Thứ ba 18/08/2026 09:48
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp

Tóm tắt: Phí bảo vệ môi trường đối với nước thải là một trong những công cụ kinh tế quan trọng được áp dụng ở Việt Nam nhằm hạn chế ô nhiễm môi trường. Xác định đúng phương thức tính phí nước thải công nghiệp sẽ góp phần nâng cao hiệu lực và hiệu quả giảm thiểu ô nhiễm môi trường, để phí bảo vệ môi trường thực sự là công cụ kinh tế hỗ trợ đắc lực cho việc đạt được mục tiêu cải thiện chất lượng môi trường, bảo đảm phát triển kinh tế theo hướng bền vững.


Abstract: Environment protection charge for waste water is an important economic tool which is applied in Vietnam in order to limit environment pollution. Correct fixing form of industrial waste water will contribute to improving validity and effect of diminishing environment pollution and enable environment protection charge as an economic tool supporting the goal of improving environment quality, ensuring sustainable economic development.

1. Khái quát về pháp luật phí bảo vệ môi trường tại Việt Nam

Phí bảo vệ môi trường (BVMT) đối với nước thải là một trong những công cụ quản lý quan trọng được áp dụng khá phổ biến ở nhiều nước trên thế giới nhằm hạn chế ô nhiễm môi trường. Phí BVMT đối với nước thải được xây dựng trên nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả” nhằm tạo động lực để các doanh nghiệp giảm thiểu ô nhiễm, đồng thời, tạo nguồn thu để chi trả cho các hoạt động BVMT. Nhận thức được vai trò của công tác BVMT đối với sự phát triển bền vững, ngày 13/06/2003, Chính phủ ban hành Nghị định số 67/2003 NĐ-CP điều chỉnh về phí BVMT đối với nước thải (Nghị định số 67). Nghị định này đã được sửa đổi, bổ sung hai lần bằng Nghị định số 04/2007/NĐ-CP và Nghị định số 26/2010/NĐ-CP ngày 22/3/2010. Sau nhiều năm thực hiện, Nghị định số 67 được thay thế bởi Nghị định số 25/2013/NĐ-CP ngày 29/03/2013 và ngày 16/11/2016, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 154/2016/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 01/01/2017 (Nghị định số 154) thay thế Nghị định số 25 nhằm hoàn thiện hơn nữa pháp luật về phí BVMT đối với nước thải. Tuy nhiên, sau một thời gian ngắn áp dụng trong thực tiễn, theo phản ánh của các địa phương, Nghị định số 154 đã bộc lộ nhiều bất cập, vướng mắc, nhiều quy định chưa phù hợp với điều kiện thu phí của Việt Nam hiện nay, đặc biệt là các quy định về cách tính phí cố định và phí biến đổi, tải lượng nước thải tính phí, thông số ô nhiễm tính phí (gọi chung là phương thức tính phí).

2. Những bất cập, vướng mắc của pháp luật về phương thức tính phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp

Theo phản ánh của nhiều địa phương, phương thức tính phí của Nghị định số 154 đã bộc lộ một số bất cập làm ảnh hưởng đến hiệu lực và hiệu quả của phí BVMT đối với nước thải. Cụ thể:

Thứ nhất, quy định tính phí cố định 1.500.000 đồng/năm đối với các cơ sở có lượng nước thải trung bình trong năm tính phí dưới 20 m3/ngày đêm cho tất cả các ngành nghề

Thực tế cho thấy, một số cơ sở sản xuất trong những lĩnh vực ngành nghề đặc thù sử dụng lưu lượng nước rất ít, dưới 01m3/ngày đêm hoặc thậm chí sử dụng chưa đến 10m3/tháng như cơ khí, gia công kim loại, chế tạo máy và phụ tùng, đá chẻ… hoặc có những cơ sở sản xuất gần như không sử dụng nước trong hoạt động sản xuất như may mặc mà không dệt nhuộm, thạch cao… Khi tiến hành thu phí, các địa phương gặp không ít khó khăn vì bị các cơ sở này phản đối gay gắt. Các cơ sở sản xuất sử dụng lưu lượng thấp cho rằng quy định thu phí cố định 1.500.000 đồng/năm đối với tất cả các ngành nghề tạo sự bất bình đẳng lớn giữa các cơ sở sản xuất bởi không thể đánh đồng giữa cơ sở sản xuất chỉ sử dụng dưới 01m3/ngày đêm với cơ sở sản xuất sử dụng gần 20m3/ngày đêm. Trong khi đó, các cơ sở sản xuất không sử dụng nước như may mặc, thạch cao… phản đối việc nộp phí, họ cho rằng họ không sử dụng nước cho việc sản xuất thì không phải chịu phí BVMT đối với nước thải công nghiệp. Một số cơ sở chấp nhận đóng phí nhưng phải với một mức hợp lí vì họ chỉ sản xuất dưới quy mô hộ gia đình nên mức phí cố định 1.500.000 đồng/năm là quá cao so với thu nhập của cơ sở quy mô hộ gia đình.

Thứ hai, không quy định rõ phí cố định 1.500.000 đồng/năm thu theo hộ gia đình sản xuất hay thu theo số lượng cơ sở sản xuất của hộ gia đình

Khó khăn, vướng mắc nảy sinh trong thực tiễn thu phí đối với trường hợp một hộ gia đình thành lập nhiều cơ sở sản xuất (từ 02 đến 03 cơ sở) cùng một ngành nghề và sử dụng lưu lượng nước thải rất ít (như cơ khí, may mặc…). Trong trường hợp này, nhiều địa phương lúng túng không biết thu phí như thế nào, chỉ thu phí cố định 1.500.000 đồng/năm đối với hộ gia đình hay thu phí cố định dựa trên số lượng cơ sở sản xuất của hộ gia đình.

Thứ ba, quy định tính phí biến đổi với mức xả thải từ 20m3/ngày đêm trở lên làm giảm nguồn thu cho hoạt động bảo vệ môi trường

Quy định về tính phí biến đổi cho các cơ sở sản xuất có lượng nước thải từ 20m3/ngày đêm theo quy định của Nghị định số 154 không phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn này. Hiện nay, các cơ sở sản xuất ở Việt Nam chủ yếu là các cơ sở sản xuất nhỏ, tải lượng nước thải không cao. Với mức 20m3/ngày đêm mới tính phí biến đổi sẽ dẫn đến tình trạng số lượng cơ sở sản xuất phải đóng phí biến đổi là rất thấp. Nguồn thu cho công tác BVMT từ phí nước thải công nghiệp bị giảm sút đáng kể, không đủ bù đắp chi phí cho hoạt động BVMT.

Thứ tư, quy định chất gây ô nhiễm tính phí

Nghị định 154 quy định thu phí BVMT đối với 06 chất gây ô nhiễm. Xét về mặt lí thuyết môi trường, việc thu phí đối với tất cả các chất gây ô nhiễm giúp phản ánh được đúng bản chất và mục tiêu giảm thiểu ô nhiễm môi trường của phí BVMT. Tuy nhiên, theo phản ánh của các địa phương, quy định thu phí BVMT đối với 06 chất gây ô nhiễm đã tạo nên những áp lực và khó khăn cho các địa phương trong việc thu phí. Mặc dù phí BVMT đối với nước thải đã được thực hiện gần 15 năm nhưng điều kiện về nguồn lực và phương tiện thu phí của các địa phương vẫn còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng việc thu phí phức tạp với nhiều chất gây ô nhiễm. Thêm vào đó, việc quy định thu phí BVMT đối với 04 kim loại nặng cho tất cả ngành nghề vô cùng bất hợp lý. Trên thực tế, mỗi loại hình sản xuất công nghiệp có một đặc thù riêng, công nghệ sản xuất đa dạng nên việc phát thải gây ô nhiễm khác nhau, không phải ngành sản xuất công nghiệp nào cũng phát sinh nước thải chứa 04 kim loại nặng như quy định của Nghị định số 154. Chi phí thực tế về việc lấy mẫu, phân tích hàm lượng thông số ô nhiễm cao, thậm chí, có trường hợp cao hơn số phí thu được từ cơ sở sản xuất. Do chi phí lấy mẫu tốn kém, nên nhiều địa phương chỉ tiến hành lấy mẫu phân tích thông số ô nhiễm theo xác suất. Tại Đà Nẵng, Chi cục Bảo vệ môi trường tiến hành lấy mẫu phân tích thông số ô nhiễm theo xác suất, trung bình chỉ từ 50 đến 80 lần/năm, do đó, không thể giám sát hết tất cả thông số ô nhiễm của các đơn vị sản xuất. Việc xác định thông số ô nhiễm tính phí chủ yếu dựa vào sự kê khai của cơ sở sản xuất. Có nhiều trường hợp kê khai không trung thực nên việc xác định số phí cơ sở sản xuất phải nộp cũng không chính xác. Điều này làm giảm hiệu lực và hiệu quả giảm thiểu ô nhiễm môi trường của phí BVMT.

3. Đề xuất sửa đổi, bổ sung pháp luật về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải

3.1. Về mức phí bảo vệ môi trường đối với nước thải

Mức phí là một trong những vấn đề quan trọng cần xác định khi xây dựng pháp luật về phí BVMT vì mức phí ảnh hưởng đến việc thực hiện mục tiêu của phí BVMT. Trên cơ sở những nghiên cứu pháp luật về phí BVMT tại Việt Nam và phản ánh của địa phương, tác giả đề xuất sửa đổi cách tính phí cố định và phí biến đổi phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam và đảm bảo sự công bằng giữa các cơ sở sản xuất chịu phí.

Về phí cố định: Tại Việt Nam, sau 02 lần điều chỉnh, mức phí cố định đối với nước thải công nghiệp hiện nay là 1.500.000 đồng. Với mức phí cố định này trước mắt chưa thể bù đắp chi phí quản lí nhưng xét theo điều kiện thực tế của Việt Nam, hầu hết các cơ sở sản xuất công nghiệp có qui mô vừa và nhỏ, trình độ công nghệ lạc hậu và năng lực tài chính hạn hẹp nên mức phí theo quy định hiện hành là phù hợp. Tuy nhiên, mức phí cố định cần phải xem xét điều chỉnh sau mỗi chu kỳ 05 năm để phù hợp với sự biến động của chất lượng môi trường và các điều kiện kinh tế xã hội. Vì vậy, cần phải điều chỉnh lại lưu lượng nước thải để tính phí cố định, Nghị định số 154 đã giảm mức lưu lượng nước thải trung bình trong năm tính phí cố định xuống còn 20 m3/ngày đêm thay cho mức 30m3/ngày đêm quy định tại Nghị định số 25. Việc giảm mức lưu lượng nước thải trung bình trong năm tính phí cố định đã phần nào tạo sự bình đẳng giữa các cơ sở sản xuất, song quy định này vẫn chưa thực sự hợp lý, bởi lẽ, đa số các cơ sở sản xuất có quy mô nhỏ, nhiều cơ sở sản xuất chỉ sử dụng 01 đến 02m3/ngày đêm, có cơ sở sản xuất sử dụng lưu lượng nước chưa đến 10m3/tháng nên quy định này chưa thật sự tạo sự công bằng cho các cơ sở sản xuất phát sinh nước thải ít. Bên cạnh đó, các cơ sở sản xuất trong ngành nghề phát sinh nước thải ít phải nộp phí cố định như khu công nghiệp có hệ thống xử lí nước thải tập trung với nguồn xả thải lớn là không công bằng. Theo quy định tại Điều 13, Điều 14 Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, trong đó quy định cơ sở sản xuất xả thải từ dưới 05m3/ngày đêm vượt tiêu chuẩn kĩ thuật đã thực hiện xử lý vi phạm hành chính, do đó, quy định mức xả thải 20m3/ngày đêm để tính phí cố định không tương đồng với mức xả thải vượt tiêu chuẩn kỹ thuật 05m3/ngày đêm bị xử lí vi phạm hành chính của Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016. Bởi vậy, tác giả đề xuất nên chia nhỏ mức lưu lượng nước thải tính phí cố định phù hợp với các mốc lưu lượng nước thải xử lí vi phạm hành chính tại Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 như sau: dưới 05m3/ngày đêm; từ 05m3/ngày đêm đến dưới 10m3/ngày đêm; từ 10m3/ngày đêm đến dưới 20m3/ngày đêm; từ 20m3/ngày đêm đến dưới 40m3/ngày đêm; từ 40m3/ngày đêm đến dưới 60m3/ngày đêm; từ 60m3/ngày đêm đến dưới 80m3/ngày đêm; từ 80m3/ngày đêm đến dưới 100m3/ngày đêm; trên 100m3/ngày đêm.

Dựa trên quy định mức phí cố định quy định hiện hành là 1.500.000 đồng/năm, mức phí cố định áp dụng với cơ sở sản xuất dưới 05m3/ngày đêm là 1.000.000 đồng/năm và áp dụng hệ số K tính phí cố định theo lưu lượng nước. Mức phí cố định và hệ số K đề xuất tính phí cố định đã được tác giả tính toán dựa trên các tiêu chí lấy căn cứ xả thải 20m3/ngày đêm và mức phí biến đổi 1.500.000 đồng/năm theo quy định hiện hành làm cơ sở để xây dựng mức phí cố định mới và hệ số K tính phí cố định với từng mức lưu lượng xả thải với nguyên tắc không tạo ra sự thay đổi đột ngột về mức phí cố định cơ sở sản xuất phải đóng so với quy định hiện hành; không tạo ra khoảng cách phí cố định quá lớn giữa các khung liền kề về lưu lượng nước thải; đảm bảo cách tính phí mới không làm giảm nguồn thu ngân sách từ phí BVMT.

Về phí biến đổi: Ngoài việc tính phí cố định theo hệ số như đã nêu, các cơ sở sản xuất có lưu lượng xả thải từ 05 m3/ngày đêm còn phải chịu phí biến đổi. Theo tác giả, thu phí biến đổi với mức xả thải từ 05m3/ngày đêm sẽ có tác dụng điều chỉnh hành vi của cơ sở sản xuất theo hướng có lợi cho môi trường, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho BVMT và đồng thời tạo sự công bằng trong việc thu phí giữa các cơ sở sản xuất. Mức phí biến đổi hiện hành không cao. Cần điều chỉnh tăng dần mức phí biến đổi sau mỗi chu kì khoảng 05 năm. Thực tế cho thấy thuế, phí môi trường sẽ không có hiệu quả nếu như thiếu sự ổn định trong kinh tế vĩ mô. Lạm phát cao thường làm mất đi giá trị thực của phí. Không nên điều chỉnh mức phí theo mức lạm phát vì khó thực hiện và thường gây ảnh hưởng tiêu cực về mặt chính sách. Cách điều chỉnh hiệu quả là áp dụng hệ thống tự điều chỉnh mức phí hằng năm theo chỉ số giá tiêu dùng. Điều này sẽ hạn chế được ảnh hưởng của lạm phát đến hiệu quả của việc áp dụng phí BVMT trong thực tế. Đối với trường hợp một hộ gia đình thành lập nhiều cơ sở sản xuất cùng một ngành nghề và sử dụng lưu lượng nước thải rất ít chỉ nên thu phí đối với hộ gia đình. Lưu lượng nước thải tính phí cố định và phí biến đổi là tổng lượng nước thải của các cơ sở sản xuất của hộ gia đình. Quy định này vừa có tính khuyến khích hộ gia đình làm kinh tế nhưng vừa đảm bảo được sự công bằng trong việc thu phí giữa các chủ thể.

3.2. Về thông số ô nhiễm tính phí

Thông số ô nhiễm tính phí là một trong những nội dung quan trọng của hệ thống phí BVMT. Về lý thuyết, số lượng chất ô nhiễm chịu phí càng nhiều càng phản ánh chính xác mức độ ô nhiễm của các ngành công nghiệp. Ở Việt Nam, phí biến đổi của nước thải công nghiệp trong Nghị định số 154/2016/NĐ-CP được quy định tính với 06 thông số ô nhiễm, trong đó có 04 thông số kim loại nặng là thủy ngân, chì, arsenic và cadium. Cách tính này tương tự với cách tính phí BVMT đối với nước thải công nghiệp của Nghị định số 67.

Thực tế thực hiện Nghị định số 67 trong 10 năm cho thấy, rất nhiều địa phương đã không thu được phí BVMT đối các thông số kim loại nặng có trong nước thải, gây thất thu ngân sách nhà nước, nguyên nhân của tình trạng này là do: (i) Năng lực quan trắc thông số ô nhiễm kim loại nặng tại các địa phương còn nhiều hạn chế; chi phí phân tích cao, có những địa phương chi phí phân tích kim loại nặng cao hơn so với số phí nước thải công nghiệp thu được; (ii) Quy định tính phí theo hàm lượng các thông số kim loại nặng trong nước thải áp dụng đối với mọi đối tượng không đảm bảo tính công bằng giữa các loại hình sản xuất công nghiệp; không phân loại được các nhóm ngành phát sinh nước thải tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây ô nhiễm môi trường; gây tốn kém, phức tạp cho doanh nghiệp của một số ngành sản xuất như thực phẩm, dệt may... vì nước thải không có kim loại nặng nhưng vẫn phải phân tích 04 thông số kim loại để tính phí; (iii) Quy định khó thực hiện, không đảm bảo tính nhanh gọn trong việc kê khai của cơ sở và thẩm định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Nghị định số 25 ra đời điều chỉnh thu phí BVMT chỉ đối với 02 chất gây ô nhiễm là COD và TSS và tính hệ số K đối với nước thải chứa kim loại nặng. Cách tính này đã được các địa phương ghi nhận và đánh giá cao do đơn giản, thuận tiện cho người kê khai phí và cơ quan có thẩm quyền thẩm định phí. Theo phản ánh của các địa phương, việc quy định tính phí đối với 04 thông số kim loại nặng của Nghị định số 154/2016/NĐ-CP đã và đang gây ra nhiều khó khăn cho các địa phương trong thực tiễn triển khai thực hiện - những khó khăn mà các địa phương đã gặp phải khi triển khai thực hiện Nghị định số 67/2003/NĐ-CP - và làm giảm hiệu quả thực thi quy định của pháp luật về phí BVMT. Bởi vậy, tác giả kiến nghị chỉ nên áp dụng phí BVMT cho 02 chỉ tiêu ô nhiễm là COD, TSS và 01 kim loại nặng có nồng độ cao nhất trong nước thải.

Có thể nói, việc áp dụng thu phí BVMT đối với nước thải có ý nghĩa hết sức quan trọng trong công tác quản lý và BVMT theo định hướng đảm bảo phát triển bền vững ở nước ta. Để pháp luật về phí BVMT phát huy hiệu lực và hiệu quả thì cần có một sự thiết kế chặt chẽ nhằm mang lại những lợi ích đáng kể về kinh tế và môi trường.

ThS. Lê Thị Thu Hằng

Khoa Luật, Đại học Kinh tế Đà Nẵng



Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Tóm tắt: Pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập là một bộ phận của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật, có vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên cơ sở làm rõ khái niệm, đặc trưng và các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện, nghiên cứu phân tích thực trạng pháp luật hiện hành, chỉ ra những kết quả đạt được và các hạn chế. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số cho người cao tuổi

Hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số cho người cao tuổi

Tóm tắt: Chuyển đổi số đặt ra yêu cầu cấp thiết cần đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, nhất là đối với các nhóm đối tượng đặc thù có năng lực số hạn chế. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số trên cơ sở chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và yêu cầu của chuyển đổi số; đánh giá thực trạng quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Thông qua trường hợp cảnh báo về “hợp đồng kỳ nghỉ”, nghiên cứu làm rõ những hạn chế trong việc tiếp cận thông tin pháp luật của người cao tuổi trên môi trường số, từ đó, chỉ ra những bất cập của pháp luật hiện hành. Trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các quy định pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số.

Theo dõi chúng tôi trên: