Thứ năm 16/04/2026 01:26
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hình phạt tử hình trong Luật Hình sự Việt Nam - Một số kiến nghị hoàn thiện

Trong Bộ luật Hình sự này, điều kiện, phạm vi, đối tượng áp dụng hình phạt tử hình được quy định rõ tại Điều 27. Tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ được áp dụng đối với người phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng. Không áp dụng hình phạt này với người chưa thành niên phạm tội, đối với phụ nữ có thai khi phạm tội hoặc khi bị xét xử.

1. Nhận thức chung về hình phạt tử hình

Tử hình là một loại hình phạt truyền thống, có từ lâu đời. Thuật ngữ hình phạt tử hình có tên tiếng Anh là “death penalty” hay là “capital punishment”. Capital có nguồn gốc từ tiếng Latin là capitalis, trong đó có gốc của từ kaput, có nghĩa là đầu. “Capital punishment” có nghĩa là hình phạt mà khi áp dụng, người bị áp dụng sẽ bị mất đầu, tức là tước bỏ quyền sống của một người. Trong tiếng Pháp hình phạt này có tên “peine de mort” hay còn gọi là “peine capitale”; trong tiếng Đức nó có tên gọi là “todesstrafe”. Trong Luật Hình sự Việt Nam, tử hình là loại hình phạt đặc biệt và nghiêm khắc nhất trong hệ thống hình phạt, tước đi quyền sống của người bị kết án và chỉ được áp dụng đối với người phạm tội có tính chất nguy hiểm đặc biệt cao cho xã hội. Hình phạt tử hình được quy định trong Bộ luật Hình sự và do Tòa án quyết định.

Hình phạt tử hình là một hiện tượng xã hội mang tính khách quan. Nó là phương tiện để bảo vệ mình của xã hội chống lại sự vi phạm các điều kiện tồn tại của nó. Tội phạm đe dọa sự tồn tại của xã hội nên xã hội phải phản ứng một cách tự nhiên là trừng trị người phạm tội. Là một loại hình phạt, nên hình phạt tử hình cũng như các hình phạt khác trong hệ thống hình phạt, có những đặc điểm chung, như: Là một biện pháp cưỡng chế của Nhà nước; được quy định trong pháp luật hình sự; được Tòa án áp dụng theo một trình tự tố tụng chặt chẽ, công bằng đối với người bị kết án. Tuy nhiên, với tư cách là một hình phạt đặc biệt, hình phạt tử hình có những đặc điểm riêng, đó là: Thứ nhất, tử hình là một loại hình phạt nghiêm khắc nhất trong hệ thống hình phạt, nó tước đi quyền sống của người bị kết án, vì thế nó chỉ được quy định áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng; Thứ hai, hình phạt tử hình có mục đích phòng ngừa tái phạm tội mới một cách triệt để từ phía người bị kết án. Hình phạt này không có mục đích cải tạo, giáo dục người bị kết án, như vậy nó tước bỏ cơ hội tái hòa nhập và phục thiện của họ; Thứ ba, hình phạt tử hình đồng thời có khả năng đạt được nhiều hiệu quả cao trong phòng ngừa chung; Thứ tư, hình phạt tử hình có tính chất không thay đổi, nó tước đi khả năng khắc phục sai lầm trong hoạt động tư pháp.

2. Những quy định về hình phạt tử hình từ khi pháp điển hóa Luật Hình sự Việt Nam lần thứ nhất (năm 1985) đến nay

2.1. Hình phạt tử hình trong Bộ luật Hình sự năm 1985

Trong Bộ luật Hình sự này, điều kiện, phạm vi, đối tượng áp dụng hình phạt tử hình được quy định rõ tại Điều 27. Tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ được áp dụng đối với người phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng. Không áp dụng hình phạt này với người chưa thành niên phạm tội, đối với phụ nữ có thai khi phạm tội hoặc khi bị xét xử. Tử hình được hoãn thi hành đối với phụ nữ có thai, phụ nữ nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Trong Phần các tội phạm, Bộ luật Hình sự năm 1985, hình phạt tử hình được quy định trong 29 điều luật, chiếm 14,89% trên tổng số 195 điều luật về tội phạm. Ngày 28/12/1989, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 1985 đã quy định thêm 4 hành vi phạm tội về ma túy trong Điều 96a, có mức hình phạt cao nhất là tử hình. Ngày 12/8/1991, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 1985 đã quy định hình phạt tử hình đối với các tội: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa (Điều 134); Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản riêng công dân (Điều 157); Tội nhận hối lộ (Điều 226). Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 1985 ngày 22/12/1992 đã quy định hình phạt tử hình đối với Tội buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới (Điều 97). Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 1985 ngày 10/5/1997 đã bổ sung thêm 06 điều luật quy định các tội: Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa (Điều 134a); Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn lừa đảo chiếm đoạt tài sản riêng công dân (Điều 185e); Tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 185m) vào danh mục các tội phải chịu hình phạt cao nhất là tử hình. Đồng thời, nhà làm luật cũng tách Điều 96a ra thành 4 điều luật mới (các điều 185b, 185c, 185d, 185đ) và giữ nguyên hình phạt tử hình đối với các tội này. Điều 112 quy định tội hiếp dâm cũng được tách ra thành hai tội: Tội hiếp dâm và Tội hiếp dâm trẻ em (Điều 112a) và cũng vẫn giữ nguyên hình phạt tử hình đối với các tội này.

Như vậy, Bộ luật Hình sự năm 1985, sau 4 lần sửa đổi, bổ sung đã quy định hình phạt tử hình trong 44 điều luật về tội phạm, chiếm tỷ lệ 20,37% trên tổng số 216 điều luật về tội phạm.

2.2. Hình phạt tử hình trong Bộ luật Hình sự năm 1999

Nếu như trong những lần sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự năm 1985, đường lối xử lý nghiêm khắc hơn đã được thể hiện bằng việc tăng cường hình phạt tử hình trong thực tiễn pháp luật, thì Bộ luật Hình sự năm 1999 đã có sự mềm hóa (phi hình sự hóa), bằng việc quy định thu hẹp và xác định rõ ràng phạm vi và điều kiện áp dụng hình phạt này. Thể hiện cụ thể như sau:

a. Phần chung của Bộ luật Hình sự năm 1999:

Theo Điều 35 và Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 1999, quy định về hình phạt tử hình có những nội dung mới như sau:

Thứ nhất, hình phạt tử hình được coi là một loại hình phạt đặc biệt chỉ được áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, trong khi Điều 27 Bộ luật Hình sự năm 1985 quy định áp dụng hình phạt này đối với người phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng.

Thứ hai, ngoài hai đối tượng đã được Bộ luật Hình sự năm 1985 quy định không áp dụng hình phạt tử hình: Người chưa thành niên phạm tội và phụ nữ có thai khi phạm tội hoặc khi bị xét xử, Bộ luật Hình sự năm 1999 đã quy định bổ sung là không áp dụng hình phạt này đối với các đối tượng là phụ nữ đang nuôi con (bao gồm cả con nuôi) dưới 36 tháng tuổi khi phạm tội hoặc khi bị xét xử.

Thứ ba, trong khi Bộ luật Hình sự năm 1985 quy định đối với phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi chỉ được hoãn thi hành phạt tử hình, thì Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định không thi hành hình phạt tử hình đối với phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi và hình phạt tử hình được chuyển thành tù chung thân.

Thứ tư, Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định không áp dụng hình phạt đối với người phạm tội trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội. Đối với người phạm tội chưa đạt, chỉ có thể áp dụng hình phạt này trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, Bộ luật Hình sự năm 1985 không có quy định này.

Thứ năm, Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định mới là trong trường hợp người bị kết án tử hình được ân giảm, thì hình phạt tử hình chuyển thành tù chung thân.

Thứ sáu, Bộ luật Hình sự năm 1999 bỏ quy định “chỉ trong trường hợp đặc biệt có luật quy định riêng hình phạt tử hình được thi hành ngay sau khi tuyên”.

b. Phần các tội phạm Bộ luật Hình sự năm 1999

Theo Bộ luật Hình sự năm 1999, hình phạt tử hình không còn được áp dụng đối với các tội phạm sau: Tội xâm phạm an ninh lãnh thổ (Điều 81), Tội chống phá trại giam (Điều 90), Tội trộm cắp tài sản (Điều 138), Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (Điều 143), Tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới (Điều 154), Tội buôn bán hàng giả không phải là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, phòng bệnh (Điều 156 và 158), Tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 200), Tội chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự (Điều 230), Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của công dân (Điều 280), Tội bỏ vị trí chiến đấu (Điều 324).

2.3. Hình phạt tử hình theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2009 được Quốc hội khóa XII số 37/2009/QH12 thông qua ngày 19/6/2009

Theo Luật này, Bộ luật Hình sự năm 1999 đã được sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều quy định về hình phạt tử hình, cụ thể như sau: Bỏ hình phạt tử hình đối với các tội phạm: Hiếp dâm (Điều 111), Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139), Tội buôn lậu (Điều 153), Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả (Điều 180), Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 197), Tội chiếm đoạt máy bay, tầu thủy (Điều 221), Tội đưa hối lộ (Điều 289), Tội hủy hoại vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự (Điều 334). Đối với các tội phạm này hình phạt nghiêm khắc nhất được áp dụng là hình phạt tù chung thân. Đồng thời, Luật sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự năm 1999 bổ sung thêm tội khủng bố (Điều 230a) quy định hình phạt nặng nhất áp dụng với tội này là tử hình.

Như vậy, hình phạt tử hình trong Bộ luật Hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi năm 2009) chỉ còn quy định ở 22 điều luật về tội phạm, chiếm tỷ lệ hơn 8% điều luật về tội phạm.

3. Thực tiễn áp dụng hình phạt tử hình

Theo số liệu thống kê của Tòa án nhân dân tối cao trong 15 năm (trừ các năm 2003 và năm 2004 không có số liệu thống kê), tổng số bị cáo bị Tòa án các cấp xét xử sơ thẩm bị tuyên phạt tử hình là 2.600 bị cáo.

Phân tích tình hình xét xử sơ thẩm áp dụng hình phạt tử hình trong 8 năm áp dụng Bộ luật Hình sự năm 1985, từ năm 1993 đến năm 2001 cho thấy, Tòa án các cấp đã áp dụng hình phạt tử hình đối với 1.179 bị cáo. Số bị cáo bị tử hình có xu hướng tăng nhanh trong 8 năm, trong đó tăng mạnh nhất là từ năm 1997, kể từ khi áp dụng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 1997. Nếu lấy tổng số bị cáo bị tử hình năm 1993 là 100%, thì số bị cáo bị tử hình năm 1997 là 170,5% và đến năm 2000 đã tăng lên đến 218,9%. Nguyên nhân của hiện tượng này: Thứ nhất, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 1997 đã bổ sung thêm 6 điều luật quy định hình phạt tử hình; Thứ hai, các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng mà điều luật về tội phạm đó có quy định hình phạt tử hình cũng tăng mạnh, đặc biệt là các tội phạm về ma túy, gây ra những hậu quả tác hại rất lớn cho lợi ích của Nhà nước, xã hội và công dân.

Phân tích tình hình xét xử sơ thẩm áp dụng hình phạt tử hình trong 8 năm áp dụng Bộ luật Hình sự năm 1999, từ năm 2001 đến năm 2010 cho thấy, Tòa án các cấp đã áp dụng hình phạt tử hình đối với 1.421 bị cáo. Trong tổng số 29 điều luật về tội phạm có quy định hình phạt tử hình, thì trong thực tiễn xét xử chỉ có 13 loại tội phạm được thực hiện mà bị cáo bị phạt tử hình, đó là các tội: Tội giết người, Tội hiếp dâm, Tội hiếp dâm trẻ em, Tội cướp tài sản, Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Tội tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa, Tội buôn lậu, Tội buôn bán hàng giả, Tội làm, tàng trữ và lưu hành tiền giả, Tội làm, tàng trữ và lưu hành séc giả, Tội phá hủy công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia, Tội sản xuất trái phép chất ma túy, Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy, Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Trong đó các tội phạm giết người, tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép, chiếm đoạt chất ma túy, Tội hiếp dâm trẻ em là những loại tội phạm xảy ra nhiều và cũng là loại tội phạm bị áp dụng hình phạt tử hình nhiều nhất. Thống kê cho thấy, tổng số bị cáo phạm tội giết người bị tử hình là 789 bị cáo, chiếm 55,5% trên tổng số 1.421 bị cáo bị tử hình trong 8 năm (2001-2010); Tổng số bị cáo phạm tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép, chiếm đoạt chất ma túy là 569 bị cáo, chiếm 40,04%; Phạm tội hiếp dâm trẻ em có 25 bị cáo bị tử hình, chiếm 1,76%; Phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có 16 bị cáo bị tử hình, chiếm 1,12%. Còn đối với các trường hợp phạm các tội phạm khác, hình phạt tử hình áp dụng rất hạn chế.

Nghiên cứu thực tiễn tình hình áp dụng hình phạt tử hình theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 cho thấy, trong 8 năm từ năm 2001 đến năm 2010, hình phạt từ hình được áp dụng trong các năm tăng giảm thất thường, nhưng nhìn chung vẫn còn cao và nếu so với những năm áp dụng hình phạt tử hình theo Bộ luật Hình sự năm 1985 thì có thể nói là tăng rất mạnh. Nhận định này được lý giải ở hai khía cạnh: Thứ nhất, ở thực tiễn pháp luật, Bộ luật Hình sự năm 1985 quy định hình phạt tử hình ở 44 điều luật về tội phạm trong khi đó Bộ luật Hình sự năm 1999 chỉ quy định hình phạt này ở 29 điều luật (đã xóa bỏ hình phạt tử hình trong 15 điều luật về tội phạm); Thứ hai, ở thực tiễn áp dụng, mặc dù hình phạt tử hình được xóa bỏ đối với nhiều tội phạm như vậy, nhưng theo thống kê xét xử cho thấy, 8 năm (1993-2000) áp dụng Bộ luật Hình sự năm 1985 có tổng số 1.179 bị cáo bị áp dụng hình phạt tử hình (100%) thì hình phạt này được các Tòa án sơ thẩm tuyên đối với các bị cáo trong 8 năm (2001-2010) áp dụng Bộ luật Hình sự năm 1999 là 1.421 bị cáo chiếm 120,5%. Điều này có thể lý giải ở thực trạng tội phạm trong các năm qua diễn biến phức tạp, các loại tội phạm đặc biệt nguy hiểm, có tổ chức, xuyên quốc gia có chiều hướng tăng mạnh… Vì vậy, cần phải áp dụng chính sách xử lý cứng rắn, trừng trị nghiêm khắc với các loại tội phạm này, không loại trừ cả việc áp dụng hình phạt nghiêm khắc nhất là loại bỏ người phạm tội vĩnh viễn khỏi xã hội.

Tóm lại, trên cơ sở phân tích tình hình áp dụng hình phạt tử hình trong 16 năm từ năm 1993 đến năm 2010 có thể rút ra một số nhận định sau:

- Nhìn chung, hình phạt tử hình được áp dụng có xu hướng tăng mạnh, nhất là kể từ khi áp dụng Bộ luật Hình sự năm 1999;

- Hình phạt tử hình áp dụng chủ yếu đối với các tội phạm giết người, tàng trữ, vận chuyển, mua bán các chất ma túy; hiếp dâm trẻ em, lừa đảo chiếm đoạt tài sản...

- Đối với những tội phạm mặc dù hàng năm bị áp dụng hình phạt tử hình nhiều nhất, nhưng tình hình tội phạm đó trong thực tiễn vẫn có xu hướng tăng nhanh...

- Phân tích số liệu các tội phạm bị áp dụng hình phạt tử hình từ năm 1993 đến 2010 với danh mục các điều luật về tội phạm có quy định hình phạt tử hình, cho thấy, những trường hợp phạm các tội sau đây trong thực tiễn không bị áp dụng hình phạt tử hình: Các tội xâm phạm an ninh quốc gia (Tội phản bội tổ quốc; Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân; Tội bạo loạn; Tội hoạt động phỉ; Tội phá hoại cơ sở vật chất của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam); Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; Tội chiếm đoạt tàu bay, tàu thủy; Tội chống mệnh lệnh; Tội hủy hoại vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự; các tội phạm quốc tế.

Thực tiễn xét xử hình sự là một phần của cấu trúc chung của pháp luật hình sự, vì nó là sự thể hiện các quy định của pháp luật hình sự trong thực tiễn hay nói cách khác, thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự là hình thức sống của quy phạm pháp luật hình sự. Tính hợp lý và hiệu quả của quy phạm pháp luật hình sự (trong đó có cả hình phạt) được kiểm chứng và đánh giá qua thực tiễn xét xử. Các yếu tố thuộc về xây dựng hệ thống hình phạt nói chung và hình phạt tử hình nói riêng chỉ có nghĩa thực tiễn khi hình phạt được quyết định đúng và bảo đảm tốt việc chấp hành hình phạt. Chính vì thế, thực tiễn xét xử áp dụng hình phạt tử hình nêu trên là cơ sở đánh giá một cách toàn diện những ưu điểm cũng như tồn tại, hạn chế của các quy định về hình phạt tử hình trong pháp luật hình sự để từ đó đề xuất những kiến nghị khả thi nhằm hoàn thiện chế định này.

4. Một số kiến nghị tiếp tục hoàn thiện chế định hình phạt tử hình trong Luật Hình sự Việt Nam

Tử hình là hình phạt nghiêm khắc nhất trong hệ thống hình phạt của Nhà nước, tước đi quyền quan trọng và thiêng liêng nhất của con người, đó là quyền sống. Xuất phát từ quan điểm hình phạt tử hình (cho dù thể thức thi hành nó trong thực tế như thế nào cũng là một hình phạt dã man, phi luân lý, vô ích, không có tác dụng răn đe người phạm tội). Việc duy trì hình phạt này không có tác dụng làm giảm tội phạm, kể cả các tội đặc biệt nghiêm trọng (bởi vì, tình trạng phạm tội đã không tăng lên trong các nước sau khi đã bị xóa bỏ loại hình phạt này), không sửa chữa được trong trường hợp có sai lầm về tư pháp, nên nhiều quốc gia đã và đang nghiên cứu loại bỏ hình phạt này và thay thế bằng các hình phạt khác. Cho đến nay, có rất nhiều nước (trong đó có toàn bộ các nước thuộc Cộng đồng chung châu Âu) đã loại bỏ hình phạt này đối với không chỉ các tội phạm theo luật chung, mà còn với cả các tội phạm chính trị, quân sự và tội phạm quốc tế. Mặc dù vậy, loại hình phạt này vẫn còn được duy trì trong pháp luật hình sự của nhiều nước, trong đó có nhiều tiểu bang ở Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Chúng tôi cho rằng, việc áp dụng hình phạt này cần phải căn cứ vào đặc điểm và điều kiện cụ thể của mỗi nước. ở Việt Nam, tử hình vẫn được coi là hình phạt cần thiết và cần phải có nhằm trừng trị những người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng để giữ nghiêm kỷ cương phép nước, bảo đảm cho an ninh và trật tự an toàn xã hội, tức là loại hình phạt này vẫn có tác dụng tốt trong việc ngăn ngừa tội phạm và bảo vệ hữu hiệu lợi ích công cộng. Việc áp dụng đúng đắn hình phạt tử hình được dư luận đồng tình ủng hộ.

Tuy nhiên, xuất phát từ tình hình phát triển kinh tế - xã hội và quá trình hội nhập quốc tế, đồng thời với yêu cầu cải các tư pháp, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay, đòi hỏi cấp thiết là phải tiếp tục hoàn thiện pháp luật hình sự với việc bảo đảm các quyền con người, nhân đạo hóa các biện pháp trừng trị hình sự, phù hợp với điều kiện phát triển và đạo đức của người Việt Nam. Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trung tâm công tác tư pháp trong thời gian tới đã quán triệt: Các bộ, ngành có liên quan cần xem xét hai vấn đề lớn là hình thức thi hành án tử hình và hạn chế số lượng hình phạt tử hình trong cơ cấu hình phạt của Bộ luật Hình sự”. Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 cũng tiếp tục nhấn mạnh quan điểm trên về hình phạt tử hình.

Xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn khách quan và trên cơ sở quán triệt đường lối chính sách hình sự của Đảng Cộng sản Việt Nam trong các nghị quyết nêu trên, Chính phủ đã trình Dự thảo luật sửa đổi, bổ sung một số điều luật của Bộ luật Hình sự năm 1999 tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XII. Dự thảo này đã đề nghị chỉ giữ lại 12 điều luật quy định về tội phạm và hình phạt trước đây có quy định hình phạt cao nhất áp dụng đối với tội phạm đó là tử hình, nay chuyển xuống thành chung thân. Tuy vậy, như chúng ta đã biết, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2009 được Quốc hội khóa XII số 37/2009/QH12 thông qua ngày 19/6/2009. Theo Luật này, Bộ luật Hình sự năm 1999 đã được sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều quy định về hình phạt tử hình, nhưng vẫn duy trì hình phạt này đối với các tội phạm được quy định trong 22 điều luật về tội phạm.

Trên cơ sở những luận điểm về mặt lý luận, cũng như căn cứ vào thực tiễn pháp luật và thực tiễn áp dụng hình phạt này, chúng tôi cho rằng, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 1999 được Quốc hội Khóa XII thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2010, liên quan đến chế định hình phạt tử hình, vẫn còn có những tồn tại nhất định, cần tiếp tục hoàn thiện:

Thứ nhất, theo chúng tôi vẫn cần thiết duy trì hình phạt tử hình trong pháp luật hình sự nước ta, nhưng nên cân nhắc tiếp tục loại bỏ hình phạt này đối với một số tội phạm khác, trong đó, bao gồm cả những tội phạm mà trong thực tiễn xét xử từ năm 1993 đến năm 2010 đã không bị áp dụng hình phạt tử hình (đã xóa bỏ trong thực tiễn áp dụng), đó là: Tội phá hoại cơ sở vật chất của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 85); Tội cướp tài sản (Điều 133); Tội làm hàng giả, tội buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (Điều 157); Tội sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 193); Tội chiếm đoạt trái phép chất ma túy (Điều 194); Tội phá hủy công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia (Điều 231).

Thứ hai, chúng ta đều biết, các chế định trong pháp luật hình sự không tách rời nhau, luôn tồn tại trong một chỉnh thể thống nhất, tác động qua lại và bổ sung cho nhau. Điều này tất yếu dẫn tới việc sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định về hình phạt tử hình trong pháp luật hình sự phải đảm bảo tính toàn diện, đồng bộ, thống nhất. Nếu chỉ nhấn mạnh đến việc điều chỉnh một mặt nào đó của chế định này sẽ làm giảm đi hiệu lực và hiệu quả của nó. Đồng thời, việc sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các chế định của pháp luật hình sự, trong đó có chế định hình phạt tử hình cũng phải tiến hành hoàn thiện đồng bộ, thống nhất các pháp luật khác trong hệ thống pháp luật về đấu tranh phòng, chống tội phạm của nước ta. Bên cạnh đó, hoàn thiện chế định hình phạt “cần phải được thực hiện thường xuyên, kịp thời nhưng phải có tính đồng bộ. Khi có đòi hỏi phải sửa đổi, bổ sung một vấn đề cần phải cân nhắc hướng sửa đổi, bổ sung không tạo ra sự bất hợp lí mới”.

Luật sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự khi loại bỏ hình phạt tử hình đối với tội phạm nào đó lại chưa tính đến các biện pháp cưỡng chế để thay thế, để đảm bảo phòng ngừa triệt để sau này. Theo chúng tôi có hai phương án: (1) Khi loại bỏ hình phạt tử hình với một loại tội nào đó nhà làm luật nên nghiên cứu thay thế bằng hình phạt khác, thông thường đó là hình phạt tù chung thân không được giảm án, chứ không phải là hình phạt tù chung thân thông thường; (2) Nếu coi quy định như vậy là trái với chính sách nhân đạo hóa luật hình sự, có nghĩa là vẫn cho người bị kết án chung thân về loại tội phạm đó được hưởng các chế định giảm thời hạn chấp hành hình phạt hoặc đặc xá thì cần quy định “thời kỳ an toàn”, hoặc phóng thích có điều kiện (như một số nước đang áp dụng), tức là khi áp dụng những biện pháp trên đối với người bị kết án, thì họ buộc phải thực hiện những điều kiện (nghĩa vụ) trong một khoảng thời gian nhất định dưới sự giám sát và trợ giúp của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, nhằm tạo thuận lợi cho họ cải tạo và tái hòa nhập xã hội.

Thứ ba, một vấn đề nữa khi quy định cũng như khi xóa bỏ một loại hình phạt nói chung và hình phạt tử hình nói riêng đối với một loại tội phạm nào đó thì cũng phải đảm bảo tính đồng bộ và thống nhất, chứ không được làm có tính chất cục bộ. Đảm bảo sự thống nhất và đồng bộ này không chỉ liên quan đến hình phạt chính mà bao hàm cả hình phạt bổ sung. Liên quan đến việc quy định hình phạt bổ sung, chúng tôi nhận thấy, Luật sửa đổi, bổ sung vẫn có sự tồn tại bất hợp lý. Ví dụ: Theo quan niệm của nhà làm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 1999, tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 197) là ít nghiêm trọng hơn so với tội mua bán trái phép chất ma túy (Điều 194), nên đã quyết định xóa bỏ hình phạt tử hình với tội này. Thế nhưng, khi xóa bỏ hình phạt tử hình, nhà làm luật lại không chỉnh sửa lại chế tài hình phạt bổ sung của tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên dẫn đến tình trạng chế tài hình phạt bổ sung xác định tương đối và chế tài hình phạt bổ sung lựa chọn trong tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy lại có mức độ nghiêm khắc cao hơn rất nhiều so với tội mua bán trái phép chất ma túy được quy định tại Điều 194.

Thứ tư, hạn chế tiếp theo thể hiện rất rõ sự không đồng nhất, sự không toàn diện, sự không nhất quán trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 1999 là khi điều chỉnh chế định hình phạt tử hình trong các điều luật về tội phạm ở Phần các tội phạm, lại không sửa đổi, bổ sung chế định này trong Phần chung của Bộ luật Hình sự.

Theo chúng tôi, cần phải sửa đổi, hoàn thiện Điều 35 quy định về hình phạt tử hình. Điều luật này còn chưa đưa ra được định nghĩa pháp lý đầy đủ về khái niệm pháp lý của hình phạt tử hình, cũng như chưa quy định hoặc quy định chưa đầy đủ và rõ ràng về nội dung cưỡng chế, giới hạn (phạm vi) và điều kiện áp dụng hình phạt này; Về đối tượng áp dụng hình phạt tử hình, còn có hạn chế chưa thể hiện được tận cùng của nguyên tắc nhân đạo trong pháp luật hình sự; Bộ luật Hình sự cần quy định không áp dụng hình phạt này với cả người già từ 70 tuổi trở lên, người mắc bệnh hiểm nghèo nguy hiểm đến tính mạng. Đồng thời, sửa đổi lại khoản 3 Điều 52 là “Đối với trường hợp phạm tội chưa đạt, nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình, thì chỉ có thể áp dụng các hình phạt chung thân trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng…”, có nghĩa là, không áp dụng hình phạt tử hình đối với người phạm tội chưa đạt.

Ngoài ra, chúng tôi cho rằng, pháp luật hình sự có mối quan hệ chặt chẽ với các ngành luật trong hệ thống pháp luật về đấu tranh phòng, chống tội phạm. Cho nên, việc hoàn thiện pháp luật hình sự nói chung và hoàn thiện chế định hình phạt tử hình nói riêng cần phải tiến hành đồng thời với việc cải cách hệ thống tư pháp hình sự và đổi mới một cách đồng bộ, thống nhất các chế định thuộc pháp luật tố tụng hình sự và pháp luật thi hành án hình sự của nước ta. Nếu không sẽ dẫn đến tình trạng để lại hoặc tạo ra những lỗ hổng, khoảng trống, không được pháp luật điều chỉnh, hoặc có sự chồng chéo, mâu thuẫn giữa các quy định của pháp luật, ảnh hưởng đến các yêu cầu của thực tiễn công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm. Vì thế, bất cứ việc sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện nào liên quan đến chế định hình phạt tử hình cũng phải đi liền với việc nghiên cứu, rà soát, đối chiếu với các đạo luật có liên quan. Nói cách khác, hệ thống các quy định về hình phạt tử hình phải được hoàn thiện đồng bộ với các pháp luật có liên quan, nhất là với pháp luật tố tụng hình sự, pháp luật thi hành án hình sự.

Tài liệu tham khảo:

(1). Theo Báo cáo công tác Ngành Tòa án năm 2002 và phương hướng nhiệm vụ công tác tòa án năm 2003 của Tòa án nhân dân tối cao, Bộ luật Hình sự năm 1999 có hiệu lực pháp luật ngày 01/7/2000. Số vụ án hình sự xảy ra trước ngày 1/7/2000 hầu như đã được giải quyết trong năm 2000. Các vụ án hình sự được giải quyết trong năm 2001 chủ yếu là các vụ án xảy ra sau ngày 1/7/2000, có nghĩa là, Toà án các cấp đều áp dụng Bộ luật Hình sự năm 1999 để giải quyết.

TS. Trịnh Quốc Toản

Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.
Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết phân tích các vấn đề cốt lõi về hợp đồng tiếp thị liên kết, đánh giá thực tiễn áp dụng và chỉ ra những bất cập trong quy định pháp luật, đặc biệt liên quan đến khái niệm pháp lý, cơ chế giao kết và hiệu lực phụ lục hợp đồng. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng tiếp thị liên kết, nhằm bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong quan hệ hợp đồng và góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của hoạt động tiếp thị liên kết trong môi trường thương mại điện tử tại Việt Nam.
Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự gia tăng của quan hệ hôn nhân xuyên biên giới, vấn đề giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn ngày càng trở nên cấp thiết. Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá quy định hiện hành về xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch (lex patriae). Qua đó, nhận diện một số bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực thi nguyên tắc này tại Việt Nam hiện nay.
Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Tóm tắt: Ở Việt Nam, chế định Hội thẩm nhân dân là phương thức thể chế hóa quyền làm chủ của Nhân dân trong hoạt động xét xử. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, chế định này tồn tại một số hạn chế, dẫn đến sự tham gia của Nhân dân trong nhiều trường hợp còn hình thức. Bài viết phân tích vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử, nhận diện những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về cơ chế lựa chọn, phân công, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Hội thẩm nhân dân, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: