Thứ bảy 08/08/2026 01:54
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về thành viên độc lập hội đồng quản trị trong công ty đại chúng

Tóm tắt: Bài viết này thể hiện góc nhìn về thành viên độc lập Hội đồng quản trị trong công ty đại chúng, phân tích từ khái niệm, vai trò của thành viên độc lập Hội đồng quản trị cho đến điều kiện, tiêu chuẩn, thực tế thực hiện và các vấn đề khác có liên quan đến thành viên độc lập Hội đồng quản trị tại công ty đại chúng. Qua đó, tác giả đề xuất một số giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về thành viên độc lập Hội đồng quản trị.

Abstract: The article gives a view on independent member of management board in public limited companies and makes an analysis ranging from definition, role of independent member of management board to conditions, standards, practice and other issues relating to independent member of management board in public limited companies. As a result, the author proposes some solutions towards completion of legal provisions on independent member of management board.

Trên thực tế, cụm từ “thành viên Hội đồng quản trị (HĐQT) độc lập” được sử dụng trước đây tại các văn bản quy phạm pháp luật đã được Luật Doanh nghiệp năm 2014 thay thế bằng cụm từ “thành viên độc lập HĐQT”. Về bản chất, việc sử dụng cụm từ “thành viên HĐQT độc lập” có nội hàm đồng nhất với cụm từ “thành viên độc lập HĐQT”. Tuy nhiên, việc đảo cụm từ “độc lập” lên trước cụm từ “HĐQT” không chỉ là thay đổi đơn thuần về mặt từ ngữ mà còn bao gồm hàm ý nhấn mạnh tính “độc lập” đối với HĐQT. Hướng sửa đổi của Luật Doanh nghiệp năm 2014 là thuyết phục và sẽ là cơ sở pháp lý rõ ràng giúp nhận thức một cách đúng đắn, đầy đủ về tính độc lập, vai trò của thành viên độc lập HĐQT trong công ty đại chúng nói riêng và công ty cổ phần nói chung.

Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã ghi nhận một cách chính thống cụm từ “thành viên độc lập HĐQT”, do đó cụm từ “thành viên độc lập HĐQT” cần được sử dụng một cách thống nhất tại các tài liệu, văn bản quy phạm pháp luật. Theo đó, Nghị định của Chính phủ hướng dẫn về quản trị công ty áp dụng đối với công ty đại chúng nên sử dụng thống nhất cụm từ “thành viên độc lập HĐQT” và có quy định rõ ràng, giải thích cụm từ “thành viên độc lập HĐQT” để tạo thuận lợi, tránh cách hiểu khác nhau trong việc vận dụng, áp dụng pháp luật khi thực hiện các quy định mới của pháp luật về quản trị công ty. Nghị định của Chính phủ hướng dẫn về quản trị công ty áp dụng đối với công ty đại chúng nên quy định, làm rõ cụm từ “thành viên độc lập HĐQT” theo hướng xác định: Thành viên độc lập HĐQT là thành viên HĐQT có sự độc lập trong quan hệ nhân thân, tài sản, sở hữu đối với công ty đại chúng và người quản lý, điều hành tại công ty đại chúng.

1. Vai trò của thành viên độc lập Hội đồng quản trị

Các lý thuyết và thông lệ tốt về quản trị công ty đã khẳng định vai trò của thành viên độc lập HĐQT là rất quan trọng đối với chất lượng, hiệu quả hoạt động quản trị công ty trong công ty đại chúng. Theo các thông lệ tốt về quản trị công ty, các thành viên độc lập HĐQT có thể đóng góp vào những quyết định quan trọng của quản trị công ty, đặc biệt là trong việc đánh giá thành tích điều hành, đặt ra mức thù lao đối với cán bộ điều hành và thành viên HĐQT, rà soát báo cáo tài chính và giải quyết mâu thuẫn nội bộ. Các thành viên độc lập HĐQT đem lại cho cổ đông niềm tin rằng những quyết định mà HĐQT đưa ra là vô tư và không thiên vị. Thực tế cho thấy, thành viên HĐQT trong công ty đại chúng chủ yếu là những người của cổ đông lớn, cổ đông chi phối và do đó, các quyết định của HĐQT phần nào đó gắn với lợi ích của những cổ đông này. Thực trạng này thường dẫn đến việc những quyết định được HĐQT đưa ra có thể bỏ qua hoặc xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của các cổ đông nhỏ lẻ, cổ đông thiểu sổ và các chủ thể khác như chủ nợ, người lao động, khách hàng... Trong trường hợp này, thành viên độc lập HĐQT với đặc điểm là những đối tượng độc lập, không có quan hệ về lợi ích hoặc quan hệ nhân thân với những người quản lý, điều hành, những cổ đông lớn, cổ đông chi phối của công ty đại chúng nên những ý kiến, quyết định mà thành viên này đưa ra sẽ đảm bảo tính khách quan và thường hướng đến trước hết là lợi ích chung cho công ty đại chúng, tức là cũng để đảm bảo cho quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể bị ảnh hưởng bởi các quyết định của HĐQT. Theo đó, các ý kiến và quyết định được đưa ra bởi thành viên độc lập HĐQT sẽ nâng cao được tính khách quan trong quá trình làm việc, cũng như quyết nghị cuối cùng của HĐQT, góp phần hài hòa các lợi ích giữa các chủ thể có liên quan. Sự tham gia của thành viên độc lập HĐQT sẽ đảm bảo cho tính minh bạch trong quá trình tổ chức và hoạt động của công ty đại chúng, ngăn ngừa việc che giấu, bưng bít các thông tin liên quan đến tình hình hoạt động của công ty đại chúng, các giao dịch có dấu hiệu tư lợi có khả năng dẫn đến những sai phạm, tổn thất, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của các chủ thể có liên quan. Qua đó, nâng cao hiệu quả hoạt động của HĐQT và cải thiện chất lượng quản trị công ty tại công ty đại chúng.

Chính vì vậy, để có cơ sở xác định rõ ràng vị trí, vai trò của thành viên độc lập HĐQT, nâng cao trách nhiệm, hiệu quả hoạt động của thành viên độc lập HĐQT, Nghị định của Chính phủ hướng dẫn về quản trị công ty áp dụng đối với công ty đại chúng nên có quy định rõ ràng theo hướng:

- Quy định thành viên độc lập HĐQT có vai trò thực hiện chức năng giám sát, kiểm soát hoạt động của HĐQT nhằm nâng cao tính khách quan, minh bạch, hiệu quả và chất lượng các quyết định của HĐQT.

- Quy định thành viên độc lập HĐQT phải trình bày, công bố báo cáo đánh giá của mình tại Đại hội đồng cổ đông về hoạt động của HĐQT.

2. Tiêu chuẩn, điều kiện làm thành viên độc lập Hội đồng quản trị

Xuất phát từ tính chất độc lập khi tham gia HĐQT, bên cạnh việc đáp ứng các tiêu chuẩn, điều kiện chung đối với thành viên HĐQT, thành viên độc lập HĐQT còn phải đáp ứng các tiêu chuẩn, điều kiện riêng để đảm bảo tính độc lập của mình. Các tiêu chuẩn, điều kiện đối với thành viên độc lập HĐQT là yếu tố đầu tiên để khẳng định sự khác biệt của chủ thể này đối với những thành viên còn lại của HĐQT. Vì thế, tại Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định tiêu chuẩn thành viên độc lập HĐQT: (i) Không phải là người đang làm việc cho công ty, công ty con của công ty; không phải là người đã từng làm việc cho công ty, công ty con của công ty ít nhất trong 03 năm liền trước đó; (ii) Không phải là người đang hưởng lương, thù lao từ công ty, trừ các khoản phụ cấp mà thành viên HĐQT được hưởng theo quy định; (iii) Không phải là người có vợ hoặc chồng; cha, mẹ đẻ; cha mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi; anh, chị, em ruột là cổ đông lớn của công ty, là người quản lý của công ty hoặc công ty con của công ty; (iv) Không phải là người trực tiếp hoặc gián tiếp sở hữu ít nhất 1% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết của công ty; (v) Không phải là người đã từng làm thành viên của HĐQT, Ban kiểm soát của công ty ít nhất trong 05 năm liền trước đó. Từ đó, có thể thấy các tiêu chuẩn, điều kiện về tính độc lập đối với thành viên độc lập HĐQT trong công ty đại chúng có thể chia thành 02 nhóm tiêu chuẩn, điều kiện gồm:

Thứ nhất, các tiêu chuẩn, điều kiện đảm bảo tính độc lập về quan hệ tài sản: Đây là nhóm các tiêu chuẩn, điều kiện giúp đảm bảo rằng những quyết định của thành viên độc lập HĐQT không nhằm thu về những khoản lợi ích về tài sản cho chính cá nhân và người liên quan của họ gồm: (i) Không phải là người đang hưởng lương, thù lao thường xuyên của công ty đại chúng ngoài những khoản phụ cấp của thành viên HĐQT được hưởng theo quy định; (ii) Không trực tiếp, gián tiếp sở hữu hoặc đại diện chủ sở hữu từ 1% vốn điều lệ hoặc vốn cổ phần có quyền biểu quyết trở lên của công ty đại chúng; không cùng người có liên quan sở hữu từ 5% vốn điều lệ hoặc vốn cổ phần có quyền biểu quyết trở lên của công ty đại chúng; (iii) Không phải là đối tác hoặc người có liên quan của đối tác có giá trị giao dịch hàng năm với công ty đại chúng chiếm từ 30% trở lên tổng doanh thu hoặc tổng giá trị, hàng hóa dịch vụ mua vào của công ty đại chúng trong 02 năm gần nhất.

Thứ hai, các tiêu chuẩn, điều kiện đảm bảo tính độc lập về quan hệ nhân thân: Đây là nhóm các tiêu chuẩn, điều kiện để đảm bảo thành viên độc lập HĐQT không có bất kỳ mối liên hệ nào với công ty đại chúng (bao gồm cả mối liên hệ với những cá nhân, tổ chức thuộc công ty đại chúng) trong một khoảng thời gian nhất định trước đó, gồm: (i) Không phải là người đang làm việc cho chính công ty đại chúng hoặc công ty con của công ty đại chúng hoặc đã làm việc cho công ty đại chúng hoặc công ty con của công ty đại chúng trong 03 năm liền kề trước đó; (ii) Không phải là người có vợ, chồng, cha, mẹ, anh, chị, em và vợ, chồng của những người này là cổ đông lớn của công ty đại chúng, người quản lý hoặc thành viên Ban kiểm soát của công ty đại chúng hoặc công ty con của công ty đại chúng; (iii) Không phải là người quản lý, thành viên Ban kiểm soát của công ty đại chúng tại bất kỳ thời điểm nào trong 05 năm liền kề trước đó; (iv) Không làm việc tại tổ chức cung cấp dịch vụ tư vấn pháp luật, kiểm toán cho công ty đại chúng trong 02 năm gần nhất.

Khi xem xét Điều lệ và quy chế quản trị, quy định nội bộ của các công ty đại chúng đều có nội dung quy định về tiêu chuẩn, điều kiện đối với thành viên độc lập HĐQT. Tại hầu hết các công ty đại chúng, nội dung quy định về điều kiện, tiêu chuẩn đối với thành viên độc lập HĐQT tương đồng với quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014. Một số công ty đại chúng đã quy định trong Điều lệ và Quy chế quản trị một số tiêu chuẩn, điều kiện đối với thành viên độc lập cao hơn, chặt chẽ hơn so với các quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014.

Tại khoản 2 Điều 151 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định theo hướng mở, cho phép pháp luật về chứng khoán có quy định khác về tiêu chuẩn và điều kiện làm thành viên độc lập HĐQT. Do đó, Nghị định của Chính phủ hướng dẫn về quản trị công ty áp dụng đối với công ty đại chúng với tư cách là một thành phần quan trọng của pháp luật về chứng khoán nên quy định chi tiết một số tiêu chuẩn, điều kiện làm thành viên độc lập HĐQT theo hướng đảm bảo tính khả thi hơn, nhất là trong thời điểm hiện nay khi thị trường lao động cho đối tượng này còn khá hạn chế và chưa có cơ sở đào tạo chuyên nghiệp cho các đối tượng làm thành viên độc lập HĐQT. Trên thực tế, thị trường lao động Việt Nam hiện nay, các đối tượng tham gia làm thành viên độc lập HĐQT tương đối ít (thường là các chuyên gia trong lĩnh vực kinh tế, tài chính). Bởi thế, các tiêu chuẩn, điều kiện làm thành viên độc lập HĐQT nên được thiết kế theo hướng “mềm dẻo” hơn, mở rộng các đối tượng tham gia làm thành viên độc lập HĐQT nhưng vẫn phải bảo đảm nguyên tắc bên cạnh việc đáp ứng các tiêu chuẩn, điều kiện của một thành viên HĐQT nói chung, các đối tượng tham gia làm thành viên độc lập HĐQT còn phải đáp ứng các tiêu chuẩn, điều kiện riêng để bảo đảm tính độc lập của mình.

3. Quyền và nghĩa vụ của thành viên độc lập Hội đồng quản trị

Luật Doanh nghiệp năm 2014 và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn có liên quan đều quy định về quyền, nghĩa vụ của thành viên HĐQT. Tuy nhiên, các văn bản quy phạm pháp luật này không có bất kỳ quy định nào riêng về quyền, nghĩa vụ của thành viên độc lập HĐQT, không có quy định thể hiện sự khác biệt về quyền, nghĩa vụ giữa thành viên độc lập và các thành viên khác của HĐQT. Mặc dù các quy định pháp luật hiện hành trao cho công ty đại chúng quyền được quy định trong Điều lệ những nội dung về quyền, nghĩa vụ của HĐQT và thành viên HĐQT đảm bảo phù hợp với các quy định pháp luật và thực tiễn quản trị nội bộ, bao gồm cả việc quy định về quyền, nghĩa vụ của thành viên độc lập HĐQT. Nhưng khi rà soát, xem xét một số Điều lệ của công ty đại chúng cho thấy, không có nội dung quy định về quyền, nghĩa vụ của thành viên độc lập HĐQT. Chính vì vậy, sự tham gia của thành viên độc lập HĐQT trong công ty đại chúng nói chung còn mang tính hình thức, chưa thể hiện được vai trò độc lập của mình như các lý thuyết và thông lệ tốt về quản trị công ty đã thừa nhận.

Việc thiếu vắng những quy định này có thể dẫn đến những hệ lụy ảnh hưởng đến nhận thức về vai trò, cũng như hiệu quả hoạt động của thành viên độc lập HĐQT trong cơ cấu quản trị của công ty đại chúng. Từ đó, có thể thấy việc có những quy định riêng về quyền và nghĩa vụ của thành viên độc lập HĐQT là thực sự cần thiết, có ý nghĩa về nhiều mặt như thay đổi nhận thức, hiểu biết của các chủ thể về vai trò của thành viên độc lập HĐQT; nâng cao hiệu quả hoạt động thực tế của thành viên độc lập HĐQT đối với hiệu quả hoạt động quản trị công ty trong công ty đại chúng. Do vậy, Nghị định của Chính phủ hướng dẫn về quản trị công ty áp dụng đối với công ty đại chúng nên bổ sung các nội dung mang tính nguyên tắc chung (các công ty đại chúng cần cụ thể và chi tiết hóa trong các văn bản quy định, quy chế quản trị nội bộ) về quyền và nghĩa vụ của thành viên độc lập HĐQT (ngoài các quyền và nghĩa vụ được quy định chung cho tất cả các thành viên HĐQT), đặc biệt là các quyền của thành viên độc lập HĐQT trong các vấn đề sau:

- Giám sát hoạt động công bố thông tin của công ty đại chúng theo quy định của pháp luật và đảm bảo về tính kịp thời, chính xác của các thông tin được công bố.

- Tham gia vào quá trình xây dựng cơ chế chi trả thù lao cho các thành viên HĐQT, Ban kiểm soát và Ban Giám đốc của công ty đại chúng thông qua việc tham gia vào ủy ban về lương thưởng (khuyến nghị của các thông lệ tốt về quản trị công ty là thành viên độc lập nên là chủ tịch của ủy ban này).

- Giám sát hoạt động của người quản lý, điều hành tại công ty đại chúng trong việc quyết định các vấn đề liên quan đến giao dịch của những người này và người có liên quan với công ty đại chúng; quyết định phân bổ lợi nhuận của công ty đại chúng...

Có thể thấy, việc quy định đặc thù về quyền và nghĩa vụ của thành viên độc lập HĐQT là cơ sở pháp lý quan trọng để đảm bảo cho các thành viên này thể hiện được vai trò của mình trong hoạt động quản trị công ty tại công ty đại chúng, góp phần đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các cổ đông, sự phát triển ổn định của công ty đại chúng.

4. Thù lao của thành viên độc lập Hội đồng quản trị

Theo quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2014, Điều lệ của công ty đại chúng phải có nội dung quy định về căn cứ và phương pháp xác định thù lao, tiền lương và thưởng cho thành viên HĐQT. Các quy định pháp luật hiện hành không trực tiếp quy định về thù lao của thành viên độc lập HĐQT và yêu cầu các công ty đại chúng phải cụ thể hóa nội dung này trong Điều lệ hoặc quy chế nội bộ của mình. Theo đó, vấn đề thù lao của các thành viên HĐQT nói chung, của thành viên độc lập HĐQT do chính các công ty đại chúng xác định trên cơ sở tuân thủ các quy định mang tính nguyên tắc chung phù hợp với quy định của pháp luật.

Vấn đề lương thưởng, thù lao của các thành viên HĐQT là một trong những vấn đề gây tranh luận nhất trong lĩnh vực quản trị công ty, vì vậy các công ty nên lựa chọn một giải pháp thận trọng và cảnh giác trong vấn đề này. Những định mức thù lao quá cao thường được xem là đặc ân của quyền lực và một sự bất công bằng. Vì vậy, điều quan trọng nhất là định mức thù lao của thành viên HĐQT phải mang tính cạnh tranh, nhưng phải nằm trong giới hạn hợp lý. Cần phải có sự phân biệt giữa thành viên độc lập HĐQT, thành viên điều hành và không điều hành. Thông thường, các thành viên HĐQT điều hành không nhận thêm những khoản thù lao cho công việc của họ trong HĐQT. Các gói lương thưởng cho công tác điều hành của họ được xem là đã bao gồm cả thù lao cho công việc của họ trong HĐQT. Trái lại, các thành viên độc lập HĐQT và thành viên không điều hành cần được trả thù lao. Hình thức trả thù lao thông thường nhất cho các thành viên HĐQT không điều hành là tiền lương.

Các quy định pháp luật hiện hành không bắt buộc công ty đại chúng phải quy định riêng về vấn đề thù lao của thành viên độc lập HĐQT mà trao quyền tự chủ cho công ty đại chúng. Tuy nhiên, qua rà soát một số Điều lệ và các quy định quản trị nội bộ của công ty đại chúng lại không có bất kỳ quy định nào cụ thể hóa, chi tiết hóa việc xác định và chi trả các khoản thù lao riêng đối với thành viên độc lập HĐQT mà chỉ quy định mang tính chất “sao chép” nội dung của các quy định pháp luật như: Đại hội đồng cổ đông quyết định mức thù lao của HĐQT, bao gồm cả thù lao của thành viên độc lập HĐQT (trên cơ sở đề xuất của HĐQT). Trên thực tế, các thông tin về chi trả thù lao cho thành viên độc lập HĐQT hầu như rất khó để tiếp cận. Đại hội đồng cổ đông thường niên của công ty đại chúng đều thông qua một định mức thù lao chung cho HĐQT (theo đề xuất của HĐQT) và việc phân bổ khoản thù lao này thuộc về thẩm quyền của HĐQT. Điều này có nghĩa là thù lao của các thành viên độc lập HĐQT sẽ được quyết định thông qua biểu quyết tại cuộc họp của HĐQT (theo đa số) và các thành viên điều hành, không độc lập chiếm đa số sẽ định đoạt khoản thù lao đối với thành viên độc lập - vốn là thiểu số trong cơ cấu HĐQT.

Do vậy, Nghị định của Chính phủ hướng dẫn về quản trị công ty áp dụng đối với công ty đại chúng nên bổ sung các quy định pháp luật về thù lao đối với thành viên độc lập HĐQT theo hướng yêu cầu các quy định nội bộ của công ty đại chúng phải thiết lập một quy chế riêng về thù lao của HĐQT, trong đó có sự phân biệt về thù lao của thành viên độc lập HĐQT, thành viên điều hành và thành viên không điều hành.

ThS. Lê Trọng Dũng

Ngân hàng TMCP Ngoại thương

Tài liệu tham khảo:

[1]. Ngân hàng Thế giới (2006), Báo cáo về tình hình tuân thủ chuẩn mực và nguyên tắc quản trị công ty, Hà Nội.

[2]. Tổ chức Tài chính Quốc tế (2010), Cẩm nang quản trị công ty, Nxb. Nông Nghiệp, Hà Nội.

[3]. Đỗ Ngọc Thanh (2016), Bàn về thành viên hội đồng quản trị độc lập của công ty cổ phần, Tạp chí Nghiên cứu Tài chính kế toán, số tháng 6/2016.

[4]. Nguyễn Hồng Ngọ (2016), Quy chế pháp lý của thành viên Hội đồng quản trị độc lập trong ngân hàng thương mại cổ phần, Luận văn Thạc sĩ luật học tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

[5]. Bộ Tài chính (2016), Tờ trình về việc ban hành Nghị định quy định về quản trị công ty áp dụng đối với công ty đại chúng, Hà Nội.

[6]. Bộ Tài chính (2016), Báo cáo đánh giá tác động của Dự thảo Nghị định quy định về quản trị công ty áp dụng đối với công ty đại chúng, Hà Nội.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Tóm tắt: Pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập là một bộ phận của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật, có vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên cơ sở làm rõ khái niệm, đặc trưng và các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện, nghiên cứu phân tích thực trạng pháp luật hiện hành, chỉ ra những kết quả đạt được và các hạn chế. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Trong đợt tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật năm 2026 - một nhiệm vụ trọng yếu được triển khai theo Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới - nguyên tắc “6 rõ” đã được xác lập như một chuẩn mực kỹ thuật và quản trị cốt lõi. Nội dung của nguyên tắc này bao gồm: rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền và rõ kết quả.
Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Ngày 30/7 hằng năm được Đại hội đồng Liên hợp quốc chọn là Ngày Thế giới phòng, chống mua bán người (World Day Against Trafficking in Persons) nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về những hậu quả nghiêm trọng của tội phạm mua bán người, đồng thời kêu gọi các quốc gia tăng cường hợp tác, triển khai các giải pháp phòng ngừa, đấu tranh và bảo vệ nạn nhân.
"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

Ngày 23/3/2026, Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội đã ban hành Chỉ thị số 09-CT/TU về nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi công vụ; siết chặt kỷ luật, kỷ cương và trách nhiệm của cán bộ, nhất là người đứng đầu trong giai đoạn phát triển mới của Thủ đô Hà Nội (Chỉ thị số 09-CT/TU). Theo đó, Thành phố xác định rõ việc định vị hình ảnh và giá trị cốt lõi của Thủ đô với 09 đặc trưng "Thủ đô văn hiến - kết nối toàn cầu - thanh lịch, hào hoa - phát triển hài hòa - thanh bình, thịnh vượng - chính quyền phục vụ - doanh nghiệp cống hiến - xã hội niềm tin - người dân hạnh phúc", lấy "Văn hiến - bản sắc - sáng tạo" làm trục giá trị xuyên suốt.
Nhiều điểm mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Nhiều điểm mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng gắn với kiểm soát quyền lực nhà nước trong hoạt động giám sát, góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 được thông qua trên cơ sở kế thừa, bổ sung nhiều quy định mới về nguyên tắc định hướng, chủ thể giám sát, nội dung và quy trình để hoạt động giám sát đạt hiệu quả, chất lượng. Việc gắn kết giữa hoạt động giám sát với việc hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương có tính chất tương hỗ để hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Việc Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội thông qua cơ chế đặc thù về đầu tư, phát triển nhà ở cho thuê được xem là bước đi mới trong thực hiện Luật Thủ đô năm 2026. Với nhiều ưu đãi về đất đai, thủ tục đầu tư và cơ chế khai thác dự án, chính sách này không chỉ tạo động lực thu hút doanh nghiệp tham gia phát triển nhà ở cho thuê mà còn góp phần mở rộng nguồn cung nhà ở, bảo đảm an sinh xã hội và thúc đẩy phát triển đô thị bền vững.

Theo dõi chúng tôi trên: