Thứ sáu 17/04/2026 03:29
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện quy định pháp luật về đất đai liên quan đến cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo

Bài viết nghiên cứu, phân tích quy định của pháp luật về đất đai liên quan đến cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo, từ đó, kiến nghị, đề xuất hoàn thiện các quy định pháp luật trong lĩnh vực này.

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích quy định của pháp luật về đất đai liên quan đến cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo, từ đó, kiến nghị, đề xuất hoàn thiện các quy định pháp luật trong lĩnh vực này.

Abstract: The article researches and analyzes the provisions of the law on land related to belief and religious establishments, from which, proposes to improve the legal provisions in this field.

1. Khái quát quy định của pháp luật về đất đai liên quan đến cơ sơ tín ngưỡng, tôn giáo
Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 quy định: Tổ chức tôn giáo là tập hợp tín đồ, chức sắc, chức việc, nhà tu hành của một tôn giáo được tổ chức theo một cơ cấu nhất định được Nhà nước công nhận nhằm thực hiện các hoạt động tôn giáo[1]; cơ sở tôn giáo gồm chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh thất, thánh đường, trụ sở của tổ chức tôn giáo, cơ sở hợp pháp khác của tổ chức tôn giáo[2]; cơ sở tín ngưỡng là nơi thực hiện hoạt động tín ngưỡng của cộng đồng như đình, đền, miếu, nhà thờ dòng họ và những cơ sở tương tự khác[3].
Cơ sở tôn giáo, cơ sở tín ngưỡng là nơi thờ tự, tu hành, nơi đào tạo người chuyên hoạt động tôn giáo. Trụ sở của tổ chức tôn giáo, tín ngưỡng và những cơ sở khác được Nhà nước công nhận như: Đình, đền, miếu, nhà thờ dòng họ, chùa, tu viện, thiền viện, tịnh xá, niệm phật đường, nhà thờ, nhà xứ, nhà thờ họ công giáo, nhà nguyện, thánh thất, thánh đường, trường đào tạo riêng của tôn giáo… Cơ sở thờ tự có phạm vi hẹp hơn so với cơ sở tôn giáo chỉ các cơ sở là nơi thờ cúng như đình, đền, miếu, chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh thất, thánh đường. Những cơ sở ngoài mục đích thờ cúng của tôn giáo không được coi là cơ sở thờ tự.
Đất cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng: Căn cứ vào mục đích sử dụng, đất đai được phân loại thành đất nông nghiệp và đất phi nông nghiệp, đất chưa sử dụng. Đất cơ sở tôn giáo, cơ sở tín ngưỡng thuộc nhóm đất phi nông nghiệp: (i) Đất cơ sở tôn giáo gồm đất thuộc chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh thất, thánh đường, niệm phật đường, tu viện, trường đào tạo riêng của tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo, các cơ sở khác của tôn giáo được Nhà nước cho phép hoạt động; (ii) Đất tín ngưỡng bao gồm đất có công trình đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ.
Như vậy, khái niệm về đất đai cơ sở tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo và Luật Đất đai gần như tương đồng và phải đáp ứng các điều kiện: (i) Đất đó được Nhà nước giao và được sử dụng với mục đích tín ngưỡng, tôn giáo; (ii) Người sử dụng đất phải là tổ chức tôn giáo, tổ chức tín ngưỡng được Nhà nước cho phép hoạt động; (iii) Đất cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng thuộc nhóm đất phi nông nghiệp; (iv) Tổ chức tôn giáo, tín ngưỡng sử dụng không phải trả tiền sử dụng đất; (v) Tổ chức tôn giáo không có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê quyền sử dụng đất; thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất; không được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi.
Hiện nay, Việt Nam đã công nhận và cấp đăng ký hoạt động cho 16 tôn giáo và 43 tổ chức tôn giáo[4] với trên 46,8 nghìn cơ sở thuộc các tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau (số cơ sở tôn giáo là 28,5 nghìn cơ sở, số cơ sở tín ngưỡng là 18,3 nghìn cơ sở)[5]. Diện tích đất cơ sở tôn giáo đang sử dụng là 13.217 ha, diện tích đất cơ sở tín ngưỡng đang sử dụng là 7.153 ha. Số cơ sở trên bao gồm cơ sở thờ tự, cơ sở đào tạo, cơ sở phụ trợ, cơ sở hoạt động xã hội của tôn giáo, tín ngưỡng.
Trong những năm gần đây, việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo có những tiến bộ. Cả nước đã thực hiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo đạt khoảng 82%. Báo cáo của các địa phương cho thấy, việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tín ngưỡng, tôn giáo đã đạt 94,2%. So với năm 2015, đây là một bước tiến lớn trong công tác quản lý nhà nước về đất tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo ở một số nơi vẫn còn chậm. Có địa phương mới chỉ đạt 26,6% đất cơ sở tôn giáo và 31,4% đất cơ sở tín ngưỡng[6]. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến chậm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như: Vi phạm các quy định về đất đai; các công trình tín ngưỡng, tôn giáo xây dựng trên đất nông nghiệp; chưa làm thủ tục đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; sử dụng đất sai mục đích quy hoạch; tự ý mở rộng diện tích đất mà không kê khai… Qua nghiên cứu, những bất cập về pháp lý liên quan đến đất đai cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo cũng ảnh hưởng đến quá trình cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, dẫn đến tranh chấp, kiếu kiện về đất đai gây ra những bức xúc, bất bình và điểm nóng tôn giáo.
2. Hạn chế, bất cập về pháp luật đất đai liên quan đến cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo
Luật Đất đai năm 2013 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2014), Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực từ năm 2018), nhưng trong quá trình thực hiện và triển khai vẫn còn có một số điểm hạn chế và bất cập liên quan đến giải quyết đất đai tín ngưỡng, tôn giáo.
2.1. Về hạn điền
Khoản 2 Điều 159 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào chính sách tôn giáo của Nhà nước, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt quyết định diện tích đất giao cho cơ sở tôn giáo”. Việc thực hiện khoản này còn có vướng mắc sau:
- Đa số các cơ sở tôn giáo (mới được Nhà nước công nhận) đều không nằm trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nên không có đất dự phòng để giao khi chấp thuận cho tổ chức tôn giáo thành lập hoặc thành lập tổ chức tôn giáo trực thuộc, tôn giáo tự tạo quỹ đất bằng việc mua bán, chuyển nhượng thì trái quy định pháp luật.
- Pháp luật về đất đai chưa đưa ra một quy định cụ thể (khung) về hạn mức đất đai dành cho cơ sở tôn giáo, mà tùy địa phương nên một số địa phương quy định hạn mức không giống nhau, áp dụng cho các tôn giáo khác nhau dẫn đến so bì giữa các tổ chức tôn giáo, ảnh hưởng đến việc thực hiện chủ trương bình đẳng giữa các tôn giáo trong giải quyết vấn đề đất đai. Chưa có quy định hạn điền nên một số nơi tôn giáo cố ý lấn chiếm, tạo thêm quỹ đất.
2.2. Về giao đất
Điểm b khoản 1 Điều 59 Luật Đất đai năm 2013 quy định thẩm quyền giao đất đối với cơ sở tôn giáo thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Khoản 2 Điều 181 Luật Đất đai năm 2013 quy định cơ sở tôn giáo, cộng đồng dân cư sử dụng đất không được chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, tặng cho quyền sử dụng đất; không được thế chấp góp vốn bằng quyền sử dụng đất. Việc thực hiện các điều khoản trên đang có những vướng mắc sau:
- Tôn giáo được Nhà nước công nhận tổ chức tôn giáo, cho phép thành lập tổ chức tôn giáo trực thuộc nhưng không có đất để xây dựng cơ sở vì nhiều địa phương hết quỹ đất, không có quy hoạch hoặc quy hoạch cho năm năm thì một năm đã sử dụng hết, trong khi theo quy định, tổ chức tôn giáo không được tự tạo quỹ đất.
- Để giải quyết nhu cầu này, tổ chức tôn giáo phải tạo quỹ đất bằng cách mua, bán, sang nhượng, nhận hiến tặng, sau đó làm thủ tục trả lại cho Nhà nước và Nhà nước giao lại cho tổ chức tôn giáo. Quá trình giải quyết phải xin ý kiến của các ngành liên quan, thủ tục kéo dài so với quy định.
- Điều 173, Điều 181 của Luật Đất đai năm 2013 mâu thuẫn với Điều 30 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Điều 30 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 quy định: “Tôn giáo là pháp nhân phi thương mại”, nhưng theo khoản 2 Điều 181 Luật Đất đai năm 2103 thì: “Cơ sở tôn giáo, cộng đồng dân cư sử dụng đất không được chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, tặng cho quyền sử dụng đất; không được thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất”.
2.3. Về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
Luật Đất đai năm 2013 quy định quyền chung của người sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất[7]. Bên cạnh đó, Chỉ thị số 1940/CT-TTg ngày 31/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ về nhà, đất liên quan đến tôn giáo quy định cụ thể về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Theo đó có 03 điều kiện để được cấp: (i) Đất do cơ sở tôn giáo đang sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, sản xuất lâm nghiệp, sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp, làm cơ sở hoạt động từ thiện và đất do cơ sở tôn giáo sử dụng quy định tại khoản 1 Điều 99 Luật Đất đai năm 2013 (kể cả trường hợp nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho trước ngày 01/7/2004) nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, được sử dụng theo chế độ sử dụng đất tương ứng với mục đích sử dụng của loại đất đó như đối với hộ gia đình, cá nhân, được chuyển mục đích sử dụng đất theo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; (ii) Đối với đất sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, sản xuất lâm nghiệp, sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp, làm cơ sở hoạt động từ thiện của cơ sở tôn giáo mà không phải là đất do được Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất thì được thực hiện các quyền chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê quyền sử dụng đất, thế chấp bằng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai; (iii) Trường hợp cơ sở tôn giáo đã nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất nhưng có tranh chấp thì phải giải quyết dứt điểm tranh chấp theo quy định của pháp luật trước khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất[8].
2.4. Về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với đất do cơ sở tôn giáo đang sử dụng đất
Điều 102 Luật Đất đai năm 2013 quy định: Cơ sở tôn giáo đang sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất khi có đủ các điều kiện sau: (i) Được Nhà nước cho phép hoạt động; (ii) Không có tranh chấp; (iii) Không phải là đất nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho sau ngày 01/7/2004. Đồng thời, Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai quy định về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với đất do cơ sở tôn giáo đang sử dụng[9].
Như vậy, để được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cơ sở tôn giáo phải đáp ứng các điều kiện nêu trên. Đối với các trường hợp sau ngày 01/7/2004 mà vi phạm 01 trong các điều kiện trên thì bị xử lý. Bất cập trong công tác cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với cơ sở tôn giáo từ trước ngày 01/7/2004 vẫn là quy hoạch, tranh chấp. Đây chính là lý do cơ sở tôn giáo mở rộng quỹ đất bằng việc mua, chuyển nhượng đứng tên cá nhân nhưng không kê khai vì sợ bị thu hồi và cũng là một trong những nguyên nhân khiến cho việc chậm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với đất do cơ sở tôn giáo đang sử dụng.
3. Một số kiến nghị, đề xuất hoàn thiện pháp luật về đất đai liên quan đến cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo
Xuất phát từ những bất cập nêu trên, tác giả có một số đề xuất hoàn thiện pháp luật về đất đai cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo như sau:
Thứ nhất, về một số khái niệm:
- Khái niệm đất do cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo sử dụng theo quy định được gọi là đất cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng. Nên điều chỉnh theo hướng đất sử dụng cho hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo sẽ phù hợp hơn.
- Bổ sung khái niệm người sử dụng đất đối với cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo gồm: Tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc. Hiện nay, người sử dụng đất đối với cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo theo quy định là tổ chức tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, trên thực tế, ngoài tổ chức tín ngưỡng, tôn giáo còn có các tổ chức tín ngưỡng, tôn giáo trực thuộc, đây là tổ chức thuộc tổ chức tín ngưỡng, tôn giáo được thành lập theo hiến chương, điều lệ, quy định của tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận, vì vậy, các tổ chức tín ngưỡng, tôn giáo trực thuộc cũng có tư cách để đại điện người sử dụng đất.
- Điều chỉnh khái niệm: “Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho tổ chức cơ sở tôn giáo đang sử dụng đất” thành “Công nhận quyền sử dụng đất cho tổ chức tín ngưỡng, tôn giáo đang sử dụng đất”. Căn cứ quy định của pháp luật, tổ chức tín ngưỡng, tôn giáo đủ điều kiện sẽ được Nhà nước công nhận, không đủ điều kiện sẽ bị thu hồi, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức tín ngưỡng, tôn giáo.
Thứ hai, về hạn điền: Quy định rõ về hạn điền đối với đất tín ngưỡng, tôn giáo sử dụng vào mục đích làm cơ sở thờ tự và trụ sở tín ngưỡng, tôn giáo. Quy định cụ thể loại đất mà cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo sử dụng là: Cơ sở thờ tự; trụ sở tín ngưỡng, tôn giáo; cơ sở đào tạo; làm dịch vụ du lịch thương mại…
Thứ ba, về giao đất, cho thuê đất:
Hiện nay, Nhà nước chỉ thực hiện giao đất đối với tổ chức tín ngưỡng, tôn giáo sử dụng đất làm cơ sở thờ tự, trụ sở của các tổ chức tín ngưỡng, tôn giáo. Vì vậy, đất mà các tổ chức tín ngưỡng, tôn giáo sử dụng vào mục đích khác cần thực hiện như các pháp nhân khác. Nếu coi tôn giáo như các pháp nhân khác thì sẽ được Nhà nước cho thuê đất khi có nhu cầu sử dụng đất.
Thứ tư, về mua, bán, chuyển nhượng, hiến đất:
Quy định rõ việc các tôn giáo được mua bán, chuyển nhượng, hiến tặng đất sử dụng vào mục đích khác (trừ việc xây dựng cơ sở thờ tự, trụ sở của các tổ chức tín ngưỡng, tôn giáo). Điều này vừa đáp ứng nhu cầu về cơ sở có liên quan đến tôn giáo, vừa giải quyết được vấn đề tạo quỹ đất trái quy định như hiện nay. Bên cạnh đó, cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo được phép thế chấp tài sản trong các hoạt động dân sự theo quy định của pháp luật.
Thứ năm, thu thuế đất liên quan đến tôn giáo:
Thực hiện thu thuế đất đối với các tổ chức tín ngưỡng, tôn giáo kể cả đất cơ sở thờ tự và sử dụng vào mục đích khác. Điều này vừa thúc đẩy các tổ chức tính ngưỡng, tôn giáo thực hiện trách nhiệm công dân đối với đất nước vừa hạn chế việc mở rộng quỹ đất cũng như việc xây dựng, sửa chữa cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo.

TS. Phan Thị Mỹ Bình
Học viện Hành chính Quốc gia




[1]. Khoản 12 Điều 2 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016.
[2]. Khoản 14 Điều 2 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016.
[3]. Khoản 4 Điều 2 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016.
[4]. Danh mục các tổ chức tôn giáo, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo tính đến tháng 12/2020 (kèm theo Công văn số 6955/BNV-TGCP ngày 28/12/2020 của Bộ Nội vụ), xem: http://vcrm.gviet.vn/btgcp/public/ upload/documents/30_12_2020/danh-muc-dinh-kem-2020-12-30-10-30-30.pdf.
[5]. Thông cáo báo chí kết quả sơ bộ tổng điều tra kinh tế năm 2021, https://www.gso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2022/01/thong-cao-bao-chi-ket-qua-so-bo-tong-dieu-tra-kinh-te-nam-2021/ ngày đăng 11/01/2022.
[6]. Báo cáo số 3101/BC-UBVHGĐTTN14 ngày 29/10/2020 của Ủy ban văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng về Kết quả giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo.
[7]. Khoản 1 Điều 166 Luật Đất đai năm 2013.
[8]. Chỉ thị số: 1940/CT-TTg ngày 31/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ về nhà, đất liên quan đến tôn giáo.
[9]. Xem Điều 28 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.
Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết phân tích các vấn đề cốt lõi về hợp đồng tiếp thị liên kết, đánh giá thực tiễn áp dụng và chỉ ra những bất cập trong quy định pháp luật, đặc biệt liên quan đến khái niệm pháp lý, cơ chế giao kết và hiệu lực phụ lục hợp đồng. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng tiếp thị liên kết, nhằm bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong quan hệ hợp đồng và góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của hoạt động tiếp thị liên kết trong môi trường thương mại điện tử tại Việt Nam.
Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự gia tăng của quan hệ hôn nhân xuyên biên giới, vấn đề giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn ngày càng trở nên cấp thiết. Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá quy định hiện hành về xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch (lex patriae). Qua đó, nhận diện một số bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực thi nguyên tắc này tại Việt Nam hiện nay.
Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Tóm tắt: Ở Việt Nam, chế định Hội thẩm nhân dân là phương thức thể chế hóa quyền làm chủ của Nhân dân trong hoạt động xét xử. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, chế định này tồn tại một số hạn chế, dẫn đến sự tham gia của Nhân dân trong nhiều trường hợp còn hình thức. Bài viết phân tích vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử, nhận diện những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về cơ chế lựa chọn, phân công, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Hội thẩm nhân dân, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: