Thứ tư 24/06/2026 08:13
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Giải pháp phòng, chống nguy cơ vi phạm dữ liệu

Giải pháp phòng, chống nguy cơ vi phạm dữ liệu

Tóm tắt: Vi phạm dữ liệu là hành vi vi phạm pháp luật, đồng thời còn là mối nguy hại gây ra những tổn thất liên quan tới an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, nguy cơ mất an ninh mạng, danh tiếng của công ty, quyền riêng tư của người dùng. Do đó, việc bảo vệ dữ liệu là một trong những yêu cầu đặc biệt quan trọng trong thời kỳ chuyển đổi số. Bài viết tập trung phân tích các nguyên nhân của hành vi vi phạm dữ liệu, từ đó, đề xuất các giải pháp hữu hiệu nhằm bảo vệ dữ liệu cho nhiều đối tượng khác nhau.

Abstract: Data breaching is a violation of law that causes serious dangers related to national security, social order and safety, the risk of network insecurity, the reputation of the company, user privacy… Therefore, data protection is one of the important requirements especially in the era of digital transformation. The article focuses on analyzing the causes of data breaches, thereby proposing effective solutions to protect data for many different audiences.

1. Thực trạng vi phạm dữ liệu tại Việt Nam và trên thế giới

Hiện nay, tại Việt Nam và trên thế giới xuất hiện ngày càng nhiều chủ thể thu thập, phân tích, xử lý dữ liệu cá nhân cho mục đích khác nhau nhưng không thông báo cho khách hàng hoặc để xảy ra các hành vi vi phạm pháp luật. Thách thức trước những dịch vụ mới, sử dụng thông tin cá nhân trên không gian mạng như: Thanh toán trực tuyến, thương mại điện tử, trò chơi trực tuyến, kinh doanh tiền ảo, kinh doanh đa cấp qua mạng... đã đặt ra nhiều vấn đề liên quan tới an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, gây nguy cơ mất an ninh mạng. Theo đó, các thông tin, dữ liệu riêng tư của cá nhân, cơ quan, tổ chức, thậm chí là của quốc gia có thể bị lộ lọt, bị khai thác và sử dụng trái phép bởi các đối tượng khác.

Gần đây, cả thế giới chấn động bởi hàng loạt vụ rò rỉ dữ liệu quy mô toàn cầu được công bố. Có tới vài chục triệu tài khoản, thông tin người dùng và các dữ liệu thanh toán quan trọng khác trên các nền tảng công nghệ bị tin tặc đánh cắp. Vụ hồ sơ Panama được đánh giá là bị rò rỉ hồ sơ mật lớn nhất lịch sử khi nhân vật “John Doe” tiết lộ 11,5 triệu văn bản (tương đương 2,6 terabyte dữ liệu) kéo dài từ năm 1977 - 2015 của Công ty Luật Mossack Fonseca; tháng 11/2018, lỗ hổng trên Google+ đã khiến thông tin của 52,5 triệu thành viên bị lộ. Sự cố này khiến Công ty công nghệ Google của Mỹ quyết định “khai tử” Google+ vào tháng 4/2019; tháng 9/2018, Facebook phát hiện lỗ hổng cho phép tin tặc truy cập vào tài khoản người dùng bằng cách thu thập mã thông báo bảo mật (token) của họ làm ảnh hưởng đến khoảng 50 triệu người dùng và sau đó, Facebook cũng buộc 90 triệu tài khoản đăng xuất và đặt lại các mật mã truy cập; một vụ vi phạm dữ liệu nổi tiếng khác đã xảy ra với hãng hàng không British Airways (Anh) trong cùng năm 2018, hacker đã tấn công vào cơ sở dữ liệu khách hàng và lấy được thông tin cá nhân và tài chính của hơn 380.000 khách hàng trong khoảng thời gian 02 tuần. Dữ liệu bị xâm phạm bao gồm tên, địa chỉ, ID email, chi tiết thẻ tín dụng bao gồm thời gian hết hạn và một số mã bảo mật[1].

Ở Việt Nam, mặc dù chưa có một con số thống kê cụ thể về tổn thất do vi phạm dữ liệu trong các doanh nghiệp, nhưng một số vụ tấn công công nghệ cao liên quan đến dữ liệu người dùng cũng được ghi nhận gây chấn động dư luận thời gian qua: Ngày 26/12/2017, Trung tâm Ứng cứu khẩn cấp không gian mạng Việt Nam (VNCERT) đã có Văn bản khẩn cấp số 442/VNCERT-DPUWC về việc lộ 1,4 tỷ tài khoản và mật khẩu từ các trang mạng xã hội, dịch vụ trực tuyến (dữ liệu bị lộ lọt lên đến 41GB). Trong đó, có 437.644 tài khoản email (930 tài khoản email của các cơ quan nhà nước); vụ Công ty VNG để lộ hơn 163 triệu tài khoản khách hàng; Công ty Thế giới di động và Điện máy xanh để lộ hơn 05 triệu email và hàng chục nghìn thông tin thẻ thanh toán như visa, thẻ tín dụng của khách hàng; tình trạng để lộ thông tin khách hàng để các công ty môi giới dịch vụ taxi của Việt Nam sử dụng để mời chào khách hàng qua tin nhắn SMS[2],[3]...

2. Một số nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng dữ liệu bị vi phạm

Vi phạm dữ liệu diễn ra thường xuất phát từ hai nguyên nhân chính liên quan đến nội bộ cơ quan, doanh nghiệp và do chủ đích tấn công, khai thác các lỗ hổng của hệ thống từ bên ngoài.

2.1. Nguyên nhân xuất phát từ nội bộ

Trong nhiều doanh nghiệp/tổ chức, dữ liệu nhạy cảm có thể được lưu trữ và nằm rải rác ở nhiều bộ phận và nhiều cán bộ, nhân viên có thể tiếp cận các dữ liệu nhạy cảm, từ đó, do vô tình hay cố ý mà thông tin có thể bị rò rỉ, phát tán qua nhiều con đường như: Việc soạn thảo văn bản có nội dung bí mật trên các máy tính có kết nối internet; sao chép dữ liệu có nội dung bí mật vào các USB không bảo mật, ghi CD, in ấn, chụp màn hình; gửi nội dung hoặc tải tài liệu chứa dữ liệu nhạy cảm ra ngoài qua truy cập web, trên các trang web cá nhân, trang mạng xã hội, blog, lưu trữ trực tuyến, hộp thư cá nhân như Yahoo, Gmail…; nhân viên sử dụng hộp thư của tổ chức, hay qua mạng nội bộ để gửi các dữ liệu nhạy cảm trái phép cho nhau giữa các phòng, ban; tải các tài liệu có nội dung bí mật lên các trang web rao bán tài liệu; nhân viên có thể cố tình rò rỉ dữ liệu cho những người không được ủy quyền bên ngoài tổ chức nhằm trục lợi…

Những hành động vô ý của nhân viên có thể xuất phát từ sự sai sót, chưa nắm được quy trình bảo mật dẫn đến những lỗ hổng trên hệ thống nội bộ hoặc dữ liệu quan trọng của cơ quan, doanh nghiệp và dữ liệu cá nhân được truyền ra ngoài tạo sơ hở cho các đối tượng khác có thể truy cập, đánh cắp. Bên cạnh đó, các hành động chủ ý của nhân viên xuất phát từ các mục đích tư lợi cá nhân xảy ra ở một số cơ quan, doanh nghiệp cũng cần được kiểm soát chặt chẽ trong quy chế làm việc cũng như hệ thống quản lý thông tin của cơ quan, doanh nghiệp đó.

2.2. Nguyên nhân từ các hình thức tấn công bên ngoài

Bên cạnh những nguyên nhân từ nội bộ cơ quan, doanh nghiệp thì các mối nguy cơ rình rập từ các cuộc tấn công có chủ đích từ bên ngoài cũng diễn ra phổ biến với mức độ nghiêm trọng khác nhau:

- Tấn công mạng là hình thức vi phạm dữ liệu phổ biến hiện nay. Hacker sẽ tấn công mạng máy tính hoặc máy chủ của tổ chức để đánh cắp thông tin, thậm chí thay đổi hoặc xóa dữ liệu gây thiệt hại đáng kể. Kỹ thuật tấn công mạng phổ biến nhất là sử dụng phần mềm độc hại lây nhiễm vào hệ thống, từ đó lây lan, đánh cắp thông tin, dữ liệu trên hệ thống rồi truyền ra bên ngoài.

- Tấn công lừa đảo (Social Engineering) là kỹ thuật tác động đến con người, nhằm mục đích lấy được thông tin hoặc đạt được một mục đích mong muốn trên nền tảng là điểm yếu tâm lý, nhận thức sai lầm của con người về việc bảo mật thông tin, sử dụng sự ảnh hưởng và thuyết phục để đánh lừa người dùng nhằm khai thác các thông tin có lợi cho cuộc tấn công, hoặc thuyết phục nạn nhân thực hiện một hành động nào đó. Với phương thức này, tin tặc chú trọng vào việc tiến hành khai thác các thói quen tự nhiên của người dùng hơn là việc khai thác các lỗ hổng bảo mật của hệ thống. Người dùng không được trang bị đầy đủ về kiến thức bảo mật sẽ là cơ sở để tin tặc thực hiện tấn công.

- Tấn công mã độc (Ransomware) là một trong những mối đe dọa an ninh mạng phát triển nhanh nhất trên toàn cầu. Loại phần mềm độc hại này sẽ mã hóa tất cả các tệp trong hệ thống và nếu không có khóa giải mã, nạn nhân có thể sẽ mất tất cả dữ liệu.

3. Một số giải pháp phòng, chống vi phạm dữ liệu

Bảo vệ dữ liệu là vấn đề sống còn của mỗi cơ quan, doanh nghiệp trong thời đại chuyển đổi số hiện nay. Để giảm thiểu nguy cơ mất an toàn thông tin, loại bỏ cơ bản nguyên nhân rò rỉ dữ liệu trong các hệ thống thông tin quan trọng, cần thực hiện các giải pháp đồng bộ, hội tụ 04 yếu tố là: Con người, quy trình - chính sách, công nghệ và tài chính[4],[5].

Một là, về yếu tố con người: (i) Đối với người dùng trong hệ thống, cần tuyên truyền, nâng cao nhận thức về vấn đề bảo đảm an toàn thông tin; nâng cao kỹ năng, tuân thủ quy trình sử dụng các thiết bị công nghệ thông tin trong hệ thống, nhận biết các nguy cơ, hình thức tấn công mạng. (ii) Đối với cán bộ chuyên trách về an toàn thông tin, cần xây dựng đội ngũ có đủ trình độ để thực hiện nhiệm vụ của đơn vị chuyên trách về an toàn thông tin; tổ chức và tham gia ứng cứu các sự cố về mạng và an toàn thông tin mạng. (iii) Đối với cán bộ quản lý, chủ quản hệ thống thông tin, cần được đào tạo, nâng cao trình độ quản lý các hệ thống thông tin.

Hai là, về xây dựng quy trình - chính sách an ninh mạng và an toàn thông tin: Các cơ quan, doanh nghiệp cần theo dõi và cập nhật các chính sách bảo mật về an ninh mạng để có thể đối phó với các phương thức tấn công mới bao gồm các khâu: (i) Quản lý vận hành, bảo đảm an toàn thông tin cho hệ thống thông tin; (ii) Kiểm tra đánh giá và quản lý rủi ro an toàn thông tin; (iii) Xác định cấp độ an toàn thông tin đối với thông tin, hệ thống thông tin; (iv) Kiểm tra an toàn thông tin thiết bị trước khi đưa vào sử dụng trong các hệ thống thông tin; (v) Quy trình kiểm tra lỗ hổng, điểm yếu an toàn thông tin trên các hệ điều hành, phần mềm ứng dụng; (vi) Phản ứng và xử lý sự cố an toàn thông tin mạng, giám sát và kiểm soát truy cập; (vii) Sao lưu dữ liệu, chia sẻ dữ liệu trên mạng; (viii) Cập nhật mẫu virus mới trong hệ thống mạng nội bộ không kết nối internet; (ix) Kiểm tra và bảo đảm hoạt động liên tục của hệ thống; (x) Gửi, nhận thông tin trên mạng, quản lý người sử dụng, quản trị hệ thống giám sát an toàn thông tin.

Ba là, về sử dụng các giải pháp công nghệ: Cần xây dựng và đầu tư giải pháp theo hướng phân chia thành vùng, an toàn nhiều lớp. Căn cứ theo đặc điểm của từng hệ thống thông tin cụ thể, có thể lựa chọn một số giải pháp công nghệ như: (i) Hệ thống kiểm soát truy cập (NAC - tường lửa giám sát luồng dữ liệu, ngăn chặn kết nối bất hợp pháp); (ii) Hệ thống chống virus (antivirus)/phần mềm độc hại (malware); (iii) Giải pháp công nghệ phát hiện và phòng chống thất thoát dữ liệu (Data Loss Prevention - DLP); (iv) Hệ thống giám sát và bảo vệ người dùng truy cập internet (Web Security Gateway). Các giải pháp này có khả năng giám sát truy cập và hoạt động sử dụng dữ liệu, giám sát chặt chẽ các lượt truy cập trên toàn bộ hệ thống thông tin, tự động phát hiện, định vị và theo dõi các hoạt động trên toàn bộ cơ sở hạ tầng giúp cung cấp một bức tranh toàn cảnh về hệ thống theo thời gian thực.

Thông thường, tin tặc sẽ tiến hành thăm dò mạng lưới trong vòng 06 tháng trước khi thực sự xâm phạm hệ thống. Do đó, hệ thống giám sát cần phải có khả năng phát hiện hành vi bất thường, dự báo hành vi xâm phạm, hoạt động trái phép, cung cấp khả năng bảo vệ tốt hơn thông qua nhiều lớp giám sát và cảnh báo, ngăn chặn từ xa những người dùng có hoạt động khả nghi.

Việc mã hóa các thông tin cá nhân, dữ liệu bí mật hoặc thông tin nhạy cảm là giải pháp tối ưu nhằm bảo vệ dữ liệu khỏi sự truy cập trái phép của những người không được cấp quyền đặc biệt khi dữ liệu bị đánh cắp sẽ không thể đọc được và trở nên vô dụng. Sử dụng mã hóa tại các điểm khác nhau trên hệ thống bao gồm dữ liệu tĩnh và dữ liệu động - có thể cung cấp khả năng bảo vệ đáng kể, chống lại được cả các cuộc tấn công tiên tiến nhất. Các doanh nghiệp nên thực hiện hệ thống phòng thủ nhiều lớp bằng việc mã hóa, chủ động theo dõi và quản lý các mạng lưới.

Bốn là, về nguồn ngân sách cho việc bảo vệ an toàn thông tin: Trong quá trình xây dựng dự án ứng dụng công nghệ thông tin, mức kinh phí khuyến nghị tối thiểu khoảng 10% để đầu tư cho công tác bảo đảm an toàn thông tin mạng.

Việt Nam là một trong những quốc gia có tốc độ phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin cao trên thế giới. Cơ sở hạ tầng số phát triển nhanh và cơ sở hạ tầng dữ liệu đang được cải thiện nhằm hướng tới Chính phủ số, nền kinh tế số và đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Tuy nhiên, mức độ ứng dụng công nghệ càng nhiều thì việc cung cấp, sử dụng thông tin cá nhân lại càng lớn, cùng với đó đồng thời nguy cơ làm mất, lộ lọt, thậm chí mua bán, chiếm đoạt thông tin cá nhân, thông tin cơ quan, doanh nghiệp cũng cao. Do đó, vấn đề bảo mật thông tin dữ liệu là bài toán có vai trò quan trọng trong các hoạt động và xu hướng phát triển của mỗi cơ quan, doanh nghiệp cũng như có ý nghĩa với bản thân mỗi người dùng. Theo đó, các giải pháp cần được triển khai đồng bộ nhằm mang lại hiệu quả trong công tác bảo vệ an toàn thông tin nói chung và phòng, chống vấn nạn vi phạm dữ liệu nói riêng.

Nguyễn Quốc Vương & Hoàng Tùng
Học viện Cảnh sát nhân dân


[1]. Vi phạm dữ liệu - Nguy cơ luôn “rình rập”, Bản tin an toàn không gian mạng, Bảo vệ chủ quyền số quốc gia, Cục An toàn thông tin, 2021.

[2]. Lan Phương - Nhận định nguy cơ rò rỉ dữ liệu ở Việt Nam và biện pháp, Tạp chí điện tử Thông tin và Truyền thông, 2019, nguồn: https://ictvietnam.vn/nhan-dinh-nguy-co-ro-ri-du-lieu-o-viet-nam-va-bien-phap-809.htm

[3]. Lan Phương - An ninh mạng trong thời kỳ mới, Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ, tháng 10/2020.

[4]. Lan Phương - Nhận định nguy cơ rò rỉ dữ liệu ở Việt Nam và biện pháp, Tạp chí điện tử Thông tin và Truyền thông, 2019, nguồn: https://ictvietnam.vn/nhan-dinh-nguy-co-ro-ri-du-lieu-o-viet-nam-va-bien-phap-809.htm

[5]. Sổ tay an toàn thông tin dành cho cán bộ công nhân viên, Tổng công ty Điện lực Việt Nam (EVN), 2020.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 130/2025/QH15 (Luật năm 2025) được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 (ngày 10/12/2025), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 gồm 11 Chương và 107 Điều quy định về hoạt động hàng không dân dụng, bao gồm các quy định về tàu bay, cảng hàng không, nhân viên hàng không, hoạt động bay, vận tải hàng không thương mại, hàng không chuyên dùng, hàng không chung, an toàn hàng không, an ninh hàng không, trách nhiệm dân sự và các hoạt động khác có liên quan đến hàng không dân dụng.
Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Quy định mới tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 49/2026/NĐ-CP với cơ chế đồng thuận trên 75% được kỳ vọng khơi thông hàng nghìn dự án, sẽ tháo gỡ một trong những vướng mắc lớn nhất trong quá trình triển khai các dự án có sử dụng đất.
Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Ngày 10/12/2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 chính thức thông qua Luật số 132/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026).
Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 thay thế Pháp lệnh Dân số số 06/2004/PL-UBTVQH11 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15). Một trong những thay đổi căn bản của Luật Dân số năm 2025 là chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Những nội dung liên quan đến dân số và phát triển đã được thể hiện trong việc hướng tới giải quyết đồng bộ các vấn đề về quy mô dân số, cơ cấu dân số, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.
Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.

Theo dõi chúng tôi trên: