Từ khóa: quyền tiếp cận thông tin; hoàn thiện pháp luật; giám sát, phản biện xã hội; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; chuyển đổi số; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Đặt vấn đề
Quyền tiếp cận thông tin của công dân là cơ sở thực hiện và bảo vệ quyền con người, quyền công dân khác, đây là minh chứng cho trình độ phát triển của Nhà nước pháp quyền[1]. Quyền này được quy định tại Điều 25 Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013), không chỉ bảo đảm tự do cá nhân, mà còn là công cụ để Nhân dân thực hiện quyền làm chủ, tham gia giám sát, phản biện xã hội và kiểm soát quyền lực nhà nước. Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng, góp phần thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát triển Chính phủ số và thực hiện Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới (Nghị quyết số 27-NQ/TW), pháp luật về tiếp cận thông tin bộc lộ một số hạn chế, nhất là trong gắn kết với cơ chế giám sát và phản biện xã hội. Đồng thời, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong lĩnh vực này chưa được phát huy đầy đủ. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích pháp luật về tiếp cận thông tin từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, qua đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật gắn với việc phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
1. Đánh giá pháp luật tiếp cận thông tin hiện hành và vai trò tham gia của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Để làm rõ những vấn đề bảo đảm quyền tiếp cận thông tin gắn với cơ chế giám sát và phản biện xã hội, cần phải đánh giá một cách toàn diện pháp luật hiện hành, đồng thời, xem xét vai trò tham gia của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong lĩnh vực này.
1.1. Thực trạng và những hạn chế của pháp luật tiếp cận thông tin hiện hành
Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã thể chế hóa đầy đủ nguyên tắc tiếp cận thông tin theo Hiến pháp năm 2013, với hai hình thức cốt lõi: (i) chủ động công khai thông tin phục vụ quản lý nhà nước và lợi ích công cộng (từ Điều 7 đến Điều 9); (ii) cung cấp thông tin theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức (từ Điều 18 đến Điều 25). Như vậy, Luật đã xác lập nghĩa vụ chủ động công khai của cơ quan nhà nước; mở rộng phạm vi thông tin bao quát tài chính công, ngân sách nhà nước, đầu tư công, bảo vệ môi trường, quy hoạch đô thị; quy định thời hạn cung cấp thông tin ngắn gọn (15 ngày, có thể gia hạn tối đa 15 ngày); nguyên tắc hạn chế quyền chỉ áp dụng khi thực sự cần thiết vì an ninh quốc gia, bí mật nhà nước, bí mật cá nhân, bí mật kinh doanh (Điều 10). Những quy định này đã tạo khung pháp lý cơ bản, góp phần nâng cao mức độ minh bạch trong hoạt động của bộ máy nhà nước trong giai đoạn đầu triển khai.
Tuy nhiên, qua hơn 08 năm thi hành, pháp luật về tiếp cận thông tin đã bộc lộ một số hạn chế, dẫn đến khoảng trống giữa quy định pháp luật và hiệu quả thực tiễn.
Thứ nhất, về nội dung quy định, các điều khoản của pháp luật về tiếp cận thông tin chủ yếu mang tính nguyên tắc, thiếu cụ thể nên khó khăn trong triển khai thi hành trên thực tế. Điều 7 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 chỉ liệt kê khái quát các nhóm thông tin phải chủ động công khai như tài chính công, ngân sách nhà nước, đầu tư công, nhưng chưa phân định theo từng cấp hành chính. Việc thiếu các quy định chi tiết, như ngân sách cấp xã/phường, quy hoạch sử dụng đất cấp thôn/xóm… tạo khoảng trống trong tổ chức thực hiện. Hệ quả, các cơ quan nhà nước có xu hướng diễn giải quy định theo hướng thu hẹp phạm vi công khai, dẫn đến tình trạng né tránh hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ cung cấp thông tin. Pháp luật về tiếp cận thông tin ở Việt Nam vẫn mang nặng tính nguyên tắc, thiếu cơ chế bảo đảm thực thi hiệu quả và chưa gắn chặt với trách nhiệm giải trình của cơ quan công quyền[2]. Mặt khác, việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin trong bối cảnh chuyển đổi số gặp nhiều khó khăn do hạn chế về thể chế, cơ chế thực thi và thiếu các tiêu chí định lượng cụ thể về mức độ công khai, minh bạch thông tin[3].
Thứ hai, hệ thống chế tài xử lý vi phạm trong thực thi pháp luật về tiếp cận thông tin chưa đủ sức răn đe và thiếu tính đồng bộ. Các quy định liên quan đến xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực này phân tán ở nhiều văn bản pháp luật, với mức xử phạt chưa tương xứng với tính chất và mức độ vi phạm, đồng thời, chưa thiết lập cơ chế trách nhiệm giải trình hiệu quả. Thực tiễn cho thấy, tình trạng chậm trễ hoặc từ chối cung cấp thông tin không đầy đủ vẫn diễn ra ở nhiều cơ quan, đơn vị, trong khi việc xử lý vi phạm còn hạn chế. Báo cáo Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI) năm 2024 được thực hiện đối với 18.894 người dân trên toàn quốc cho thấy, mức độ minh bạch và trách nhiệm giải trình của chính quyền địa phương tuy có cải thiện nhưng chưa đồng đều, trong đó, tồn tại khoảng cách giữa các địa phương và giữa các nhóm dân cư trong tiếp cận thông tin công. Điều này phản ánh những hạn chế trong hiệu lực thực thi và cơ chế bảo đảm tuân thủ pháp luật về công khai, minh bạch thông tin. Những bất cập trên cho thấy, tư duy “cung cấp thông tin khi có yêu cầu” còn phổ biến, thay vì coi công khai chủ động là nguyên tắc vận hành thường xuyên của bộ máy hành chính.
Thứ ba, hiện, pháp luật về tiếp cận thông tin chưa kịp thời thích ứng với bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và sự phát triển của Chính phủ số. Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 thiếu các quy định cụ thể về dữ liệu mở, tiêu chuẩn kỹ thuật liên thông và sự gắn kết với pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân, trong khi mức độ sẵn sàng hạ tầng và khả năng chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan chưa đồng đều. Đặc biệt, pháp luật hiện chưa làm rõ mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và quyền bảo vệ dữ liệu cá nhân, đây là hai quyền có tính bổ trợ nhưng cũng tiềm ẩn xung đột trong môi trường số. Việc thiếu các tiêu chí pháp lý cụ thể để phân định ranh giới giữa thông tin phải công khai và thông tin cần bảo vệ dẫn đến thực tiễn một số cơ quan có xu hướng viện dẫn lý do bảo vệ dữ liệu cá nhân để hạn chế cung cấp thông tin, làm suy giảm tính minh bạch và hiệu quả thực thi quyền tiếp cận thông tin. Bên cạnh đó, các rủi ro về an toàn thông tin ngày càng gia tăng và diễn biến phức tạp. Năm 2025, ghi nhận khoảng 552.000 cuộc tấn công mạng, trong đó, hơn 300.000 cuộc xảy ra trong 06 tháng đầu năm[4]. Dù số vụ có xu hướng giảm, tỷ lệ cơ quan, doanh nghiệp bị ảnh hưởng vẫn ở mức cao (trên 50%), cho thấy các hình thức tấn công ngày càng tinh vi và đặt ra thách thức lớn đối với việc bảo đảm an toàn dữ liệu và quyền tiếp cận thông tin. Những hạn chế này cho thấy, yêu cầu cấp thiết phải thiết lập cơ chế pháp lý rõ ràng nhằm cân bằng giữa quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân, làm cơ sở cho việc xác định phạm vi và mức độ tiếp cận dữ liệu trong hoạt động giám sát xã hội.
Thứ tư, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong cung cấp thông tin chưa được quy định chặt chẽ, dẫn đến tình trạng đùn đẩy trách nhiệm khi công dân yêu cầu thông tin liên ngành. Thực tiễn công tác quản lý và giải quyết khiếu nại, kiến nghị cho thấy, sự chậm trễ trong phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền là một trong những nguyên nhân chính làm giảm hiệu quả cung cấp thông tin cho người dân. Báo cáo Chỉ số hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước (SIPAS) năm 2024 cho thấy, mức độ hài lòng chung đạt 83,94%, tuy nhiên, còn gần 16% người dân chưa hài lòng đối với quá trình giải quyết thủ tục hành chính, đặc biệt, ở các khâu liên quan đến thời gian xử lý và cung cấp thông tin trong quá trình giải quyết hồ sơ[5]. Kết quả này cho thấy, những hạn chế trong phối hợp liên thông giữa các cơ quan nhà nước, nhất là đối với các thủ tục liên ngành, từ đó, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả cung cấp thông tin và bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân.
Có thể thấy, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã có những bước tiến trong thể chế hóa quyền hiến định, nhưng còn tồn tại khoảng cách giữa quy định pháp luật và hiệu quả thực thi trên thực tế. Việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin trên thực tế còn bất cập, hạn chế như việc công khai thông tin chưa thực hiện đầy đủ, một số thông tin cần phải công khai chưa được các cơ quan nhà nước công khai hoặc công khai chưa kịp thời[6]. Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này là đa số các quy định của pháp luật về công khai, minh bạch các hoạt động của cơ quan nhà nước theo yêu cầu của công dân mới chỉ dừng ở mức độ có tính chất nguyên tắc, thiếu cụ thể, thiếu chế tài đủ mạnh nên cơ quan nhà nước có thể trốn tránh nghĩa vụ của mình mà không bị xử lý[7]. Qua đó cho thấy, pháp luật hiện chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu về minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay.
1.2. Vai trò tham gia của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Hiến pháp năm 2013 xác định Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân. Đây là sự khẳng định mạnh mẽ về vai trò rất quan trọng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; chăm lo đời sống đoàn viên, hội viên; thực hiện dân chủ và xây dựng xã hội lành mạnh; tham gia xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước[8]. Trong lĩnh vực tiếp cận thông tin, vai trò này được thể hiện trên một số phương diện chính sau:
Thứ nhất, về cơ sở pháp lý và chức năng tham gia.
Chức năng giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được quy định tại Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2022, 2025) và các văn bản của Bộ Chính trị[9]. Theo đó, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện giám sát việc ban hành và thực thi các chủ trương, chính sách, pháp luật liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, tham gia phản biện đối với các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.
Thứ hai, về nội dung tham gia.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện giám sát việc thực thi chủ trương, chính sách, pháp luật liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của Nhân dân thông qua các hình thức như nghiên cứu văn bản, tổ chức đoàn giám sát, hoạt động của ban thanh tra nhân dân, ban giám sát đầu tư của cộng đồng và phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền, đồng thời, tiếp nhận thông tin từ đơn thư và phản ánh của báo chí. Bên cạnh đó, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện phản biện xã hội đối với các dự thảo văn bản trên các phương diện về sự cần thiết, tính hợp hiến, hợp pháp, tính khoa học, thực tiễn và khả thi, thông qua hội nghị phản biện, lấy ý kiến hoặc đối thoại trực tiếp[10].
Thứ ba, về kết quả tham gia trong thực tiễn.
Những năm gần đây, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã có những đóng góp nhất định trong bảo đảm quyền tiếp cận thông tin. Ở cấp trung ương, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia phản biện xã hội đối với nhiều dự thảo văn bản quan trọng, như góp ý các văn kiện trình Đại hội lần thứ XIV của Đảng, hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã tổng hợp hơn 527.700 ý kiến đóng góp từ các tầng lớp Nhân dân. Ở cấp địa phương, hoạt động giám sát, phản biện xã hội tiếp tục được mở rộng về phạm vi và quy mô. Việc triển khai các nền tảng số trong hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã kết nối tới 34 tỉnh, thành phố và 3.321 xã, phường, đặc khu, góp phần tăng cường khả năng tiếp nhận, phản ánh và công khai thông tin từ cơ sở. Bên cạnh đó, thông qua các hoạt động giám sát chuyên đề và giám sát thường xuyên, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã phát hiện, kiến nghị xử lý nhiều vấn đề trong quản lý nhà nước; báo cáo giám sát gửi Quốc hội cho thấy, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã tiến hành nhiều cuộc giám sát, phản biện xã hội trên nhiều lĩnh vực được cử tri quan tâm. Những hoạt động này bước đầu góp phần nâng cao trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong thực hiện nghĩa vụ công khai, minh bạch thông tin.
Thứ tư, về những hạn chế, bất cập.
Bên cạnh kết quả đạt được, vai trò tham gia của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong lĩnh vực tiếp cận thông tin còn một số hạn chế cần được khắc phục như:
- Chưa có cơ chế pháp lý đặc thù để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện quyền yêu cầu cung cấp thông tin độc lập phục vụ hoạt động giám sát và phản biện xã hội. Trên thực tế, việc tiếp cận thông tin của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp phụ thuộc vào sự chủ động của các cơ quan nhà nước, ảnh hưởng đến tính kịp thời và hiệu quả của hoạt động giám sát.
- Hoạt động giám sát trong lĩnh vực tiếp cận thông tin mang tính định tính, thiếu các tiêu chí đánh giá cụ thể và hệ thống chỉ số đo lường hiệu quả thực thi, dẫn đến khó khăn trong theo dõi, đánh giá và nâng cao chất lượng kiến nghị giám sát.
- Việc ứng dụng công nghệ số trong hoạt động giám sát, tổng hợp và phân tích dữ liệu thông tin công khai của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam còn hạn chế, trong khi xu hướng số hóa thông tin trong hoạt động quản lý nhà nước ngày càng gia tăng. Điều này làm giảm khả năng phát hiện kịp thời những bất cập, sai sót trong công khai và cung cấp thông tin.
- Trong bối cảnh chuyển đổi số, hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đặt ra vấn đề về mức độ tiếp cận dữ liệu, đặc biệt, giữa dữ liệu thô và dữ liệu đã qua xử lý, tổng hợp. Tuy nhiên, hiện, pháp luật chưa có tiêu chí và cơ chế phân định rõ ràng giữa các mức độ tiếp cận này, dẫn đến hạn chế hiệu quả giám sát và tiềm ẩn rủi ro trong bảo vệ dữ liệu cá nhân và an toàn thông tin.
- Vai trò phản biện xã hội đối với các quy định liên quan đến giới hạn quyền tiếp cận thông tin chưa được phát huy đầy đủ, nhất là trong kiểm soát việc áp dụng các căn cứ hạn chế quyền như bí mật nhà nước, an ninh quốc gia trong thực tiễn. Nhiều nghiên cứu chỉ ra, cơ chế giám sát xã hội ở Việt Nam còn thiếu công cụ pháp lý đủ mạnh để bảo đảm hiệu quả thực thi[11].
Dù có lợi thế về mạng lưới rộng khắp và là cầu nối giữa Nhân dân với Nhà nước, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong lĩnh vực tiếp cận thông tin chưa được phát huy tương xứng. Điều này đặt ra yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp lý và đổi mới cơ chế thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả giám sát, phản biện xã hội. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam không chỉ là chủ thể tham gia, mà còn là thiết chế kiểm soát quyền lực mang tính xã hội, do đó, cần được bảo đảm thẩm quyền, trách nhiệm và cơ chế thực hiện rõ ràng trong pháp luật về tiếp cận thông tin.
2. Bối cảnh và những vấn đề đặt ra đối với việc hoàn thiện pháp luật tiếp cận thông tin trong giai đoạn mới
Trong bối cảnh phát triển mới, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin của Việt Nam không chỉ xuất phát từ những hạn chế nội tại của hệ thống pháp luật hiện hành, mà còn chịu tác động mạnh mẽ từ các yếu tố kinh tế - xã hội, công nghệ và yêu cầu nâng cao hiệu quả kiểm soát quyền lực nhà nước.
2.1. Bối cảnh mới đặt ra yêu cầu hoàn thiện pháp luật tiếp cận thông tin
Theo nhiều nghiên cứu, chuyển đổi số không chỉ là quá trình ứng dụng công nghệ, mà còn đòi hỏi tái cấu trúc thể chế, trong đó, pháp luật về tiếp cận thông tin phải chuyển từ mô hình quản lý hành chính truyền thống sang mô hình quản trị dữ liệu số[12]. Giai đoạn 2026 - 2030, đánh dấu bước chuyển đổi quan trọng trong chiến lược phát triển đất nước với ba động lực cốt lõi: chuyển đổi số quốc gia toàn diện, tinh gọn bộ máy nhà nước và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo Nghị quyết số 27-NQ/TW. Những yếu tố này tạo ra bối cảnh mới với những yêu cầu đột phá đòi hỏi phải hoàn thiện đồng bộ cả về thể chế lẫn cơ chế thực thi đối với pháp luật tiếp cận thông tin.
Thứ nhất, chuyển đổi số quốc gia tạo ra yêu cầu tái cấu trúc pháp luật tiếp cận thông tin theo hướng số hóa toàn diện. Các nghị quyết của Đảng xác định dữ liệu số là hạ tầng cốt lõi của Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số. Trên cơ sở đó, các chiến lược quốc gia đặt mục tiêu phát triển dữ liệu mở và cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình. Thực tiễn cho thấy, Cổng dữ liệu quốc gia đã được vận hành và mở rộng, góp phần nâng cao minh bạch và khả năng tiếp cận thông tin. Các nghiên cứu quốc tế khẳng định, dữ liệu mở là nền tảng thúc đẩy minh bạch và đổi mới sáng tạo trong khu vực công[13]. Tuy nhiên, mức độ liên thông và chia sẻ dữ liệu còn hạn chế, nhiều dữ liệu công chưa được chuẩn hóa. Do đó, pháp luật tiếp cận thông tin cần chuyển từ mô hình “giấy tờ - công khai tại trụ sở” sang “dữ liệu số - công khai theo thời gian thực”, gắn với tiêu chuẩn dữ liệu mở, API và liên thông hệ thống.
Thứ hai, việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy nhà nước đang làm thay đổi căn bản chủ thể và phạm vi cung cấp thông tin. Quá trình này không chỉ làm thay đổi trách nhiệm cung cấp thông tin, mà còn phát sinh khoảng trống trong giai đoạn chuyển tiếp, đặc biệt, đối với dữ liệu về quy hoạch, ngân sách và đầu tư công. Do đó, pháp luật tiếp cận thông tin cần quy định rõ trách nhiệm công khai thông tin lịch sử, cơ chế kế thừa nghĩa vụ và yêu cầu liên thông dữ liệu giữa các cơ quan.
Thứ ba, các thách thức toàn cầu và khu vực làm gia tăng yêu cầu công khai thông tin kịp thời, chính xác. Những biến động như biến đổi khí hậu, cạnh tranh địa chính trị, đặc biệt là các xung đột quốc tế cho thấy vai trò then chốt của thông tin chính thống trong quản trị khủng hoảng và định hướng dư luận xã hội. Trong bối cảnh thông tin đa chiều, xuyên biên giới, việc chậm công khai thông tin có thể làm gia tăng tin giả và hiểu sai chính sách. Vì vậy, pháp luật về tiếp cận thông tin cần hoàn thiện theo hướng ưu tiên công khai thông tin trong tình huống khẩn cấp, thiết lập cơ chế cảnh báo, xử lý thông tin sai lệch và tăng cường phối hợp trong chia sẻ dữ liệu.
Thứ tư, quan điểm nhất quán của Đảng xác định quyền tiếp cận thông tin là trụ cột của dân chủ thực chất và kiểm soát quyền lực. Nghị quyết số 27-NQ/TW tiếp tục khẳng định vai trò trung tâm của quyền này trong cơ chế giám sát của Nhân dân. Trên cơ sở đó, Nghị quyết số 25/NQ-CP ngày 12/02/2026 của Chính phủ về dự án Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) xác định việc sửa đổi Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là nhiệm vụ lập pháp trọng tâm nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền.
2.2. Những vấn đề trọng tâm cần hoàn thiện pháp luật tiếp cận thông tin
Từ những hạn chế, bất cập và bối cảnh trên cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật tiếp cận thông tin trong giai đoạn mới phải tập trung vào một số vấn đề sau:
Một là, bảo đảm tính thực chất của quyền tiếp cận thông tin - chuyển từ “quyền trên văn bản” sang “quyền được thực hiện trong thực tiễn”. Cần khắc phục tình trạng quyền được ghi nhận đầy đủ nhưng thực thi còn hình thức, thiếu hiệu quả. Theo Nghị quyết số 27-NQ/TW, quyền con người phải được bảo đảm trên thực tế. Do đó, cần chuyển từ cơ chế “cung cấp theo yêu cầu” sang “công khai chủ động” như nguyên tắc vận hành thường xuyên; đồng thời, hoàn thiện danh mục thông tin bắt buộc công khai, quy định rõ thời hạn, hình thức và trách nhiệm, gắn với chế tài đủ mạnh.
Hai là, pháp luật về tiếp cận thông tin phải thích ứng với môi trường chuyển đổi số hiện nay. Các nghiên cứu chỉ ra, chuyển đổi số đòi hỏi phải hoàn thiện khung pháp lý về dữ liệu, bảo đảm tính minh bạch và khả năng tiếp cận thông tin trong môi trường số[14]. Vì vậy, cần xây dựng khuôn khổ pháp lý về tiếp cận thông tin số, gồm chuẩn hóa dữ liệu mở, tăng cường liên thông hệ thống, bảo đảm an toàn thông tin và thu hẹp khoảng cách số, đặc biệt đối với các nhóm yếu thế.
Ba là, gắn quyền tiếp cận thông tin với cơ chế giám sát xã hội và kiểm soát quyền lực. Pháp luật cần thiết lập mối liên hệ chặt chẽ giữa công khai thông tin với trách nhiệm giải trình và hoạt động giám sát, phản biện xã hội. Theo đó, cần mở rộng quyền tiếp cận thông tin của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên; đồng thời, hoàn thiện cơ chế yêu cầu, cung cấp và giải trình khi từ chối cung cấp thông tin.
Bốn là, hoàn thiện cơ chế pháp lý đặc thù đối với vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Với vị trí quan trọng trong hệ thống chính trị, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cần được tăng thẩm quyền tiếp cận và yêu cầu cung cấp thông tin. Pháp luật cần quy định rõ trách nhiệm của cơ quan nhà nước và bảo đảm điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện hiệu quả chức năng giám sát, phản biện xã hội.
Năm là, làm rõ ranh giới giữa quyền tiếp cận thông tin và quyền bảo vệ dữ liệu cá nhân trong môi trường số. Trong môi trường số, quyền tiếp cận thông tin ngày càng gắn với khai thác dữ liệu, trong khi quyền bảo vệ dữ liệu cá nhân cần được bảo đảm. Việc thiếu tiêu chí pháp lý rõ ràng dẫn đến áp dụng chưa thống nhất, thậm chí thu hẹp quyền tiếp cận thông tin. Do đó, cần thiết lập nguyên tắc cân bằng giữa minh bạch và quyền riêng tư, đồng thời, xây dựng cơ chế phân loại và kiểm soát dữ liệu theo mục đích và chủ thể tiếp cận. Nhiều nghiên cứu pháp lý gần đây đã nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện khung pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân cùng với bảo đảm quyền tiếp cận thông tin nhằm tránh xung đột trong thực tiễn áp dụng[15].
Từ những phân tích trên cho thấy, nếu không giải quyết đồng bộ các vấn đề này, pháp luật về tiếp cận thông tin khó phát huy hiệu quả trong thực tiễn, dễ trở thành hình thức, ảnh hưởng đến tính minh bạch của bộ máy nhà nước và niềm tin xã hội, qua đó, tác động tiêu cực đến mục tiêu phát triển bền vững. Xét về bản chất, bảo đảm quyền tiếp cận thông tin không chỉ mở rộng quyền của người dân, mà còn thiết lập cơ chế kiểm soát quyền lực hiệu quả từ phía xã hội, trong đó, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò trung tâm kết nối giữa Nhà nước và Nhân dân.
3. Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin từ góc độ phát huy vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Từ góc độ lý luận về kiểm soát quyền lực và quản trị công hiện đại, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin cần được tiếp cận như một cơ chế kết hợp giữa minh bạch hóa và giám sát xã hội. Trên cơ sở những hạn chế về thể chế, cơ chế thực thi và vai trò giám sát xã hội đã được phân tích, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin trong giai đoạn hiện nay cần được tiếp cận theo hướng đồng bộ, bảo đảm tính khả thi và tăng cường kiểm soát quyền lực từ phía xã hội, trong đó, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng.
Thứ nhất, làm rõ vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong bảo đảm quyền tiếp cận thông tin.
Thực tiễn cho thấy, cơ chế giám sát xã hội đối với thực thi quyền tiếp cận thông tin chưa được xác lập đầy đủ, dẫn đến khoảng cách giữa quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng. Do đó, pháp luật cần làm rõ vị trí của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam không chỉ với tư cách là chủ thể tham gia, mà là thiết chế giám sát xã hội đối với việc công khai, cung cấp thông tin và áp dụng các giới hạn quyền. Việc xác định rõ vai trò này là cơ sở để bảo đảm quyền tiếp cận thông tin được thực hiện thực chất, gắn với kiểm soát quyền lực nhà nước.
Thứ hai, hoàn thiện quy định pháp luật nhằm tăng cường cơ sở pháp lý cho hoạt động giám sát và phản biện xã hội.
Pháp luật cần bổ sung quy định về quyền yêu cầu cung cấp thông tin của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đồng thời, xác định rõ phạm vi, điều kiện và trình tự thực hiện. Cần làm rõ ranh giới giữa quyền tiếp cận thông tin và quyền bảo vệ dữ liệu cá nhân trong môi trường số: thông tin công phải công khai, dữ liệu cá nhân phải được bảo vệ. Nguyên tắc pháp lý phải cân bằng, minh bạch, quyền riêng tư, kết hợp cơ chế phân loại và kiểm soát dữ liệu theo mục đích và chủ thể tiếp cận. Cơ chế phân tầng dữ liệu ưu tiên thông tin tổng hợp, ẩn danh; dữ liệu thô chỉ tiếp cận khi cần thiết và kiểm soát chặt chẽ, bảo đảm giám sát và phản biện xã hội thực chất.
Thứ ba, hoàn thiện cơ chế công khai và cung cấp thông tin theo hướng minh bạch, có thể theo dõi và kiểm chứng.
Cần quy định cụ thể danh mục thông tin bắt buộc công khai gắn với từng cấp hành chính; chuẩn hóa thời hạn, hình thức và phương thức công khai trong môi trường số. Đồng thời, thiết lập tiêu chí đánh giá mức độ công khai, minh bạch thông tin làm cơ sở để theo dõi, so sánh và giám sát một cách khách quan, khắc phục tình trạng công khai hình thức.
Thứ tư, thiết lập cơ chế xử lý sau giám sát và tăng cường trách nhiệm giải trình.
Bên cạnh việc quy định nghĩa vụ giải trình, cần thiết lập cơ chế xử lý nhiều bước đối với trường hợp không cung cấp hoặc từ chối cung cấp thông tin, gồm: yêu cầu giải trình bắt buộc; kiến nghị cơ quan có thẩm quyền thanh tra, kiểm tra; báo cáo cơ quan dân cử để thực hiện giám sát; công khai kết quả giám sát. Cơ chế này bảo đảm các kiến nghị của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được thực hiện đến cùng, khắc phục tình trạng thiếu ràng buộc trong thực tiễn. Điều này phù hợp với nhiều nghiên cứu về quản trị công cho rằng trách nhiệm giải trình là trụ cột của minh bạch và là điều kiện để bảo đảm hiệu lực thực thi pháp luật[16].
Thứ năm, nâng cao năng lực và ứng dụng công nghệ trong giám sát, phản biện.
Cần chú trọng đào tạo, bồi dưỡng kiến thức pháp luật và kỹ năng phân tích thông tin cho đội ngũ cán bộ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; đồng thời, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong thu thập, tổng hợp và phân tích dữ liệu công khai, qua đó, nâng cao chất lượng và tính kịp thời của hoạt động giám sát.
Thứ sáu, bảo đảm các điều kiện thực thi pháp luật về tiếp cận thông tin.
Nhà nước cần đầu tư phát triển hạ tầng số, xây dựng hệ thống dữ liệu công khai, liên thông và an toàn; đồng thời, hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các cơ quan trong cung cấp thông tin, đặc biệt, đối với thông tin liên ngành. Đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cần bảo đảm nguồn lực, điều kiện hoạt động và cơ chế tiếp cận thông tin phù hợp, tạo nền tảng để thực hiện hiệu quả chức năng giám sát và phản biện xã hội.
Kết luận
Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin không chỉ là yêu cầu kỹ thuật lập pháp, mà còn mang ý nghĩa chiến lược bảo đảm quyền con người, nâng cao minh bạch và hiệu quả kiểm soát quyền lực nhà nước. Thực tiễn thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 cho thấy, tồn tại khoảng cách giữa quy định pháp lý và hiệu quả thực thi, đặc biệt, trong cơ chế bảo đảm thực hiện, trách nhiệm giải trình và sự tham gia giám sát từ phía xã hội.
Tiếp cận từ góc độ giám sát và phản biện xã hội cho thấy, hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin cần đặt trọng tâm vào bảo đảm tính thực chất của quyền, đồng thời, xác lập cơ sở pháp lý rõ ràng, khả thi để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát huy vai trò là thiết chế giám sát xã hội và kiểm soát quyền lực từ Nhân dân. Đây không chỉ là điều kiện nâng cao chất lượng công khai, minh bạch thông tin, mà còn góp phần mở rộng không gian tham gia của Nhân dân trong quản trị quốc gia.
Việc sửa đổi pháp luật về tiếp cận thông tin cần được triển khai đồng bộ với tiến trình hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, gắn với yêu cầu chuyển đổi số và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa. Theo đó, pháp luật về tiếp cận thông tin không chỉ là công cụ bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân, mà còn là thiết chế nền tảng của quản trị công hiện đại, minh bạch và hiệu quả, góp phần củng cố niềm tin xã hội và nâng cao chất lượng kiểm soát quyền lực nhà nước.
(Ảnh: Internet)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lê Lâm, Việt Nam phải đối mặt với khoảng 552.000 cuộc tấn công mạng trong năm 2025, https://nhandan.vn/viet-nam-phai-doi-mat-voi-khoang-552000-cuoc-tan-cong-mang-trong-nam-2025-post936719.html, truy cập ngày 07/02/2026.
2. Lê Tiến Châu (2023), Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia kiểm soát quyền lực chính trị trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, https://www.tapchicongsan.org.vn/media-story/ /assetpublisher/V8hhp4dK31Gf/content/phat-huy-vai-tro-cua-mat-tran-to-quoc-viet-nam-tham-gia-kiem-soat-quyen-luc-chinh-tri-trong-nha-nuoc-phap-quyen-xa-hoi-chu-nghia-viet-nam, truy cập ngày 07/02/2026.
3. Nguyễn Đăng Dung (2018), Quyền tiếp cận thông tin và trách nhiệm giải trình của Nhà nước, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.
4. Nguyễn Minh Tuấn (2020), Kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay, Nxb. Chính trị quốc gia.
5. Nguyễn Sơn (2021), Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước, https://ojs.tapchicongthuong.vn/vi/ojs-post/bao-dam-quyen-tiep-can-thong-tin-cua-cong-dan-trong-hoat-dong-cua-co-quan-hanh-chinh-nha-nuoc-76376.htm?utmsource=chatgpt.com, truy cập ngày 07/02/2026.
6. Nguyễn Thị Yến Hoa (2021), Luật Tiếp cận thông tin - Một số bất cập và giải pháp hoàn thiện, https://lsvn.vn/luat-tiep-can-thong-tin-mot-so-bat-cap-va-giai-phap-hoan-thien1627602568-a106813.html, truy cập ngày 07/02/2026.
7. Nguyễn Trọng Điệp, Nguyễn Tiến Đạt (2022), Tác động của chính sách chuyển đổi số với bảo đảm quyền tiếp cận thông tin, Tạp chí Nghiên cứu Pháp luật, Tập 38, số 3/2022.
8. Nguyễn Văn Cương (2021), Hoàn thiện pháp luật về dữ liệu và chuyển đổi số ở Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp.
9. OECD (2017), Open Government Data Report.
10. Phạm Hồng Thái (chủ biên) (2017), Giáo trình Luật hành chính Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội.
11. Phương Uyên, Công bố kết quả SIPAS 2024: Chỉ số hài lòng của người dân đối với cơ quan nhà nước tăng, https://diendandoanhnghiep.vn/cong-bo-ket-qua-sipas-2024-chi-so-hai-long-cua-nguoi-dan-doi-voi-co-quan-nha-nuoc-tang-10152640.html?utmsource=chatgpt.com, truy cập ngày 07/02/2026.
12. Thái Thị Tuyết Dung (2015), Hoàn thiện các biện pháp pháp lý bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (số 11).
13. Trần Thị Hồng Nhung (2022), Bảo vệ dữ liệu cá nhân và những vấn đề đặt ra trong xây dựng pháp luật ở Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp.
Thái Thị Tuyết Dung (2015), Hoàn thiện các biện pháp pháp lý bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (số 11), tr.48.
Nguyễn Đăng Dung (2018), Quyền tiếp cận thông tin và trách nhiệm giải trình của Nhà nước, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.
Nguyễn Trọng Điệp, Nguyễn Tiến Đạt (2022), Tác động của chính sách chuyển đổi số với bảo đảm quyền tiếp cận thông tin, Tạp chí Nghiên cứu Pháp luật, Tập 38, số 3/2022, tr.74-82.
Lê Lâm, Việt Nam phải đối mặt với khoảng 552.000 cuộc tấn công mạng trong năm 2025, https://nhandan.vn/viet-nam-phai-doi-mat-voi-khoang-552000-cuoc-tan-cong-mang-trong-nam-2025-post936719.html, truy cập ngày 07/02/2026.
Phương Uyên, Công bố kết quả SIPAS 2024: Chỉ số hài lòng của người dân đối với cơ quan nhà nước tăng, https://diendandoanhnghiep.vn/cong-bo-ket-qua-sipas-2024-chi-so-hai-long-cua-nguoi-dan-doi-voi-co-quan-nha-nuoc-tang-10152640.html?utmsource=chatgpt.com, truy cập ngày 07/02/2026.
Nguyễn Thị Yến Hoa (2021), Luật Tiếp cận thông tin - Một số bất cập và giải pháp hoàn thiện, https://lsvn.vn/luat-tiep-can-thong-tin-mot-so-bat-cap-va-giai-phap-hoan-thien1627602568-a106813.html, truy cập ngày 07/02/2026.
Nguyễn Sơn (2021), Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước, https://ojs.tapchicongthuong.vn/vi/ojs-post/bao-dam-quyen-tiep-can-thong-tin-cua-cong-dan-trong-hoat-dong-cua-co-quan-hanh-chinh-nha-nuoc-76376.htm?utmsource=chatgpt.com, truy cập ngày 07/02/2026.
Xem tại: https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2720, truy cập ngày 07/02/2026.
Quyết định số 217-QĐ/TW ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị ban hành Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội, Quyết định 218-QĐ/TW ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị ban hành quy định về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và Nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền.
Lê Tiến Châu (2023), Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia kiểm soát quyền lực chính trị trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, https://www.tapchicongsan.org.vn/media-story/ /assetpublisher/V8hhp4dK31Gf/content/phat-huy-vai-tro-cua-mat-tran-to-quoc-viet-nam-tham-gia-kiem-soat-quyen-luc-chinh-tri-trong-nha-nuoc-phap-quyen-xa-hoi-chu-nghia-viet-nam, truy cập ngày 07/02/2026.
Nguyễn Minh Tuấn (2020), Kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay, Nxb. Chính trị quốc gia.
OECD (2017), Open Government Data Report.
Nguyễn Văn Cương (2021), Hoàn thiện pháp luật về dữ liệu và chuyển đổi số ở Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp.
Trần Thị Hồng Nhung (2022), Bảo vệ dữ liệu cá nhân và những vấn đề đặt ra trong xây dựng pháp luật ở Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp.
Phạm Hồng Thái (chủ biên) (2017), Giáo trình Luật hành chính Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội.
Trần Thị Hồng Nhung (2022), tlđd.