Thứ sáu 11/09/2026 06:12
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Giám sát thi hành án dân sự - Một số vấn đề từ thực tiễn

Tóm tắt: Bài viết này phân tích một số vấn đề liên quan đến công tác giám sát thi hành án dân sự, từ đó đưa ra những đề xuất nhằm góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác này.

Tóm tắt: Bài viết này phân tích một số vấn đề liên quan đến công tác giám sát thi hành án dân sự, từ đó đưa ra những đề xuất nhằm góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác này.

Abstract: The paper analyzes some issues relating to the supervision of civil judgment execution, from that, puts forth recommendations for improving effect of this work.

Theo Từ điển tiếng Việt, thuật ngữ “giám sát” được hiểu là theo dõi, kiểm tra thực thi nhiệm vụ[1]. Về khái niệm giám sát, có thể hiểu “giám sát là việc chủ thể giám sát theo dõi, quan sát hành động mang tính chủ động, thường xuyên, liên tục và sẵn sàng tác động để buộc và hướng hoạt động của đối tượng chịu sự giám sát đi vào đúng trật tự đã định nhằm đạt được mục đích đã đề ra”[2]. Từ đó có thể thấy, giám sát thi hành án dân sự (THADS) là quá trình theo dõi, quan sát thường xuyên, liên tục của các chủ thể giám sát đối với hoạt động THADS của đối tượng giám sát, nhằm tổ chức thi hành có hiệu quả các bản án, quyết định có hiệu lực thi hành của Tòa án, trọng tài thương mại, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh và các quyết định giải quyết tranh chấp khác[3]. Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 thì “giám sát” là việc chủ thể giám sát theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý. Trong THADS, hoạt động giám sát có ý nghĩa rất quan trọng. Giám sát THADS là yếu tố quan trọng nhằm hạn chế sự lạm quyền từ phía các cơ quan thực thi pháp luật; giúp phát hiện những khiếm khuyết trong quản lý; góp phần nâng cao tính trách nhiệm, đảm bảo sự khách quan, trung thực trong hoạt động THADS; góp phần củng cố tổ chức, tăng cường hiệu quả hoạt động THADS; bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của các bên đương sự và của Nhà nước. Vấn đề giám sát THADS được quy định tại Điều 12 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 (Luật Thi hành án dân sự) và quy định trong các điều luật cụ thể liên quan đến các chủ thể giám sát trong THADS[4]. Điều 12 Luật Thi hành án dân sự quy định: “Quốc hội, Hội đồng nhân dân và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giám sát hoạt động của cơ quan THADS và các cơ quan nhà nước khác trong THADS theo quy định của pháp luật”. Theo đó, các chủ thể thực hiện giám sát hoạt động của cơ quan THADS và các cơ quan nhà nước khác trong THADS là Quốc hội, Hội đồng nhân dân và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Trong thực tiễn, công tác giám sát THADS hiện nay vẫn còn một số hạn chế, cụ thể như sau:

Một là, chủ thể giám sát tiến hành giám sát THADS chưa thường xuyên, đồng đều

Theo số liệu thống kê của Tổng cục THADS[5], trong 03 năm, từ năm 2016 đến năm 2018, toàn hệ thống THADS đã có tổng số 629 cuộc giám sát, trong đó, số cuộc giám sát của Quốc hội là 10 cuộc, Hội đồng nhân dân là 493 cuộc, Mặt trận Tổ quốc là 46 cuộc, các cơ quan khác là 80 cuộc; số cuộc giám sát có kết luận là 488 cuộc, chưa có kết luận là 128 cuộc; trong đó, kết luận đúng và thực hiện là 407 cuộc, kết luận đúng một phần là 57 cuộc, giải trình là 26 cuộc. Riêng trong năm 2018, tổng số cuộc giám sát THADS là 229 cuộc, trong đó, số cuộc giám sát của Quốc hội là 07 cuộc, Hội đồng nhân dân là 179 cuộc, Mặt trận Tổ quốc là 15 cuộc, các cơ quan khác là 28 cuộc; số cuộc giám sát có kết luận là 180 cuộc, chưa có kết luận là 45 cuộc; trong đó, kết luận đúng và thực hiện là 144 cuộc, kết luận đúng một phần là 20 cuộc, giải trình là 09 cuộc. Phân tích số liệu này có thể thấy, số lượng các cuộc giám sát THADS còn chưa nhiều, chưa tương xứng so với số lượng các cơ quan THADS trong cả nước. Kết quả giám sát cũng cho thấy, hoạt động của một số chủ thể giám sát chưa được thường xuyên, nhất là giám sát của Quốc hội, giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể xã hội đối với THADS.

Hai là, giám sát THADS chưa bao trùm lên tất cả các đối tượng giám sát

Về lý luận cũng như thực tiễn, có rất nhiều đối tượng giám sát THADS. Dựa trên tính chất của hoạt động THADS, hoạt động giám sát THADS có thể xác định các đối tượng giám sát THADS cơ bản bao gồm: Cơ quan THADS; thủ trưởng và chấp hành viên cơ quan THADS; các cơ quan tiến hành tố tụng và các đối tượng khác (ví dụ: Các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội… có liên quan đến hoạt động THADS)[6]. Ở mức độ nào đó, hoạt động của mỗi đối tượng này đều có tác động đến THADS. Tuy nhiên, thời gian vừa qua, các chủ thể giám sát THADS chỉ tập trung vào giám sát hoạt động của cơ quan THADS mà chưa chú trọng giám sát đối với hoạt động của tất cả các đối tượng giám sát THADS. Các cuộc giám sát còn chưa thực sự đi vào chiều sâu và phát huy hết hiệu quả của hoạt động giám sát THADS… Những hạn chế này bắt nguồn từ cả nguyên nhân chủ quan lẫn khách quan:

- Về khách quan, hệ thống pháp luật THADS và các quy định về giám sát THADS còn nhiều bất cập, chưa hoàn thiện; các quy định liên quan đến hoạt động giám sát THADS vẫn còn tản mạn ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau; nhiều quy định còn nằm trong các văn bản pháp luật quy định về quyền hạn, chức năng, nhiệm vụ của các chủ thể giám sát THADS, mà chưa được hệ thống hóa thành một chế định riêng trong Luật Thi hành án dân sự và được hướng dẫn cụ thể trong các văn bản hướng dẫn thi hành. Trình tự, thủ tục giám sát THADS vẫn chưa được quy định cụ thể, nên các chủ thể giám sát THADS gặp nhiều khó khăn trong giám sát THADS.

- Về chủ quan, nhận thức của các cơ quan có thẩm quyền và toàn xã hội về tầm quan trọng của giám sát THADS vẫn còn hạn chế; còn có ý kiến cho rằng giám sát THADS chỉ là công việc riêng của các cơ quan có thẩm quyền giám sát. Đặc biệt, sự giám sát của nhân dân còn rất ít. Năng lực của một số chủ thể giám sát THADS còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra. Thực tế cho thấy có một số chủ thể giám sát THADS chưa có hiểu biết sâu về THADS nên gặp lúng túng khi tiến hành giám sát THADS...

Nâng cao chất lượng giám sát THADS có ý nghĩa rất quan trọng không chỉ đối với hoạt động THADS nói riêng mà còn có ý nghĩa rất thiết thực đối với công cuộc cải cách tư pháp của nước ta hiện nay. Để nâng cao chất lượng giám sát THADS, tác giả đề xuất một số giải pháp như sau:

Thứ nhất, về thể chế, trong thời gian tới, các cơ quan có thẩm quyền cần xây dựng và sửa đổi, bổ sung kịp thời các văn bản pháp luật về THADS, bổ sung các quy định về giám sát THADS làm cơ sở và hành lang pháp lý cho giám sát THADS; đồng thời đảm bảo sự đồng bộ các quy định pháp luật khác về dân sự, kinh tế, lao động… với pháp luật THADS để hạn chế các vướng mắc phát sinh trong quá trình áp dụng pháp luật.

Nếu như pháp luật về THADS là thước đo, là chuẩn mực để các chủ thể giám sát THADS dựa vào đó đánh giá tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của thủ trưởng, chấp hành viên, cán bộ, công chức THADS nói riêng và các đối tượng giám sát THADS nói chung, thì các quy định về giám sát, giám sát THADS là công cụ, phương tiện để các chủ thể giám sát tiến hành các hoạt động giám sát. Mặc dù Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 đã quy định về hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân, tuy nhiên, đối với các chủ thể giám sát khác thì hầu hết các quy định về giám sát được quy định rải rác trong các văn bản pháp luật có quy định về tổ chức và hoạt động của các chủ thể giám sát như: Hiến pháp, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam... Cho đến nay, chưa một văn bản pháp luật nào có quy định một cách toàn diện, đầy đủ về giám sát THADS, mà chủ yếu việc giám sát được tiến hành trên cơ sở các văn bản quy định về tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các chủ thể giám sát THADS. Do đó, việc hoàn thiện các quy định pháp luật về giám sát THADS là rất cần thiết.

Thứ hai, cần đẩy mạnh việc công khai, minh bạch hóa trình tự, thủ tục THADS. Trong quá trình giám sát THADS, các chủ thể giám sát sẽ kiểm tra, theo dõi và đôn đốc, tác động, điều chỉnh các hành vi, quyết định có vi phạm pháp luật của các đối tượng giám sát THADS. Do đó, các chủ thể giám sát THADS cần phải được biết về các hoạt động của đối tượng giám sát trong THADS, mà trọng tâm là hoạt động của thủ trưởng và chấp hành viên cơ quan THADS. Ngoài việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về THADS, giám sát THADS thì đòi hỏi phải công khai hóa, minh bạch hóa các hoạt động của các đối tượng giám sát THADS. Việc công khai hóa, minh bạch hóa các vấn đề này còn giúp cho đương sự và những người có liên quan dễ dàng thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình. Đồng thời, nó còn có tác dụng phòng ngừa, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật của thủ trưởng, chấp hành viên, các cán bộ, công chức làm công tác THADS và những người có liên quan đến THADS. Tuy nhiên, việc công khai hóa, minh bạch hóa những hoạt động nào, của đối tượng giám sát THADS nào thì lại phải được tính toán một cách kỹ lưỡng và cần căn cứ vào hoạt động của đối tượng giám sát và mức độ ảnh hưởng của các hoạt động đó đến việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của người được thi hành án, người phải thi hành án và những người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến THADS. Việc minh bạch hóa các hoạt động THADS cũng nên gắn với việc phát huy ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động THADS[7].

Thứ ba, cần tiến hành một cách thường xuyên, liên tục các hoạt động giám sát THADS. Việc giám sát thi hành án không chỉ dừng lại ở việc kiểm tra tính hợp pháp đối với các hành vi của các đối tượng giám sát THADS, mà thông qua hoạt động giám sát, các chủ thể giám sát thi hành án còn kiến nghị, yêu cầu những đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật phải khôi phục lại tình trạng ban đầu, khắc phục thiệt hại nếu có và điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với các quy định của pháp luật. Đồng thời, trong quá trình giám sát, các chủ thể giám sát phát hiện những nguyên nhân dẫn đến vi phạm pháp luật trong thi hành án, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm và kiến nghị các đối tượng giám sát THADS thực hiện. Trong trường hợp phát hiện có vi phạm pháp luật trong THADS, thì chủ thể đã tiến hành hoạt động giám sát còn có trách nhiệm theo dõi, kiểm tra việc thực hiện kết quả giám sát, theo dõi việc khắc phục các hành vi vi phạm pháp luật của đối tượng giám sát.

Thứ tư, cần nâng cao chất lượng của chủ thể giám sát. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến 2020 đã nêu rõ: “Tăng cường và nâng cao hiệu lực giám sát việc chấp hành pháp luật của các cơ quan tư pháp, đặc biệt là của lãnh đạo các cơ quan tư pháp. Thành lập Ủy ban Tư pháp của Quốc hội để giúp Quốc hội thực hiện nhiệm vụ giám sát hoạt động tư pháp”. Do đó, việc nâng cao chất lượng của chủ thể giám sát THADS cần được quan tâm nhiều hơn nữa. Cụ thể như: Nâng cao chất lượng cơ quan chuyên trách của Quốc hội và Hội đồng nhân dân để thực hiện giám sát hoạt động tư pháp; công tác giám sát THADS của Ban Pháp chế Hội đồng nhân dân cần được tăng cường cả về số lượng và chất lượng; đưa công tác giám sát THADS trở thành một hoạt động thường xuyên và tiến hành định kỳ theo một thời gian nhất định.

Thứ năm, phát huy nhiều hơn nữa vai trò của các chủ thể khác có liên quan đến hoạt động THADS. Các chủ thể khác có liên quan đến hoạt động THADS có vai trò rất quan trọng và có thể có những tác động rất tích cực trong hoạt động giám sát THADS. Do đó, cần có cơ chế mở rộng hơn sự tham gia của các chủ thể này trong quá trình giám sát. Cụ thể:

- Khuyến khích luật sư được tham gia bảo vệ quyền lợi của người được thi hành án, người phải thi hành án và người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến thi hành án: Để giúp người dân bảo vệ quyền lợi của mình và giám sát chặt chẽ các hoạt động THADS, cần thiết phải có các quy định của pháp luật chính thức ghi nhận sự tham gia của luật sư trong quá trình tổ chức THADS[8].

- Quy định và tăng cường vai trò giám sát của Tòa án nhân dân trong THADS: Thông qua giám sát hoạt động THADS, Tòa án sẽ kịp thời phát hiện những sai sót, hạn chế trong công tác xét xử để kịp thời điều chỉnh cho phù hợp nhằm nâng cao chất lượng xét xử, ban hành những bản án, quyết định đảm bảo chính xác, khách quan, khả thi nhằm thuyết phục người phải thi hành án tự nguyện thi hành án và thu hút sự đồng thuận vào cuộc của các cơ quan, tổ chức, cá nhân và toàn xã hội vào việc THADS.

- Xây dựng cơ chế thu hút sự giám sát của nhân dân đối với THADS. Theo quy định của Luật Thi hành án dân sự, việc khiếu nại, giải quyết khiếu nại về THADS được thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án dân sự, còn tố cáo và giải quyết tố cáo THADS lại được thực hiện trên cơ sở các quy định của Luật Tố cáo. Do đó, việc giám sát của người dân đối với hoạt động THADS còn gặp nhiều khó khăn do phải tuân thủ nhiều văn bản pháp luật khác nhau. Do đó, cần phải xây dựng cơ chế thuận tiện, tạo mọi điều kiện để người dân tham gia giám sát hoạt động THADS, trong đó quy định rõ trách nhiệm, quyền lợi và thiết chế bảo vệ người dân trong giám sát THADS.

Thứ sáu, xây dựng cơ chế nâng cao trách nhiệm của các chủ thể giám sát. Tăng cường hoạt động giám sát THADS cũng cần có các biện pháp xử lý nghiêm những trường hợp lợi dụng quyền giám sát gây ảnh hưởng xấu tới quá trình THADS nhằm nâng cao trách nhiệm của các chủ thể giám sát THADS.

TS. Hoàng Thế Anh

Tổng cục Thi hành án dân sự, Bộ Tư pháp

ThS. Hoàng Thị Thanh Hoa

Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Xuyên, TP. Hà Nội







[1]. Đại từ điển tiếng Việt năm 1999, Nxb. Văn hóa Thông tin.

[2]. Tổng cục THADS, Bộ Tư pháp (2010), Cơ chế kiểm tra và giám sát từ bên ngoài đối với hoạt động THADS, Báo cáo phúc trình Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở, Hà Nội, tr. 54.

[3]. Hoàng Thế Anh, Luận án Tiến sỹ luật học “Giám sát THADS”, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội (2015), tr. 7.

[4]. Các điều luật tại Chương VIII Luật Thi hành án dân sự về nhiệm vụ của các cơ quan, tổ chức trong THADS.

[5]. Tổng cục THADS, Số liệu thống kê tổng hợp 03 năm; http://thads.moj.gov.vn/noidung/thongbao/Lists/ BaoCaoThongKeTongCuc/View_Detail.aspx?ItemID=139, ngày đăng: 10/10/2018.

[6]. Xem thêm: TS. Hoàng Thế Anh, Luận án Tiến sỹ luật học “Giám sát THADS”, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2015, tr. 17.

[7]. Xem thêm: TS. Hoàng Thế Anh & ThS. Hoàng Thanh Hoa, Nâng cao khả năng ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động THADS; http://thads.moj.gov.vn/noidung/tintuc/Lists/ThongTinChung/View_Detail.aspx? ItemID=1202, ngày đăng: 31/10/2018, ngày truy cập: 04/5/2019.

[8]. Xem thêm: ThS. Nguyễn Văn Nghĩa & ThS. Hoàng Thị Thanh Hoa, Bàn về vai trò của luật sư trong THADS; http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/dien-dan-cong-tac-tu-phap.aspx?ItemID=199, truy cập ngày 03/7/2019.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Trong bước chuyển mình của đất nước bước vào kỷ nguyên mới, văn hóa đang được đặt ở vị trí ngày càng quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia. Cùng với đó, con người được xác định là trung tâm của sự nghiệp phát triển văn hóa khi vừa là chủ thể sáng tạo, gìn giữ, vừa là lực lượng trực tiếp biến những giá trị ấy thành nguồn lực phát triển cho đất nước.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.

Theo dõi chúng tôi trên: