài cung cấp dịch vụ logistics xuyên quốc gia đang hoạt động tại Việt Nam nhưng chiếm tới 75% thị phần logistics của Việt Nam [1]…

Như vậy, để đạt được các mục tiêu như Chính phủ đề ra là đến năm 2025, tỷ trọng đóng góp của ngành dịch vụ logistics vào GDP đạt 8%-10%, tốc độ tăng trưởng dịch vụ đạt 15%-20%, tỷ lệ thuê ngoài dịch vụ logistics đạt 50%-60%, chi phí logistics giảm xuống tương đương 16%-20% GDP, xếp hạng theo chỉ số năng lực quốc gia về logistics (LPI) trên thế giới đạt thứ 50 trở lên…[2], thì công việc đặt ra cho các bộ, ngành, địa phương là khá nặng nề. Để phát triển dịch vụ logistics ở Việt Nam và hoàn thành các mục tiêu theo Quyết định số 200/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương cần thực hiện một số nhiệm vụ cơ bản sau:

Thứ nhất, hoàn thiện pháp luật kinh doanh dịch vụ logistics

Các quy định của pháp luật về dịch vụ logistics có phạm vi rất rộng, liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực khác nhau. Ở Việt Nam, chưa có một cơ quan chủ quản chịu trách nhiệm hệ thống hóa, tập hợp hóa văn bản quy phạm pháp luật về dịch vụ logistics, mà mỗi cơ quan, mỗi ngành khác nhau lại có hệ thống tập hợp riêng, triển khai riêng. Do đó, việc nghiên cứu pháp luật dịch vụ logistics một cách đầy đủ và chính xác còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế.

Khó khăn, vướng mắc nữa cũng bắt nguồn từ các quy định của pháp luật là dịch vụ logistics rất rộng, trải dài trên nhiều ngành, nghề khác nhau. Vì vậy, các nhà làm luật đã không thể dự liệu hết được nên còn để lại những khoảng trống pháp lý nhất định. Bên cạnh đó, khi ban hành các quy định về logistics các cơ quan chủ quan, các nhà làm luật đã thiếu sự khảo sát thực tế, thiếu sự nghiên cứu tiếp thu kinh nghiệm nước ngoài và hạn chế trong tổ chức đối thoại, lấy ý kiến,... Do đó, còn có những quy định mang tính hình thức, thiếu tính thực tế và còn có những khoảng trống pháp lý nhất định cần thiết phải được hoàn thiện.

Vì vậy, vấn đề đặt ra là phải khẩn trương hoàn thiện khung pháp lý cho việc nâng cao sức cạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics.

Về hướng hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động logistics: Phải đảm bảo hệ thống pháp luật rõ ràng, minh bạch và không còn xung đột hay khoảng trống pháp lý. Do đó, giải pháp trước mắt Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tư pháp cần phối hợp rà soát các cam kết quốc tế về dịch vụ logistics tại Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và các hiệp định thương mại tự do (FTA),… để kiến nghị Chính phủ xem xét sửa đổi, bổ sung và có các biện pháp đảm bảo tránh xung đột trong cam kết về logistics tại các diễn đàn quốc tế, tránh xung đột giữa cam kết quốc tế về logistics với pháp luật trong nước, giải quyết các mâu thuẫn của pháp luật trong nước với nhau và khỏa lấp khoảng trống pháp lý trong điều chỉnh kinh doanh dịch vụ logistics tại Việt Nam. Theo đó, tập hợp hóa, hệ thống hóa pháp luật điều chỉnh kinh doanh dịch vụ logistics nhằm tạo điều kiện cho các nhà đầu tư tiếp cận nhanh chóng, đầy đủ hệ thống pháp luật về kinh doanh dịch vụ logistics tại Việt Nam.

Về lâu dài, cần xem xét sửa đổi, bổ sung Luật Thương mại năm 2005 theo hướng tách dịch vụ logistics khỏi phạm vi điều chỉnh của Luật Thương mại để xây dựng luật riêng - Luật Kinh doanh dịch vụ logistics. Theo đó, đối tượng và phạm vi điều chỉnh bao hàm tất cả các dịch vụ logistics có liên quan từ đầu tư, kinh doanh cho đến các ngành nghề có liên quan như giao thông vận tải, kho bãi, hải quan,…

Thứ hai, giải pháp về thu hút nguồn lực đầu tư nước ngoài

Để thu hút được nguồn lực đầu tư nước ngoài bao gồm nguồn vốn, nguồn nhân lực chất lượng cao và kinh nghiệm hoạt động logistics của các nhà đầu tư nước ngoài thì Việt Nam cần phải có cơ chế, chính sách thật rõ ràng và minh bạch. Cơ chế, chính sách này cần tập trung vào đầu tư hạ tầng cơ sở. Bởi lẽ, cơ sở hạ tầng là cái quyết định kiến trúc thượng tầng, bảo đảm cho chiến lược về dịch vụ logistics của Việt Nam được thực hiện thắng lợi, thành công.

Quyết định số 200/QĐ-TTg thể hiện rõ quan điểm: “Logistics là một ngành dịch vụ quan trọng trong cơ cấu tổng thể nền kinh tế quốc dân, đóng vai trò hỗ trợ, kết nối và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của cả nước cũng như từng địa phương, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế”. Cùng với quan điểm này là mục tiêu: “Tập trung thu hút đầu tư vào phát triển hạ tầng logistics, xây dựng các trung tâm logistics cấp khu vực và quốc tế, nâng cao hiệu quả kết nối giữa Việt Nam với các nước. Đưa Việt Nam trở thành một đầu mối logistics của khu vực”.

Cụ thể hơn, tại nhiệm vụ số 14 trong các nhiệm vụ cụ thể nâng cao năng lực cạnh trạnh và phát triển dịch vụ logistics Việt Nam đến năm 2025 được ban hành kèm theo Quyết định số 200/QĐ-TTg đã quy định rõ trách nhiệm của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam trong việc hoàn thiện chính sách, đẩy mạnh thu hút đầu tư vào lĩnh vực hạ tầng logistics. Trong đó, việc ban hành chính sách nhằm thu hút vốn đầu tư trong nước và nước ngoài, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ logistics và phát triển kết cấu hạ tầng logistics phải được hoàn thiện vào năm 2019.

Có thể nói, đây là giải pháp cơ bản nhằm thu hút được nguồn lực từ các nhà đầu tư trong nước, các nhà đầu tư nước ngoài nhằm phát triển dịch vụ logistics của Việt Nam. Tuy nhiên, để thu hút hút được đầu tư vào hạ tầng logistics Việt Nam, ngoài chính sách ưu đãi thu hút đầu tư thì việc quy hoạch hạ tầng cụ thể để quảng bá, mời chào các nhà đầu tư tham gia đấu thầu công khai, minh bạch là một giải pháp hữu hiệu để thực hiện hiệu quả chiến lược logistics Việt Nam.

Vì vậy, giải pháp đặt ra cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư là phải quy hoạch và công khai quy hoạch các dự án hạ tầng logistics cần thu hút nguồn vốn đầu tư trong nước cũng như nước ngoài, trong đó xác định những dự án hạ tầng logistics cần phải làm ngay và các dự án hạ tầng logistics trong kế hoạch lâu dài để các nhà đầu tư có thời gian chuẩn bị tham gia đầu thầu, liên minh, liên kết, hợp đồng hợp tác kinh doanh một cách có hiệu quả nhất.

Thứ ba, vấn đề bảo hộ nhà đầu tư, doanh nghiệp trong nước

Bất kỳ nước nào cũng xây dựng những chính sách bảo hộ cho các nhà đầu tư, doanh nghiệp và lao động trong nước. Việt Nam cũng không là ngoại lệ. Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn có chính sách đúng đắn trong mở cửa thị trường logistics cho các nhà đầu tư nước ngoài, nhưng cũng luôn bảo hộ những nhà đầu tư và doanh nghiệp trong nước. Đây luôn là hai mặt của một vấn đề, không dễ dàng để thực hiện khi mà hoạt động logistics của Việt Nam còn khá non trẻ, yếu kém từ vốn, kinh nghiệm cho tới nguồn nhân lực,…

Bên cạnh đó, hiện tại Việt Nam đã và đang phải thực hiện đúng các cam kết quốc tế về mở cửa thị trường logistics thì việc bảo hộ cứng nhắc, mang tính cấm đoán, cho phép hoặc không cho phép kinh doanh dịch vụ logistics không còn phù hợp với thực tiễn. Vì vậy, Việt Nam cần phải có giải pháp căn cơ cho vấn đề này.

Theo đó, giải pháp cho vấn đề chống cạnh tranh không lành mạnh, tránh việc chiếm lĩnh thị trường độc quyền logistic của các nhà đầu tư nước ngoài, bảo hộ thị phần logistics trong nước, thì Việt Nam phải thực hiện đồng bộ và tổng thế các giải pháp bao gồm: Xây dựng, hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong nước, trong đó đặc biệt phải xây dựng được những tập đoàn logistics mạnh và đủ sức cạnh tranh với các tập đoàn trên thế giới; đào tạo nguồn nhân lực; thông tin, truyền thông về logistics;…

Tuy nhiên, cần phải nhấn mạnh giải pháp cơ bản và hữu hiệu nhất là xây dựng những tập đoàn trong nước vững mạnh cả về vốn, mối quan hệ và nguồn nhân lực. Đây là kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới đã trải qua. Những tập đoàn này là hạt nhân để liên kết, kết nối các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics trong nước lại với nhau tạo nên một hệ thống chỉnh thể và thống nhất để thực hiện logistics 3PL (cung cấp dịch vụ logistics bên thứ ba hay logistics theo hợp đồng), 4PL (logistics chuỗi phân phối hay nhà cung cấp logistics chủ đạo) và thậm chí là 5PL (cung cấp dịch vụ logistics bên thứ năm). Việt Nam đang thuận lợi là một số doanh nghiệp có vốn sở hữu của nhà nước có nguồn lực khá tốt để thực hiện được chiến lược này.

Quyết định số 200/QĐ-TTG đã nêu rõ quan điểm của Việt Nam là “tập trung nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics. Phát triển các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics về số lượng, quy mô, trình độ nhân lực, có năng lực cạnh tranh cao ở thị trường trong nước và quốc tế”[3]. Với mục tiêu là “hình thành các doanh nghiệp dịch vụ logistics đầu tàu, có đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế, đồng thời hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp dịch vụ logistics theo phương châm hiện đại, chuyên nghiệp”[4]. Thực hiện tốt quan điểm và mục tiêu này, chính là giải pháp bảo đảm hiệu quả nhất thị trường logistics cho nhà đầu tư, doanh nghiệp trong nước và vươn tầm ra thế giới.

Giải pháp đặt ra cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Công thương, Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam và Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam là phải có cơ chế, chính sách hỗ trợ nhằm xây dựng những tập đoàn mạnh về logistics, tiến tới đầu tư ra nước ngoài và xuất khẩu dịch vụ logistics; Hình thành những doanh nghiệp/tập đoàn lớn về logistics, tạo định hướng và động lực phát triển thị trường logistics.

Thứ tư, về cơ sở hạ tầng logistics

Cơ sở hạ tầng logistics quyết định đến nhiều vấn đề quan trọng trong nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics, trong đó có vấn đề về giảm chi phí dịch vụ logistics,… Vì vậy, Việt Nam cần phải có chiến lược trước mắt cũng như lâu dài về hạ tầng logistics. Theo đó, chiến lược này phải đa dạng hóa các loại hình giao thông, kết nối giao thông từ đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa, đường biển, đường hàng không với các trung tâm logistics, kho vận,… Để thực hiện được chiến lược này, Việt Nam cần có nguồn vốn lớn của các nhà đầu tư, của doanh nghiệp trong và ngoài nước. Do đó, yêu cầu đặt ra là Việt Nam phải quy hoạch và xác định những dự án nào Nhà nước thực hiện, dự án nào dành cho doanh nghiệp trong nước và dự án nào cần phải thu hút đầu tư nước ngoài. Từ đó, có cơ chế khuyến khích, ưu đãi, giới thiệu, mời chào để thu hút các nhà đầu tư thực hiện đầu tư vào hạ tầng logistics.

Giải pháp này đặt ra cho các bộ, ngành, địa phương là phải kiến nghị Chính phủ nghiên cứu thành lập Ban chỉ đạo quốc gia về logistics. Theo đó, Ban chỉ đạo này chỉ đạo/lãnh đạo thống nhất lập quy hoạch hạ tầng logistics Việt Nam trên phạm vi toàn quốc cần phải đầu tư, hoàn thiện. Từ quy hoạch này, những dự án nào cần phải xã hội hóa đầu tư, cũng như thu hút nguồn đầu tư nước ngoài thì tiến hành công bố/niêm yết công khai trên cổng thông tin điện tử của Ban chỉ đạo, của các bộ, ngành, địa phương có liên quan để kêu gọi, mời gọi đầu tư.

Thứ năm, về đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ dịch vụ logistics

Nguồn nhân lực logistics của Việt Nam hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu, thiếu cả số lượng và chất lượng nguồn nhân lực chất lượng cao. Nhân lực ngành logistics thiếu kiến thức toàn diện, trình độ công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) còn hạn chế, chưa theo kịp tiến độ phát triển của logistics thế giới. Trình độ tiếng Anh nghiệp vụ logistics còn hạn chế, chỉ khoảng 4% nhân lực thông thạo tiếng Anh nghiệp vụ. Trong khi đó, nhu cầu sử dụng nhân lực theo dự báo đến năm 2025 là khoảng 300.000 nhân viên chuyên nghiệp, có trình độ chuyên môn, ICT và tiếng Anh đáp ứng yêu cầu trong điều kiện Cách mạng công nghiệp 4.0 trong số khoảng 1,2 triệu người hoạt động trong lĩnh vực logistics[5].

Vì vậy, giải pháp đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ dịch vụ logistics là đặc biệt quan trọng. Trong giải pháp này, việc đào tạo nguồn nhân lực từ trung cấp, cao đẳng, đại học và trên đại học. Bên cạnh đó, đào tạo cần có sự hợp tác quốc tế, liên kết và có sự đặt hàng từ nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp; phải đa dạng các hình thức đào tạo, bồi dưỡng có sự kết hợp giữa Nhà nước và tư nhân, phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn về nhân lực đã được cộng đồng quốc tế thừa nhận.

Vì vậy, Bộ Công thương, Bộ Giáo dục và Đào tạo phải phối hợp xây dựng chiến lược đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ dịch vụ logistics. Trong chiến lược này, giao chỉ tiêu cho các trường đại học, cao đẳng, trung cấp có năng lực thực hiện việc đào tạo nguồn nhân lực; có chính sách khuyến khích các trường hợp tác với các cơ sở đào tạo nhân lực logistics có uy tín trên thế giới để đào tạo nhân lực chất lượng cao cho Việt Nam.

Đinh Duy Bằng

Văn phòng Luật sư Trường Thành

Tài liệu tham khảo:

[1]. Báo Pháp luật Việt Nam, “75% dịch vụ logistics ở Việt Nam do doanh nghiệp ngoại vận hành”, http://baophapluat.vn/thi-truong/75-dich-vu-logistics-o-viet-nam-do-doanh-nghiep-ngoai-van-hanh-371295.html.

[2]. Mục 2 phần II Quyết định số 200/QĐ-TTg.

[3]. Mục 5 phần I Quyết định số 200/QĐ-TTg.

[4]. Mục 3 phần II Quyết định số 200/QĐ-TTg.

[5]. Bộ Công thương, Báo cáo logistics Việt Nam năm 2017: Logistics từ kế hoạch đến hành động, tr. 26-127.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Để bảo đảm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 925/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1111/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026 - 2030 (Kế hoạch), đánh dấu bước triển khai quan trọng Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 130/2025/QH15 (Luật năm 2025) được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 (ngày 10/12/2025), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 gồm 11 Chương và 107 Điều quy định về hoạt động hàng không dân dụng, bao gồm các quy định về tàu bay, cảng hàng không, nhân viên hàng không, hoạt động bay, vận tải hàng không thương mại, hàng không chuyên dùng, hàng không chung, an toàn hàng không, an ninh hàng không, trách nhiệm dân sự và các hoạt động khác có liên quan đến hàng không dân dụng.
Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Quy định mới tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 49/2026/NĐ-CP với cơ chế đồng thuận trên 75% được kỳ vọng khơi thông hàng nghìn dự án, sẽ tháo gỡ một trong những vướng mắc lớn nhất trong quá trình triển khai các dự án có sử dụng đất.
Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Ngày 10/12/2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 chính thức thông qua Luật số 132/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026).
Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 thay thế Pháp lệnh Dân số số 06/2004/PL-UBTVQH11 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15). Một trong những thay đổi căn bản của Luật Dân số năm 2025 là chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Những nội dung liên quan đến dân số và phát triển đã được thể hiện trong việc hướng tới giải quyết đồng bộ các vấn đề về quy mô dân số, cơ cấu dân số, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.
Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.

Theo dõi chúng tôi trên: