Thứ tư 23/09/2026 01:19
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về dịch vụ logistics ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu những giải pháp cơ bản góp phần thực hiện có hiệu quả các mục tiêu về nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics ở Việt Nam.


Abstract: The paper focuses on the study of fundamental solutions contributing to the effective implementation of goals on improving competition capability and logistics service development in Vietnam.

Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hoá theo thoả thuận với khách hàng để hưởng thù lao (Điều 233 Luật Thương mại năm 2005).

Là quốc gia có vị trí địa lý vô cùng thuận lợi cho hoạt động logistics, tuy nhiên trong nhiều năm trước đây, Việt Nam thiếu chiến lược rõ ràng nhằm phát triển dịch vụ logistics. Đến năm 2017, với Quyết định số 200/QĐ-TTg ngày 14/02/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt kế hoạch hành động nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics Việt Nam đến năm 2025 (Quyết định số 200/QĐ-TTg) thì những quan điểm phát triển, mục tiêu phát triển và các nhiệm vụ chủ yếu đã được đặt ra mang tầm chiến lược.

Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy để triển khai thực hiện chiến lược của Chính phủ về phát triển dịch vụ logistics là một chặng đường dài nhiều khó khăn và phức tạp. Hoạt động đầu tiên phản ánh nỗ lực của Chính phủ là tổ chức thành công diễn đàn logistics Việt Nam năm 2017 với chủ đề “Nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics Việt Nam” do Bộ Công Thương chủ trì được tổ chức ngày 15/12/2017 tại Hà Nội. Qua đó cho thấy bức tranh toàn cảnh về dịch vụ logistics của Việt Nam. Chi phí logistics ở nước ta còn ở mức cao, tương đương 20% GDP (trong khi các nước phát triển chỉ từ 9-14%) nhưng chỉ đóng góp khoảng 3% vào GDP. Tỷ lệ thuê ngoài khoảng 35 - 40%, số lượng doanh nghiệp logistics của nước ta có khoảng 3.000 doanh nghiệp hoạt động trong ngành dịch vụ logistics nhưng chỉ chiếm thị phần là 25%, trong khi đó chỉ với 30 doanh nghiệp nước ngoài cung cấp dịch vụ logistics xuyên quốc gia đang hoạt động tại Việt Nam nhưng chiếm tới 75% thị phần logistics của Việt Nam [1]…

Như vậy, để đạt được các mục tiêu như Chính phủ đề ra là đến năm 2025, tỷ trọng đóng góp của ngành dịch vụ logistics vào GDP đạt 8%-10%, tốc độ tăng trưởng dịch vụ đạt 15%-20%, tỷ lệ thuê ngoài dịch vụ logistics đạt 50%-60%, chi phí logistics giảm xuống tương đương 16%-20% GDP, xếp hạng theo chỉ số năng lực quốc gia về logistics (LPI) trên thế giới đạt thứ 50 trở lên…[2], thì công việc đặt ra cho các bộ, ngành, địa phương là khá nặng nề. Để phát triển dịch vụ logistics ở Việt Nam và hoàn thành các mục tiêu theo Quyết định số 200/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương cần thực hiện một số nhiệm vụ cơ bản sau:

Thứ nhất, hoàn thiện pháp luật kinh doanh dịch vụ logistics

Các quy định của pháp luật về dịch vụ logistics có phạm vi rất rộng, liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực khác nhau. Ở Việt Nam, chưa có một cơ quan chủ quản chịu trách nhiệm hệ thống hóa, tập hợp hóa văn bản quy phạm pháp luật về dịch vụ logistics, mà mỗi cơ quan, mỗi ngành khác nhau lại có hệ thống tập hợp riêng, triển khai riêng. Do đó, việc nghiên cứu pháp luật dịch vụ logistics một cách đầy đủ và chính xác còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế.

Khó khăn, vướng mắc nữa cũng bắt nguồn từ các quy định của pháp luật là dịch vụ logistics rất rộng, trải dài trên nhiều ngành, nghề khác nhau. Vì vậy, các nhà làm luật đã không thể dự liệu hết được nên còn để lại những khoảng trống pháp lý nhất định. Bên cạnh đó, khi ban hành các quy định về logistics các cơ quan chủ quan, các nhà làm luật đã thiếu sự khảo sát thực tế, thiếu sự nghiên cứu tiếp thu kinh nghiệm nước ngoài và hạn chế trong tổ chức đối thoại, lấy ý kiến,... Do đó, còn có những quy định mang tính hình thức, thiếu tính thực tế và còn có những khoảng trống pháp lý nhất định cần thiết phải được hoàn thiện.

Vì vậy, vấn đề đặt ra là phải khẩn trương hoàn thiện khung pháp lý cho việc nâng cao sức cạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics.

Về hướng hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động logistics: Phải đảm bảo hệ thống pháp luật rõ ràng, minh bạch và không còn xung đột hay khoảng trống pháp lý. Do đó, giải pháp trước mắt Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tư pháp cần phối hợp rà soát các cam kết quốc tế về dịch vụ logistics tại Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và các hiệp định thương mại tự do (FTA),… để kiến nghị Chính phủ xem xét sửa đổi, bổ sung và có các biện pháp đảm bảo tránh xung đột trong cam kết về logistics tại các diễn đàn quốc tế, tránh xung đột giữa cam kết quốc tế về logistics với pháp luật trong nước, giải quyết các mâu thuẫn của pháp luật trong nước với nhau và khỏa lấp khoảng trống pháp lý trong điều chỉnh kinh doanh dịch vụ logistics tại Việt Nam. Theo đó, tập hợp hóa, hệ thống hóa pháp luật điều chỉnh kinh doanh dịch vụ logistics nhằm tạo điều kiện cho các nhà đầu tư tiếp cận nhanh chóng, đầy đủ hệ thống pháp luật về kinh doanh dịch vụ logistics tại Việt Nam.

Về lâu dài, cần xem xét sửa đổi, bổ sung Luật Thương mại năm 2005 theo hướng tách dịch vụ logistics khỏi phạm vi điều chỉnh của Luật Thương mại để xây dựng luật riêng - Luật Kinh doanh dịch vụ logistics. Theo đó, đối tượng và phạm vi điều chỉnh bao hàm tất cả các dịch vụ logistics có liên quan từ đầu tư, kinh doanh cho đến các ngành nghề có liên quan như giao thông vận tải, kho bãi, hải quan,…

Thứ hai, giải pháp về thu hút nguồn lực đầu tư nước ngoài

Để thu hút được nguồn lực đầu tư nước ngoài bao gồm nguồn vốn, nguồn nhân lực chất lượng cao và kinh nghiệm hoạt động logistics của các nhà đầu tư nước ngoài thì Việt Nam cần phải có cơ chế, chính sách thật rõ ràng và minh bạch. Cơ chế, chính sách này cần tập trung vào đầu tư hạ tầng cơ sở. Bởi lẽ, cơ sở hạ tầng là cái quyết định kiến trúc thượng tầng, bảo đảm cho chiến lược về dịch vụ logistics của Việt Nam được thực hiện thắng lợi, thành công.

Quyết định số 200/QĐ-TTg thể hiện rõ quan điểm: “Logistics là một ngành dịch vụ quan trọng trong cơ cấu tổng thể nền kinh tế quốc dân, đóng vai trò hỗ trợ, kết nối và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của cả nước cũng như từng địa phương, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế”. Cùng với quan điểm này là mục tiêu: “Tập trung thu hút đầu tư vào phát triển hạ tầng logistics, xây dựng các trung tâm logistics cấp khu vực và quốc tế, nâng cao hiệu quả kết nối giữa Việt Nam với các nước. Đưa Việt Nam trở thành một đầu mối logistics của khu vực”.

Cụ thể hơn, tại nhiệm vụ số 14 trong các nhiệm vụ cụ thể nâng cao năng lực cạnh trạnh và phát triển dịch vụ logistics Việt Nam đến năm 2025 được ban hành kèm theo Quyết định số 200/QĐ-TTg đã quy định rõ trách nhiệm của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam trong việc hoàn thiện chính sách, đẩy mạnh thu hút đầu tư vào lĩnh vực hạ tầng logistics. Trong đó, việc ban hành chính sách nhằm thu hút vốn đầu tư trong nước và nước ngoài, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ logistics và phát triển kết cấu hạ tầng logistics phải được hoàn thiện vào năm 2019.

Có thể nói, đây là giải pháp cơ bản nhằm thu hút được nguồn lực từ các nhà đầu tư trong nước, các nhà đầu tư nước ngoài nhằm phát triển dịch vụ logistics của Việt Nam. Tuy nhiên, để thu hút hút được đầu tư vào hạ tầng logistics Việt Nam, ngoài chính sách ưu đãi thu hút đầu tư thì việc quy hoạch hạ tầng cụ thể để quảng bá, mời chào các nhà đầu tư tham gia đấu thầu công khai, minh bạch là một giải pháp hữu hiệu để thực hiện hiệu quả chiến lược logistics Việt Nam.

Vì vậy, giải pháp đặt ra cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư là phải quy hoạch và công khai quy hoạch các dự án hạ tầng logistics cần thu hút nguồn vốn đầu tư trong nước cũng như nước ngoài, trong đó xác định những dự án hạ tầng logistics cần phải làm ngay và các dự án hạ tầng logistics trong kế hoạch lâu dài để các nhà đầu tư có thời gian chuẩn bị tham gia đầu thầu, liên minh, liên kết, hợp đồng hợp tác kinh doanh một cách có hiệu quả nhất.

Thứ ba, vấn đề bảo hộ nhà đầu tư, doanh nghiệp trong nước

Bất kỳ nước nào cũng xây dựng những chính sách bảo hộ cho các nhà đầu tư, doanh nghiệp và lao động trong nước. Việt Nam cũng không là ngoại lệ. Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn có chính sách đúng đắn trong mở cửa thị trường logistics cho các nhà đầu tư nước ngoài, nhưng cũng luôn bảo hộ những nhà đầu tư và doanh nghiệp trong nước. Đây luôn là hai mặt của một vấn đề, không dễ dàng để thực hiện khi mà hoạt động logistics của Việt Nam còn khá non trẻ, yếu kém từ vốn, kinh nghiệm cho tới nguồn nhân lực,…

Bên cạnh đó, hiện tại Việt Nam đã và đang phải thực hiện đúng các cam kết quốc tế về mở cửa thị trường logistics thì việc bảo hộ cứng nhắc, mang tính cấm đoán, cho phép hoặc không cho phép kinh doanh dịch vụ logistics không còn phù hợp với thực tiễn. Vì vậy, Việt Nam cần phải có giải pháp căn cơ cho vấn đề này.

Theo đó, giải pháp cho vấn đề chống cạnh tranh không lành mạnh, tránh việc chiếm lĩnh thị trường độc quyền logistic của các nhà đầu tư nước ngoài, bảo hộ thị phần logistics trong nước, thì Việt Nam phải thực hiện đồng bộ và tổng thế các giải pháp bao gồm: Xây dựng, hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong nước, trong đó đặc biệt phải xây dựng được những tập đoàn logistics mạnh và đủ sức cạnh tranh với các tập đoàn trên thế giới; đào tạo nguồn nhân lực; thông tin, truyền thông về logistics;…

Tuy nhiên, cần phải nhấn mạnh giải pháp cơ bản và hữu hiệu nhất là xây dựng những tập đoàn trong nước vững mạnh cả về vốn, mối quan hệ và nguồn nhân lực. Đây là kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới đã trải qua. Những tập đoàn này là hạt nhân để liên kết, kết nối các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics trong nước lại với nhau tạo nên một hệ thống chỉnh thể và thống nhất để thực hiện logistics 3PL (cung cấp dịch vụ logistics bên thứ ba hay logistics theo hợp đồng), 4PL (logistics chuỗi phân phối hay nhà cung cấp logistics chủ đạo) và thậm chí là 5PL (cung cấp dịch vụ logistics bên thứ năm). Việt Nam đang thuận lợi là một số doanh nghiệp có vốn sở hữu của nhà nước có nguồn lực khá tốt để thực hiện được chiến lược này.

Quyết định số 200/QĐ-TTG đã nêu rõ quan điểm của Việt Nam là “tập trung nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics. Phát triển các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics về số lượng, quy mô, trình độ nhân lực, có năng lực cạnh tranh cao ở thị trường trong nước và quốc tế”[3]. Với mục tiêu là “hình thành các doanh nghiệp dịch vụ logistics đầu tàu, có đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế, đồng thời hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp dịch vụ logistics theo phương châm hiện đại, chuyên nghiệp”[4]. Thực hiện tốt quan điểm và mục tiêu này, chính là giải pháp bảo đảm hiệu quả nhất thị trường logistics cho nhà đầu tư, doanh nghiệp trong nước và vươn tầm ra thế giới.

Giải pháp đặt ra cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Công thương, Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam và Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam là phải có cơ chế, chính sách hỗ trợ nhằm xây dựng những tập đoàn mạnh về logistics, tiến tới đầu tư ra nước ngoài và xuất khẩu dịch vụ logistics; Hình thành những doanh nghiệp/tập đoàn lớn về logistics, tạo định hướng và động lực phát triển thị trường logistics.

Thứ tư, về cơ sở hạ tầng logistics

Cơ sở hạ tầng logistics quyết định đến nhiều vấn đề quan trọng trong nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics, trong đó có vấn đề về giảm chi phí dịch vụ logistics,… Vì vậy, Việt Nam cần phải có chiến lược trước mắt cũng như lâu dài về hạ tầng logistics. Theo đó, chiến lược này phải đa dạng hóa các loại hình giao thông, kết nối giao thông từ đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa, đường biển, đường hàng không với các trung tâm logistics, kho vận,… Để thực hiện được chiến lược này, Việt Nam cần có nguồn vốn lớn của các nhà đầu tư, của doanh nghiệp trong và ngoài nước. Do đó, yêu cầu đặt ra là Việt Nam phải quy hoạch và xác định những dự án nào Nhà nước thực hiện, dự án nào dành cho doanh nghiệp trong nước và dự án nào cần phải thu hút đầu tư nước ngoài. Từ đó, có cơ chế khuyến khích, ưu đãi, giới thiệu, mời chào để thu hút các nhà đầu tư thực hiện đầu tư vào hạ tầng logistics.

Giải pháp này đặt ra cho các bộ, ngành, địa phương là phải kiến nghị Chính phủ nghiên cứu thành lập Ban chỉ đạo quốc gia về logistics. Theo đó, Ban chỉ đạo này chỉ đạo/lãnh đạo thống nhất lập quy hoạch hạ tầng logistics Việt Nam trên phạm vi toàn quốc cần phải đầu tư, hoàn thiện. Từ quy hoạch này, những dự án nào cần phải xã hội hóa đầu tư, cũng như thu hút nguồn đầu tư nước ngoài thì tiến hành công bố/niêm yết công khai trên cổng thông tin điện tử của Ban chỉ đạo, của các bộ, ngành, địa phương có liên quan để kêu gọi, mời gọi đầu tư.

Thứ năm, về đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ dịch vụ logistics

Nguồn nhân lực logistics của Việt Nam hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu, thiếu cả số lượng và chất lượng nguồn nhân lực chất lượng cao. Nhân lực ngành logistics thiếu kiến thức toàn diện, trình độ công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) còn hạn chế, chưa theo kịp tiến độ phát triển của logistics thế giới. Trình độ tiếng Anh nghiệp vụ logistics còn hạn chế, chỉ khoảng 4% nhân lực thông thạo tiếng Anh nghiệp vụ. Trong khi đó, nhu cầu sử dụng nhân lực theo dự báo đến năm 2025 là khoảng 300.000 nhân viên chuyên nghiệp, có trình độ chuyên môn, ICT và tiếng Anh đáp ứng yêu cầu trong điều kiện Cách mạng công nghiệp 4.0 trong số khoảng 1,2 triệu người hoạt động trong lĩnh vực logistics[5].

Vì vậy, giải pháp đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ dịch vụ logistics là đặc biệt quan trọng. Trong giải pháp này, việc đào tạo nguồn nhân lực từ trung cấp, cao đẳng, đại học và trên đại học. Bên cạnh đó, đào tạo cần có sự hợp tác quốc tế, liên kết và có sự đặt hàng từ nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp; phải đa dạng các hình thức đào tạo, bồi dưỡng có sự kết hợp giữa Nhà nước và tư nhân, phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn về nhân lực đã được cộng đồng quốc tế thừa nhận.

Vì vậy, Bộ Công thương, Bộ Giáo dục và Đào tạo phải phối hợp xây dựng chiến lược đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ dịch vụ logistics. Trong chiến lược này, giao chỉ tiêu cho các trường đại học, cao đẳng, trung cấp có năng lực thực hiện việc đào tạo nguồn nhân lực; có chính sách khuyến khích các trường hợp tác với các cơ sở đào tạo nhân lực logistics có uy tín trên thế giới để đào tạo nhân lực chất lượng cao cho Việt Nam.

Đinh Duy Bằng

Văn phòng Luật sư Trường Thành

Tài liệu tham khảo:

[1]. Báo Pháp luật Việt Nam, “75% dịch vụ logistics ở Việt Nam do doanh nghiệp ngoại vận hành”, http://baophapluat.vn/thi-truong/75-dich-vu-logistics-o-viet-nam-do-doanh-nghiep-ngoai-van-hanh-371295.html.

[2]. Mục 2 phần II Quyết định số 200/QĐ-TTg.

[3]. Mục 5 phần I Quyết định số 200/QĐ-TTg.

[4]. Mục 3 phần II Quyết định số 200/QĐ-TTg.

[5]. Bộ Công thương, Báo cáo logistics Việt Nam năm 2017: Logistics từ kế hoạch đến hành động, tr. 26-127.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: