Thứ ba 26/05/2026 03:03
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về quyền tự do thành lập tổ chức đại diện của người lao động

Tóm tắt: Bài viết phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về quyền tự do thành lập công đoàn, qua đó, tác giả đưa ra một số kiến nghị sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật cho phù hợp với xu thế quốc tế và nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức đại diện cho người lao động.

Abstract: The paper analyzes, assesses the status of the law on freedom of establishment of trade unions, through which the author gives some recommendations for amendments of some provisions of the law in line with the international trend and improving the efficiency of the activities of representative organizations of worker.

1. Thực trạng pháp luật Việt Nam về tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở

Pháp luật Việt Nam hiện nay quy định công đoàn là tổ chức duy nhất đại diện cho người lao động, bảo vệ quyền lợi cho người lao động, vì thế quyền thành lập và hoạt động của tổ chức đại diện của người lao động cũng chính là quyền thành lập và hoạt động của tổ chức công đoàn. Như vậy, khi nói tổ chức đại diện của người lao động là nói đến một chủ thể duy nhất là công đoàn. Điều này hoàn toàn không đúng với bản chất của chủ thể đại diện của người lao động như trong tuyên bố chung của Công ước số 87, 98 của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) cũng như nội dung cam kết về lao động trong Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Thực tế nghiên cứu cho thấy, có thời kỳ pháp luật Việt Nam đã thừa nhận tư cách của ban đại diện của người lao động ở các doanh nghiệp chưa có ban chấp hành công đoàn bên cạnh tư cách đại diện duy nhất là tổ chức công đoàn. Theo đó, ở những doanh nghiệp chưa có tổ chức công đoàn sẽ được thành lập ban đại diện. Ban đại diện có số lượng là 03 thành viên, do tập thể người lao động bầu ra và được cơ quan lao động cấp tỉnh xác nhận. Ban đại diện này được quyền tham gia thương lượng và ký kết thỏa ước lao động tập thể. Tuy nhiên, đến Bộ luật Lao động năm 1994 thì ban đại diện lại được thay thế bởi tổ chức công đoàn lâm thời ở những doanh nghiệp chưa có tổ chức công đoàn. Cụ thể, đối với những doanh nghiệp đang hoạt động chưa có tổ chức công đoàn, thì chậm nhất sau sáu tháng, kể từ ngày doanh nghiệp bắt đầu hoạt động, Liên đoàn Lao động cấp tỉnh phải thành lập tổ chức công đoàn lâm thời tại doanh nghiệp để đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động và tập thể lao động. Với quy định này, pháp luật lao động Việt Nam chỉ thừa nhận tổ chức duy nhất đại diện cho người lao động là công đoàn. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện quan hệ lao động, đặc biệt là khi có đình công xảy ra thì ban chấp hành công đoàn không thể lãnh đạo đình công mà hầu hết các cuộc đình công xảy ra là do một nhóm người lao động đứng ra tổ chức và lãnh đạo. Do vậy, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động năm 2006 đã quy định: Đình công phải do ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc ban chấp hành công đoàn lâm thời (sau đây gọi chung là ban chấp hành công đoàn cơ sở) tổ chức và lãnh đạo, đình công phải do tập thể lao động cử và việc này được thông báo với công đoàn huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh hoặc tương đương (sau đây gọi chung là đại diện tập thể lao động). Như vậy, ban đại diện của người lao động được thừa nhận nhưng phạm vi đại diện khác với quy định trước đây, đó là chỉ giới hạn trong lĩnh vực tổ chức đình công của tập thể người lao đông. Quy định này lại có sự thay đổi khi Bộ luật Lao động năm 2012 ra đời. Theo đó, tổ chức công đoàn là tổ chức duy nhất đại diện và bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Công đoàn cơ sở thực hiện vai trò đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên công đoàn, người lao động, tham gia, thương lượng, ký kết và giám sát việc thực hiện thỏa ước lao động tập thể, thang lương, bảng lương, định mức lao động, quy chế trả lương, quy chế thưởng, nội quy lao động, quy chế dân chủ ở doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức,tham gia, hỗ trợ giải quyết tranh chấp lao động, đối thoại, hợp tác với người sử dụng lao động xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ tại doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức. Công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở có trách nhiệm hỗ trợ công đoàn cơ sở thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình. Ở những nơi chưa thành lập công đoàn cơ sở, công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở thực hiện trách nhiệm như trách nhiệm của công đoàn cơ sở. Như vậy, pháp luật Việt Nam hiện nay chỉ thừa nhận công đoàn là tổ chức đại diện duy nhất cho người lao động, có trách nhiệm bảo vệ quyền và lợi ích cho người lao động. Nhưng trong quá trình thực hiện quạn hệ lao động, vai trò của công đoàn khá mờ nhạt, đặc biệt khi tranh chấp lao động xảy ra dẫn đến hiện tượng đình công. Trong những năm gần đây, cả nước diễn ra khá nhiều cuộc đình công và gần như các cuộc đình công đều bất hợp pháp. Điều này xuất phát từ nguyên nhân là mặc dù pháp luật có quy định trình tự, thủ tục giải quyết nhưng trên thực tế, đa số các vụ tranh chấp tập thể xảy ra được giải quyết không thông qua một trình tự nhất định nào. Cụ thể, khi có tranh chấp lao động tập thể xảy ra, nhiều địa phương đã lập các đoàn công tác hoặc tổ công tác liên ngành (sau đây gọi chung là tổ công tác) để bước đầu giải quyết vụ đình công trái pháp luật.

Thành phần của các tổ công tác này thay đổi theo vụ việc và thông lệ của từng địa phương nhưng thường bao gồm đại diện của cơ quan quản lý lao động cấp tỉnh, đại diện công đoàn cấp trên cơ sở, đôi khi còn có cả đại diện của Ủy ban nhân dân cấp huyện, cơ quan công an hoặc tổ chức đoàn thể khác. Không giống với các cơ quan giải quyết tranh chấp lao động được quy định theo pháp luật, các tổ công tác tiến hành giải quyết tranh chấp lao động tập thể mà không cần yêu cầu chính thức của các bên. Tổ công tác sau khi được thành lập sẽ chủ động xuống doanh nghiệp để giải quyết tranh chấp khi nhận được thông báo về vụ đình công từ công đoàn cơ sở, Ủy ban nhân dân địa phương hoặc công an địa phương. Quan điểm của tổ công tác khi giải quyết vụ việc là ưu tiên thuyết phục bằng mọi cách để người lao động quay trở lại làm việc, đảm bảo an ninh trật tự và tránh tình trạng lây lan đình công. Tổ công tác sẽ tổ chức một cuộc họp với những người lao động tham gia đình công để xem yêu cầu, nguyện vọng từ phía họ. Sau đó, tổ công tác sẽ lựa chọn những yêu cầu chính đáng và trình bày lại với người sử dụng lao động để tìm kiếm giải pháp. Các cuộc đối thoại giữa người sử dụng lao động với tổ đàm phán thường được tiến hành mà không có sự tham gia của đại diện người lao động. Thông thường, trên thực tế khi tổ công tác đứng ra giải quyết vụ việc thì các yêu cầu của người lao động đều được doanh nghiệp đáp ứng kịp thời, mâu thuẫn được xoa dịu nhưng không được giải quyết triệt để. Vì vậy, phương án giải quyết tranh chấp lao động tập thể thông qua tổ công tác chỉ mang tính chất tạm thời. Thực tế, tâm lý người lao động là khi thấy chủ sử dụng lao động đáp ứng quyền lợi một cách dễ dàng thì họ lại tiếp tục đấu tranh đòi thỏa mãn nhu cầu trước mắt, mà không tính đến sự ổn định của quan hệ lao động. Điều đó dẫn đến tình trạng số lượng cuộc đình công trái pháp luật trong thời gian qua ngày càng gia tăng. Như vậy, mặc dù pháp luật hiện hành không quy định tổ chức đại diện của người lao động nằm ngoài tổ chức công đoàn nhưng trên thực tế tổ chức đó vẫn tồn tại trong quá trình vận hành quan hệ lao động, vì thành phần tổ công tác ngoài đại diện của cơ quan nhà nước, các cấp, các ngành, người sử dụng lao động còn có đại diện người lao động (không phải công đoàn). Thực trạng nêu trên là cơ sở cho việc hoàn thiện pháp luật lao động về quyền tự do thành lập tổ chức đại diện của người lao động cho phù hợp với xu thế quốc tế.

2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật lao động về tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở

Một là, cần sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật lao động và công đoàn để phù hợp với các cam kết về quyền tự do liên kết của người lao động. Đó là người lao động làm việc trong một doanh nghiệp được tự do thành lập tổ chức của người lao động ở cấp doanh nghiệp. Sau khi thành lập, tổ chức đó có thể lựa chọn hoặc là gia nhập Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam và được phép hoạt động ngay hoặc đăng ký với cơ quan nhà nước và chỉ được phép hoạt động sau khi đã hoàn thành thủ tục đăng ký. Tổ chức đại diện người lao động hoàn toàn độc lập, hoạt động với chức năng đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích cho người lao động tại các doanh nghiệp chứ không phải là tổ chức chính trị - xã hội như tổ chức công đoàn thuộc Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam.

Hai là, trong trường hợp tổ chức đại diện của người lao động không gia nhập Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, thì tổ chức đó có quyền tự chủ trong việc bầu ra đại diện, thông qua điều lệ và nội quy của tổ chức; thu phí hội viên, quản lý tổ chức và tài sản của tổ chức; đối thoại thương lượng tập thể theo quy định của pháp luật; tổ chức và lãnh đạo đình công theo quy định của pháp luật. Để làm được điều này, pháp luật lao động cần quy định cụ thể các nội dung như: Điều kiện, quy trình, thủ tục thành lập tổ chức đại diện của người lao động; ban hành các quy chế, điều lệ, nội quy hoạt động cũng như cách thức quản lý tài chính để đảm bảo cho tổ chức đó hoạt động.

Ba là, quy định người lao động có quyền nhận sự hỗ trợ từ bên ngoài doanh nghiệp để giúp người lao động thành lập tổ chức đại diện của mình (hỗ trợ về phương diện kỹ thuật) là điều kiện rất thuận lợi cho người lao động để thành lập tổ chức đại diện. Tuy nhiên, pháp luật cần quy định rõ tổ chức nào sẽ được phép hỗ trợ người lao động và phạm vi được phép hỗ trợ? Sở dĩ cần quy định như vậy là để tránh tình trạng các tổ chức lợi dụng, kích động tập thể người lao động thành lập tổ chức đại diện với mục đích xấu như phá vỡ mối quan hệ lao động, gây rối an ninh trật tự xã hội...

Bốn là, trong bối cảnh và xu thế hiện nay, thiết nghĩ, việc quy định công đoàn cấp trên cơ sở sẽ là tổ chức đại diện cho người lao động ở những nơi chưa thành lập công đoàn cơ sở là không hợp lý. Trao thẩm quyền cho công đoàn cấp trên là không phù hợp với nguyên tắc tự do công đoàn và khó phát huy hiệu quả trên thực tế, vì công đoàn cấp trên không có mối liên hệ gần gũi với người lao động để nắm bắt tâm tư nguyện vọng của người lao động, mặt khác sự can thiệp của công đoàn cấp trên tạo tâm lý cho người lao động cảm thấy không nhất thiết phải có tổ chức công đoàn trong doanh nghiệp. Do vậy, nên bỏ quy định ở những nơi chưa thành lập tổ chức công đoàn cơ sở, công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở thực hiện trách nhiệm của công đoàn cấp cơ sở tại khoản 3 Điều 188 Bộ luật Lao động năm 2012. Việc xóa bỏ quy định này không ngăn cản công đoàn cấp trên cơ sở đứng ra làm đại diện cho tập thể lao động, vì cán bộ công đoàn cấp trên có thể trở thành đại diện của tập thể lao động nếu người lao động bầu chọn.

Tóm lại, pháp luật Việt Nam hiện hành cần sửa đổi các quy định về tổ chức đại diện của người lao động cho phù hợp với xu hướng chung của quốc tế, để thúc đẩy việc thành lập tổ chức thực sự đại diện cho quyền và lợi ích của tập thể người lao động trong mối quan hệ lao động, góp phần bảo đảm quan hệ lao động phát triển hài hòa, ổn định và bền vững.

ThS. Trần Thị Mai Loan

Đại học Lao động - Xã hội

In bài viết Gửi phản hồi

Các tin khác

Thẩm quyền của Tòa án Việt Nam khi trọng tài nước ngoài giải quyết tranh chấp tại Việt Nam Khung pháp lý về mua lại và sáp nhập Ngân hàng thương mại ở Việt Nam Quản lý nhà nước đối với việc sử dụng đất đô thị và hướng hoàn thiện Một số bất cập của pháp luật cạnh tranh hiện hành Định giá tài sản theo Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự Hoàn thiện các quy định về chế tài trong thương mại theo Luật Thương mại năm 2005 Địa vị pháp lý của Tổ quản lý và thanh lý tài sản theo pháp luật phá sản Những bất cập trong quy định của pháp luật về tranh chấp và giải quyết tranh chấp đất đai

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.

Theo dõi chúng tôi trên: