Thứ bảy 12/09/2026 06:16
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện một số quy định pháp luật liên quan đến nhà đầu tư là công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài

Bài viết nghiên cứu các quy định của pháp luật liên quan đến nhà đầu tư là công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài, từ đó phân tích một số vướng mắc, bất cập và đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về vấn đề này.

Công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài là một trong những nhà đầu tư đặc biệt được Luật Đầu tư năm 2020 và văn bản hướng dẫn thi hành trao quyền được lựa chọn áp dụng các điều kiện và trình tự, thủ tục đầu tư khác nhau. Tuy nhiên, nhiều quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến hoạt động đầu tư kinh doanh của Việt Nam chưa được cập nhật hoặc chưa thống nhất với nhau, dẫn đến việc áp dụng trên thực tế còn gặp khó khăn. Do đó, các quy định này cần phải được tiếp tục sửa đổi, bổ sung cho phù hợp, nhằm bảo đảm quyền của nhà đầu tư là công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài được thực hiện một các rõ ràng và thống nhất giữa các văn bản quy phạm pháp luật liên quan trong hoạt động đầu tư kinh doanh.

1. Vài nét khái quát về nhà đầu tư là công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài

Theo Luật Đầu tư năm 2020, nhà đầu tư trong nước là cá nhân có quốc tịch Việt Nam, tổ chức kinh tế không có nhà đầu tư nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông[1]. Nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam[2]. Hai nhóm nhà đầu tư này khi thực hiện các hoạt động đầu tư tại Việt Nam thì tuân theo những điều kiện và trình tự, thủ tục khác nhau. Cụ thể, dự án của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam phải tuân thủ cả hai nhóm điều kiện tiếp cận thị trường của cả nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài, đồng thời phải thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (trừ một số ngoại lệ theo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017). Dự án của nhà đầu tư trong nước thì chỉ tuân thủ một nhóm điều kiện tiếp cận thị trường của nhà đầu tư trong nước và không bắt buộc phải thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư[3].

Như vậy, vấn đề đặt ra là, đối với nhà đầu tư là công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài thì sẽ tuân theo quy định về điều kiện và trình tự, thủ tục đầu tư của nhà đầu tư trong nước hay theo quy định về điều kiện và trình tự, thủ tục đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài? Theo Luật Quốc tịch năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014 (Luật Quốc tịch năm 2008), người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài[4]. Do đó, người Việt Nam định cư ở nước ngoài có thể chia thành ba nhóm:

- Nhóm 1: Người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài: Đây là nhóm người Việt Nam đã từng có quốc tịch Việt Nam mà khi sinh ra, quốc tịch của họ được xác định theo nguyên tắc huyết thống và con, cháu của họ đang cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài[5]. Nói cách khác, về mặt pháp lý, người gốc Việt Nam là người không còn quốc tịch Việt Nam. Do đó, khi đầu tư tại Việt Nam họ sẽ được gọi là nhà đầu tư nước ngoài[6].

- Nhóm 2: Công dân Việt Nam chỉ có quốc tịch Việt Nam, không đồng thời có quốc tịch nước ngoài: Nhóm này khi đầu tư tại Việt Nam thì về mặt pháp lý họ là nhà đầu tư trong nước.

- Nhóm 3: Công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài: Đại đa số công dân Việt Nam ở nước ngoài hiện tại là những người đồng thời có quốc tịch nước ngoài. Luật Quốc tịch năm 2008 quy định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chỉ công nhận quốc tịch Việt Nam đối với công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài trong quan hệ với cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam, trừ trường hợp Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác”[7]. Như vậy, với quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam thì nguyên tắc một quốc tịch nêu trên được áp dụng “mềm dẻo”[8]. Theo đó, Luật Quốc tịch năm 2008 giao cho các luật có liên quan quy định về quyền, nghĩa vụ của nhóm công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài: “Quyền và nghĩa vụ của công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài đang định cư ở nước ngoài được thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan”[9]. Từ đó, pháp luật về đầu tư của Việt Nam quy định: “Đối với các hoạt động đầu tư kinh doanh thực hiện tại Việt Nam, nhà đầu tư là công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài được quyền lựa chọn áp dụng điều kiện tiếp cận thị trường và thủ tục đầu tư như quy định áp dụng đối với nhà đầu tư trong nước hoặc nhà đầu tư nước ngoài. Trong trường hợp lựa chọn áp dụng điều kiện tiếp cận thị trường và thủ tục đầu tư như quy định đối với nhà đầu tư trong nước, nhà đầu tư là công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài không được thực hiện các quyền và nghĩa vụ quy định đối với nhà đầu tư nước ngoài”[10].

Căn cứ vào quy định nêu trên, có thể khẳng định rằng, trong lĩnh vực đầu tư, công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài được xem như là nhà đầu tư đặc biệt (không được gọi là nhà đầu tư Việt Nam, cũng không được gọi là nhà đầu tư nước ngoài) dù đang có quốc tịch Việt Nam. Tuy nhiên, các văn bản pháp luật liên quan như Luật Đất đai năm 2024, Luật Hợp tác xã năm 2023, Luật Doanh nghiệp năm 2020, Nghị định số 01/2021/CP-NĐ ngày 04/01/2021 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp… còn quy định chung chung, chưa phân biệt rõ giữa các nhóm người Việt Nam định cư ở nước ngoài trong các quy định về chủ thể tiếp cận quyền sử dụng đất để thực hiện các dự án đầu tư, điều kiện chủ thể để đầu tư thành lập hợp tác xã… Đặc biệt, nhiều văn bản chưa đề cập đến quyền được lựa chọn điều kiện và thủ tục đầu tư tại Việt Nam của công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài. Bên cạnh đó, mặc dù Luật Quốc tịch năm 2008 đã thay cụm từ “người Việt Nam ở nước ngoài” thành cụm từ “người Việt Nam định cư ở nước ngoài” và giải thích rất rõ nhóm người này gồm công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam[11]… nhưng có văn bản còn đánh đồng giữa người Việt Nam định cư ở nước ngoài có quốc tịch nước ngoài với người nước ngoài trong việc áp dụng các điều kiện kinh doanh trong một số ngành, nghề[12].

2. Một số vướng mắc, bất cập trong quy định pháp luật liên quan đến nhà đầu tư là công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài

Như đã phân tích, trong lĩnh vực đầu tư kinh doanh thì công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài là nhà đầu tư đặc biệt. Chủ thể này được quyền lựa chọn áp dụng điều kiện, trình tự thủ tục đầu tư theo quy định của nhà đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, một số văn bản quy phạm pháp luật liên quan còn chưa quy định rõ ràng việc áp dụng quy định của nhà đầu tư nước ngoài khi cá nhân này lựa chọn. Điều này dẫn đến những khó khăn, lúng túng cho người áp dụng pháp luật, bởi Luật Đầu tư năm 2020 chưa thực sự giải quyết được rõ ràng, cụ thể mối quan hệ trong việc áp dụng Luật Đầu tư và các luật có liên quan. Cụ thể:

Thứ nhất, theo quy định của Luật Đất đai năm 2013[13] thì “người Việt Nam định cư ở nước ngoài theo quy định của pháp luật về quốc tịch” là một trong những chủ thể có quyền sử dụng đất tại Việt Nam. Có nghĩa là, chủ thể này được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai[14]. Tuy nhiên, theo Luật Đất đai năm 2024 (có hiệu lực ngày 01/01/2025), thì người Việt Nam định cư ở nước ngoài được tách ra thành hai nhóm người sử dụng đất theo hướng của Luật Quốc tịch năm 2008 là “người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam” và “người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài”. Đối với nhóm “người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam”, Luật Đất đai năm 2024 xếp chung với nhóm cá nhân trong nước sử dụng đất[15]. Đối với nhóm “cá nhân trong nước”, Luật Đất đai năm 2024 cũng không phân biệt giữa cá nhân trong nước chỉ có quốc tịch Việt Nam và cá nhân trong nước đồng thời mang quốc tịch nước ngoài. Điều này đồng nghĩa với việc không còn ranh giới phân biệt giữa người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam với cá nhân công dân Việt Nam định cư trong nước trong việc tiếp cận quyền sử dụng đất. Nói cách khác, tất cả các cá nhân mang quốc tịch Việt Nam (không phân biệt định cư trong nước hay ở ngoài nước) đều có quyền tiếp cận đất đai như nhau. Đây là quy định rất tiến bộ của Luật Đất đai năm 2024 so với Luật Đất đai năm 2013 trong việc mở rộng đối tượng sử dụng đất cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài[16]. Tuy nhiên, Luật Đất đai năm 2013 và Luật Đất đai năm 2024 đều chưa “khớp” hoàn toàn với Luật Đầu tư năm 2020 và văn bản hướng dẫn về cách xác định nhà đầu tư là công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài trong các lĩnh vực có liên quan đến đất đai.

Thứ hai, Luật Hợp tác xã năm 2012 và Luật Hợp tác xã năm 2023 (có hiệu lực ngày 01/7/2024) đều có quy định về điều kiện để trở thành thành viên hợp tác xã đối với cá nhân là công dân Việt Nam và người nước ngoài. Cụ thể, đối với cá nhân, Điều 13 Luật Hợp tác xã năm 2012 quy định điều kiện trở thành thành viên hợp tác xã là: “Cá nhân là công dân Việt Nam hoặc người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam”. Còn Luật Hợp tác xã năm 2023 quy định chi tiết hơn, cụ thể, Điều 30 Luật này quy định điều kiện của cá nhân làm thành viên chính thức và thành viên liên kết góp vốn của hợp tác xã là: “Cá nhân là công dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; cá nhân là nhà đầu tư nước ngoài có giấy chứng nhận đăng ký đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư”[17]. Bên cạnh đó, điều kiện để trở thành thành viên liên kết không góp vốn của hợp tác xã là: “Cá nhân là công dân Việt Nam hoặc người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam, từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ”[18].

Đối với cá nhân là nhà đầu tư nước ngoài khi tham gia là thành viên chính thức, thành viên liên kết góp vốn của hợp tác xã phải đáp ứng các điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài theo quy định của pháp luật về đầu tư và pháp luật có liên quan. Bên cạnh đó, cá nhân này còn phải đáp ứng điều kiện bảo đảm quốc phòng, an ninh theo quy định của pháp luật về đầu tư. Tương tự, hợp tác xã có thành viên chính thức, thành viên liên kết góp vốn là cá nhân nhà đầu tư nước ngoài thì phải đáp ứng điều kiện tiếp cận thị trường áp dụng đối với nhà đầu tư nước ngoài theo quy định của pháp luật về đầu tư và pháp luật có liên quan[19].

Từ các quy định nêu trên, có thể thấy, Luật Hợp tác xã năm 2012 cũng như Luật Hợp tác xã năm 2023 đều không có quy định đặc thù nào áp dụng đối với nhóm công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài khi họ đầu tư làm thành viên của hợp tác xã. Nói cách khác, các quy định nêu trên đều chỉ áp dụng cho công dân Việt Nam và cá nhân là nhà đầu tư nước ngoài hoặc người nước ngoài cư trú hợp pháp trên lãnh thổ Việt Nam. Theo đó, chỉ có đối tượng cá nhân là nhà đầu tư nước ngoài thì mới bắt buộc có giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và đáp ứng “điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài theo quy định của pháp luật về đầu tư và pháp luật có liên quan”. Trong khi đó, theo quy định của Nghị định số 31/2021/NĐ-CP ngày 26/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư, nếu công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài lựa chọn điều kiện và thủ tục đầu tư như nhà đầu tư nước ngoài thì áp dụng toàn bộ điều kiện và thủ tục như nhà đầu tư nước ngoài. Do đó, người này phải tuân thủ điều kiện và thủ tục như nhà đầu tư nước ngoài khi làm thành viên của hợp tác xã.

Thứ ba, Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định về hồ sơ đăng ký doanh nghiệp tại Điều 20, Điều 21, Điều 22. Theo đó, một trong những giấy tờ bắt buộc phải có trong bộ hồ sơ là “bản sao giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài theo quy định của Luật Đầu tư”. Các quy định này chưa thực sự rõ ràng, làm cho chủ thể áp dụng có thể hiểu là khi thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam, chỉ có nhà đầu tư nước ngoài mới có nghĩa vụ nộp bản sao giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, nếu công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài quyết định lựa chọn áp dụng điều kiện và thủ tục đầu tư như nhà đầu tư nước ngoài thì chủ thể này cũng phải xuất trình được bản sao giấy chứng nhận đăng ký đầu tư như nhà đầu tư nước ngoài. Nói cách khác, theo Luật Đầu tư năm 2020, công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài không được gọi là nhà đầu tư nước ngoài, nhưng họ có quyền được lựa chọn điều kiện và thủ tục đầu tư như nhà đầu tư nước ngoài. Trong khi đó, các điều khoản nêu trên chỉ quy định trực diện là giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài.

3. Một số kiến nghị

Thứ nhất, theo quy định pháp luật hiện hành, văn bản quy phạm pháp luật được ban hành sau có thể có quy định khác với một số quy định của văn bản quy phạm pháp luật được ban hành trước đó, do sự cần thiết về tính đặc thù của các lĩnh vực hoặc do điều kiện kinh tế, xã hội luôn vận động, phát triển… Theo đó, Luật Đầu tư năm 2020 cũng đã có quy định tại Điều 4 về việc áp dụng Luật Đầu tư và các luật có liên quan. Một số luật đặc thù, quan trọng, cần thiết cho an ninh quốc gia, xã hội và phát triển đất nước được Luật Đầu tư năm 2020 đưa vào danh mục ưu tiên áp dụng hơn so với Luật Đầu tư khi có sự khác nhau giữa các quy định trong các luật này với Luật Đầu tư (được liệt kê tại khoản 3 Điều 4). Thực tế cho thấy, Luật Đất đai là đạo luật rất quan trọng, tác động trực tiếp đến đời sống, kinh tế - xã hội và phục vụ cho phát triển đất nước, an ninh quốc gia, đồng thời góp phần tiếp tục và luôn khẳng định quan điểm của Đảng ta là “cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không thể tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam”[20]. Do vậy, khoản 4 Điều 4 Luật Đầu tư năm 2020 nên bổ sung quy định: “Trường hợp Luật khác không xác định cụ thể nội dung thực hiện hoặc không thực hiện theo quy định của Luật Đầu tư, nội dung thực hiện theo quy định của luật khác thì áp dụng theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này”. Đồng thời, trong khoản 3 Điều 4 Luật Đầu tư năm 2020 nên bổ sung Luật Đất đai vào nhóm các luật đặc thù được ưu tiên áp dụng hơn so với Luật Đầu tư khi có quy định khác nhau về điều kiện, thủ tục đầu tư. Điều này có nghĩa là, khi có sự khác nhau giữa Luật Đất đai năm 2024 và Luật Đầu tư năm 2020 về điều kiện, trình tự, thủ tục đầu tư liên quan đến đất đai thì áp dụng Luật Đất đai năm 2024. Từ đó, công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài sẽ tuân theo điều kiện, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất của công dân Việt Nam định cư trong nước[21] trong các lĩnh vực có liên quan đến quyền sử dụng đất, kể cả lĩnh vực đầu tư.

Thứ hai, như đã phân tích, Luật Hợp tác xã năm 2023 không có quy định đặc thù nào áp dụng đối với nhóm công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài khi họ đầu tư làm thành viên của hợp tác xã. Nếu xét tổng thể, hợp tác xã cũng là một trong các tổ chức kinh tế nói riêng và chủ thể kinh doanh nói chung. Do đó, việc tham gia vào làm thành viên của một chủ thể kinh doanh tại Việt Nam nên giao về cho văn bản điều chỉnh trực tiếp đối với chủ thể kinh doanh đó. Do đó, để thống nhất với Luật Đầu tư năm 2020 thì Luật Hợp tác xã năm 2023 nên bổ sung quy định đặc thù áp dụng đối với cá nhân là công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài khi tham gia làm thành viên của hợp tác xã. Cụ thể, pháp luật về hợp tác xã nên bổ sung đối tượng công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài trong nhóm chủ thể có quyền làm thành viên của hợp tác xã theo hướng dẫn chiếu đến quy định của pháp luật về đầu tư. Như vậy, việc áp dụng Luật Hợp tác xã năm 2023 sẽ được rõ ràng hơn nếu cá nhân này thực hiện quyền lựa chọn điều kiện, thủ tục đầu tư tham gia thành lập hợp tác xã như quy định đối với nhà đầu tư nước ngoài. Nói cách khác, khi công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài đầu tư thành lập hợp tác xã tại Việt Nam thì ưu tiên áp dụng Luật Đầu tư năm 2020 để chủ thể này thực hiện quyền lựa chọn áp dụng như nhà đầu tư trong nước hay như nhà đầu tư nước ngoài. Ngược lại, nếu giữ nguyên quy định của Luật Hợp tác xã năm 2023 để ưu tiên áp dụng hơn Luật Đầu tư năm 2020 đối với nhóm nhà đầu tư là công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài theo hướng nhà đầu tư trong nước, thì pháp luật hợp tác xã cần bổ sung quy định khẳng định việc áp dụng Luật Hợp tác xã năm 2023 khi có sự khác nhau giữa Luật Hợp tác xã năm 2023 với Luật Đầu tư năm 2020 theo hướng lập pháp được ghi nhận tại khoản 4 Điều 4 Luật Đầu tư năm 2020.

Thứ ba, Luật Doanh nghiệp năm 2020 được ban hành trước ngày Luật Đầu tư năm 2020 có hiệu lực và không nằm trong danh mục các luật đặc thù được ưu tiên áp dụng hơn Luật Đầu tư theo quy định tại khoản 3 Điều 4 Luật Đầu tư năm 2020. Do đó, về nguyên tắc, khi có sự khác nhau giữa Luật Doanh nghiệp năm 2020 và Luật Đầu tư năm 2020 về điều kiện, thủ tục đầu tư thì sẽ áp dụng Luật Đầu tư năm 2020. Tuy nhiên, để thuận lợi, rõ ràng cho việc áp dụng thì các điều 20, 21, 22 Luật Doanh nghiệp năm 2020 nên được sửa đổi điều kiện về hồ sơ liên quan đến trường hợp phải có giấy chứng nhận đăng ký đầu tư theo hướng: Chuyển từ quy định “bản sao giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài theo quy định của Luật Đầu tư” thành quy định “bản sao giấy chứng nhận đăng ký đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư”. Như vậy, khi công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam thì sẽ áp dụng Luật Đầu tư năm 2020 để xem xét nghĩa vụ của người này có phải thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư hay không. Nói cách khác, người này sẽ phải làm thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư khi lựa chọn việc áp dụng điều kiện và thủ tục đầu tư như quy định đối với nhà đầu tư nước ngoài./.

TS. Cao Nhất Linh

Khoa Luật, Trường Đại học Cần Thơ

[1]. Khoản 20 Điều 3 Luật Đầu tư năm 2020.

[2]. Khoản 19 Điểu 3 Luật Đầu tư năm 2020.

[3]. Điều 37 Luật Đầu tư năm 2020.

[4]. Khoản 3 Điều 3 Luật Quốc tịch năm 2008.

[5]. Khoản 4 Điều 3 Luật Quốc tịch năm 2008.

[6. Khoản 19 Điều 3 Luật Đầu tư năm 2020.

[7]. Điều 5 Nghị định số 16/2020/NĐ-CP ngày 03/02/2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Quốc tịch Việt Nam.

[8]. Thu Hương, Nguyên tắc quốc tịch theo pháp luật Việt Nam, https://tapchitoaan.vn/public/nguyen-tac-quoc-tich-theo-phap-luat-viet-nam, truy cập ngày 20/3/2024.

[9]. Khoản 5 Điều 5 Luật Quốc tịch năm 2008.

[10]. Khoản 2 Điều 16 Nghị định số 31/2021/NĐ-CP ngày 26/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư.

[11]. Nguyễn Thị Kim Ngân, Người Việt Nam định cư ở nước ngoài và các quy định của pháp luật Việt Nam năm 2008, Tạp chí Luật học, Số 6/2009.

[12]. Khoản 2 Điều 7 Nghị định số 96/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện.

[13]. Khoản 1 Điều 183 Luật Đất đai năm 2013.

[14]. Điều 5 Luật Đất đai năm 2013.

[15]. Điều 4 Luật Đất đai năm 2024.

[16]. Xuân Trường, Những chính sách mới của Luật Đất đai 2024 mà doanh nghiệp và nhà đầu tư cần đặc biệt quan tâm, lưu ý, https://phaply.net.vn/nhung-chinh-sach-moi-cua-luat-dat-dai-2024-ma-doanh-nghiep-va-nha-dau-tu-can-dac-biet-quan-tam-luu-y-a257922.html, truy cập ngày 10/4/2024.

[17]. Khoản 1 Điều 30 Luật Hợp tác xã năm 2023.

[18]. Khoản 2 Điều 30 Luật Hợp tác xã năm 2023.

[19]. Khoản 5, khoản 6 Điều 30 Luật Hợp tác xã năm 2023.

[20]. Tạ Quang Đạo, Bài 3: Kiều bào là bộ phận không thể tách rời của cộng động dân tộc Việt Nam, https://dangcongsan.vn/nguoi-viet-nam-o-nuoc-ngoai/bai-3-kieu-bao-la-bo-phan-khong-the-tach-roi-cua-cong-dong-dan-toc-viet-nam-585349.html, truy cập ngày 25/3/2024.

[21]. V.Lê, Luật Đất đai 2024 mở rộng quyền sử dụng đất của người Việt Nam định cư nước ngoài, https://tapchitoaan.vn/luat-dat-dai-2024-mo-rong-quyen-su-dung-dat-cua-nguoi-viet-nam-dinh-cu-nuoc-ngoai10436.html, truy cập ngày 25/3/2024.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 403), tháng 4/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.

Theo dõi chúng tôi trên: