Thứ ba 25/08/2026 18:03
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện vị trí việc làm đối với nguồn nhân lực làm công tác đăng ký biện pháp bảo đảm bằng động sản

Hoàn thiện vị trí việc làm đối với nguồn nhân lực làm công tác đăng ký biện pháp bảo đảm bằng động sản

1. Đặt vấn đề

Thiết chế đăng ký biện pháp bảo đảm đã và đang là một trong những công cụ hữu hiệu bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên tham gia giao dịch dân sự, kinh tế, tăng cường khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, góp phần đẩy mạnh hoạt động đầu tư, cho vay vốn sản xuất, kinh doanh, đáp ứng nhu cầu vật chất, tinh thần của người dân. Nhận thức được tầm quan trọng của thiết chế đăng ký biện pháp bảo đảm đối với đời sống kinh tế, xã hội, đồng thời hiện thực hóa Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 15/7/2021 của Chính phủ ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021 - 2030, trong đó nhấn mạnh một trong những trọng tâm của cải cách hành chính giai đoạn 2021 - 2030 là xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chuyên nghiệp, có năng lực, phẩm chất đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ và sự phát triển đất nước.

Trong những năm qua, Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm đã quan tâm xây dựng đội ngũ viên chức tại các Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản thuộc Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Các Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản thuộc Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm có chức năng thực hiện công tác đăng ký, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm, hợp đồng và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật thuộc nhóm đơn vị sự nghiệp theo lĩnh vực tư pháp. Các Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản là đơn vị sự nghiệp có thu, có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng. Hiện nay, các Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản đang thực hiện mức độ tự chủ bảo đảm về chi thường xuyên. Dự kiến trong giai đoạn tiếp theo các đơn vị này sẽ hướng tới tự chủ về chi thường xuyên và chi đầu tư. Đặc biệt, các Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản được thành lập không theo địa giới hành chính mà theo khu vực, có thẩm quyền đăng ký như nhau (trên phạm vi toàn quốc) và được quản lý tập trung, thống nhất.

2. Thực trạng về tổ chức và hoạt động của các Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản

2.1. Kết quả đạt được

Mục tiêu của đăng ký biện pháp bảo đảm là thúc đẩy sự vận hành an toàn, minh bạch của nguồn vốn trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; giúp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên khi tham gia giao dịch; xác định thứ tự ưu tiên thanh toán trong trường hợp tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ. Trên thực tế, nhu cầu thực hiện đăng ký, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm đã và đang ngày càng gia tăng. Qua số liệu thống kê hàng năm cho thấy, số lượng phiếu yêu cầu đăng ký, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm tại các Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản có sự phát triển, tăng trưởng ổn định qua các năm, năm sau luôn tăng so với cùng kỳ năm trước, đặc biệt tăng mạnh từ năm 2012 khi Hệ thống đăng ký trực tuyến được đưa vào sử dụng và có bước tăng trưởng vượt bậc từ sau khi Hệ thống đăng ký trực tuyến được nâng cấp, hoàn thiện lên mức độ 4. Số liệu thống kê đến ngày 31/12/2022 cho thấy, tổng số phiếu yêu cầu đăng ký, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm và văn bản yêu cầu thông báo về việc thế chấp phương tiện giao thông giai đoạn 2002 - 2022 của các Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản là 8.996.469 phiếu, tốc độ tăng trưởng trung bình qua các năm (tính đến hết năm 2022) tăng 142%, tỷ lệ tăng trưởng hằng năm đạt 42%. Bên cạnh đó, chỉ số phát triển khối lượng công việc được các Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản giải quyết ngày càng tăng cao, sau 05 năm đã tăng 14 lần, sau 10 năm tăng 37 lần và đặc biệt sau 22 năm khối lượng công việc đã được các Trung tâm giải quyết tăng gấp 277 lần so với thời điểm bắt đầu từ năm 2002. Theo số liệu từ năm 2002 cho thấy, trung bình một viên chức giải quyết được 161 vụ việc/năm, thì đến năm 2022, một viên chức đã giải quyết được 22.769 vụ việc/năm. Tốc độ giải quyết công việc của viên chức, người lao động tại các Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản cũng đã được tăng 87 lần so với năm 2002[1]. Trong năm 2017, Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm đã nâng cấp Hệ thống đăng ký trực tuyến giao dịch bảo đảm bằng động sản lên mức độ 4 về cung cấp dịch vụ công trực tuyến, tạo thuận lợi hơn nữa cho người dân và doanh nghiệp khi đến đăng ký, tra cứu thông tin tại các Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản thuộc Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm. Hiện nay, trong toàn Ngành Tư pháp cũng như trong Bộ Tư pháp, Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm là một trong những đơn vị đi đầu trong việc cung cấp dịch vụ công mức độ 4. Đây là điểm sáng về ứng dụng công nghệ thông tin của Bộ và được đánh giá là 1 trong 10 sự kiện nổi bật nhất Ngành Tư pháp năm 2017.

Về cơ cấu tổ chức: Các Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản gồm có ban lãnh đạo, bộ phận đăng ký và bộ phận hành chính, kế toán, tổng hợp.

Về số lượng người làm việc (viên chức): Tính đến ngày 30/6/2023, tổng số viên chức tại 03 Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản thuộc Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm là 53 viên chức (Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản tại Thành phố Hà Nội là 22 viên chức, Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản tại Thành phố Hồ Chí Minh là 16 viên chức và Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản tại Thành phố Đà Nẵng là 15 viên chức). Trong đó:

- Về trình độ chuyên môn: Có 01 viên chức có trình độ tiến sỹ; 08 viên chức có trình độ thạc sỹ và 44 viên chức trình độ đại học.

- Về trình độ lý luận chính trị: Có 05 viên chức có trình độ cao cấp lý luận chính trị; 10 viên chức có trình độ trung cấp lý luận chính trị.

- Về trình độ ngoại ngữ: Có 05 viên chức có trình độ cử nhân ngoại ngữ và các viên chức còn lại đều có chứng chỉ ngoại ngữ phù hợp với vị trí việc làm.

- Về trình độ tin học: Có 02 viên chức có trình độ kỹ sư tin học và các viên chức còn lại đều có chứng chỉ tin học phù hợp với vị trí việc làm.

Công tác đào tạo, bồi dưỡng phát triển đội ngũ viên chức được Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm và các Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản đặc biệt quan tâm, chú trọng thường xuyên. Năm 2021, Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm đã cử 36 lượt viên chức, năm 2022 là 30 lượt viên chức, 06 tháng đầu năm 2023 là 23 lượt viên chức tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ theo yêu cầu của việc hoàn thiện vị trí việc làm. Đối với chương trình tập huấn do Bộ Tư pháp và các đơn vị thuộc Bộ tổ chức nhằm nâng cao trình độ để đáp ứng yêu cầu công việc trong giai đoạn hiện nay, Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm luôn cử các viên chức tại các Trung tâm Đăng ký tham gia đầy đủ. Ngoài ra, Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm cũng thường xuyên hướng dẫn nghiệp vụ đăng ký cho các viên chức thông qua các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ, tập, giải quyết các vướng mắc, khó khăn phát sinh trong thực tiễn và thực hiện thống nhất trong đơn vị.

Nhìn chung, đội ngũ viên chức tại các Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản đã có những bước chuyển biến đáng kể về số lượng, về cơ cấu và chất lượng, đóng góp tích cực, hiệu quả vào sự phát triển chung của Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm nói chung, các Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản nói riêng. Dưới sự chỉ đạo của Đảng ủy, Lãnh đạo Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm và Lãnh đạo Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản, công tác đào tạo, bồi dưỡng viên chức đã được triển khai hiệu quả, gắn liền với công tác quản lý, quy hoạch cán bộ. Chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cũng được nâng lên; nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng về cơ bản phù hợp với trình độ của viên chức cũng như yêu cầu về vị trí việc làm, định hướng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; viên chức được cử đi đào tạo, bồi dưỡng đã phát huy được năng lực của bản thân. Việc bố trí, sử dụng viên chức sau đào tạo được quan tâm thực hiện. Với kết quả như trên của công tác đào tạo, bồi dưỡng, nhìn chung trình độ chuyên môn của viên chức tại các Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản đáp ứng được yêu cầu của đơn vị, viên chức được phân công công việc phù hợp với trình độ nên hiệu quả công việc ngày càng được nâng cao. Mặt khác, nhiều viên chức trong đơn vị cũng đã thể hiện được ý thức tự nâng cao trình độ, trau dồi kiến thức của bản thân.

2.2. Một số vấn đề đặt ra đối với nguồn nhân lực làm công tác đăng ký biện pháp bảo đảm bằng động sản

Bên cạnh kết quả đã đạt được, việc phát triển đội ngũ viên chức tại các Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản hiện nay còn bộc lộ một số hạn chế chưa đáp ứng được với yêu cầu, nhiệm vụ, cụ thể:

Thứ nhất, hiện nay, viên chức tại các Trung tâm Đăng ký chưa có chức danh nghề nghiệp cụ thể (chức danh “đăng ký viên”). Điều này dẫn đến nhiều bất cập trong công tác quản lý cũng như xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ viên chức, cụ thể: Do chưa có quy định về mã số và tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức nên việc tuyển dụng, bổ nhiệm, xếp lương, thăng hạng viên chức, xây dựng vị trí việc làm, số lượng, cơ cấu viên chức, cử viên chức đi đào tạo, bồi dưỡng,… không theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp mà theo điều kiện, tiêu chuẩn của ngạch công chức nói chung. Đây là điều bất cập vì tính chất công việc của viên chức (mang tính tác nghiệp) khác hoàn toàn so với công chức (mang tính tham mưu, thực thi công vụ). Do vậy, việc chuẩn hóa đội ngũ viên chức tại các Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản chưa được thực hiện bài bản theo đúng quy chuẩn.

Thứ hai, trong những năm gần đây, các giao dịch, tài sản được đăng ký tại Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản với số lượng lớn và tính chất phức tạp ngày càng tăng, đòi hỏi viên chức tại các Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản vừa phải bảo đảm giải quyết công việc trong thời hạn pháp luật quy định, đồng thời phải rất am hiểu pháp luật về dân sự, giao dịch, hợp đồng và phải hoạt động độc lập khi tiếp nhận, xử lý hồ sơ công việc. Do đó, đòi hỏi viên chức làm công tác đăng ký biện pháp bảo đảm phải có trình độ, năng lực đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ mới. Tuy nhiên, các Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản hiện vẫn chưa có nhiều chuyên gia giỏi trong lĩnh vực này.

Thứ ba, hoạt động đăng ký tại các Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản ngày càng ổn định, phát triển. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế của Việt Nam trong những năm qua, hoạt động đăng ký, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm bằng động sản tại các Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản không ngừng lớn mạnh. Số lượng phiếu yêu cầu đăng ký và cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm ngày càng tăng, năm sau luôn tăng cao hơn so với năm trước. Bên cạnh đó, việc đăng ký biện pháp bảo đảm tại các Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản đang được thực hiện hoàn toàn trên môi trường mạng thông qua Hệ thống đăng ký trực tuyến biện pháp bảo đảm. Tính đến nay, số phiếu đăng ký trực tuyến chiếm đến 83% trong tổng số phiếu đăng ký. Bên cạnh đó, thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước và của Bộ Tư pháp về việc đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động của cơ quan nhà nước các cấp, phát triển Chính phủ điện tử, hướng đến Chính phủ số đòi hỏi đội ngũ viên chức tại các Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản cần phải có kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin thành thạo để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Tuy nhiên, đội ngũ viên chức tại các Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản cơ bản còn hạn chế về kỹ năng này.

Thứ tư, cán bộ đăng ký hiện nay có nhiều hoạt động mang tính chất đặc thù, ví dụ: Phải bảo đảm đăng ký trong thời hạn pháp luật quy định nên áp lực công việc lớn, trong khi phải hoạt động độc lập khi tiếp nhận, xử lý đơn và phải am hiểu pháp luật về dân sự, thương mại,... Do vậy, rất cần có các quy định tương thích với những hoạt động đặc thù của cán bộ đăng ký.

3. Giải pháp hoàn thiện vị trí việc làm đối với nguồn nhân lực làm công tác đăng ký biện pháp bảo đảm

Một là, phát huy vai trò lãnh đạo của các cấp ủy Đảng đối với công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ viên chức tại các Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản.

Tiếp tục phát huy vai trò lãnh đạo của các cấp ủy Đảng đối với công tác cán bộ nói chung và xây dựng, phát triển đội ngũ viên chức nói riêng vừa là định hướng, vừa là giải pháp cơ bản bảo đảm thực hiện đúng chủ trương của Đảng về tăng cường vai trò lãnh đạo trực tiếp, toàn diện về công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ của Đảng. Xây dựng đội ngũ viên chức tại các Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản phải xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ cũng như đòi hỏi từ thực tiễn của đơn vị, đặt trong tổng thể của công tác cải cách hành chính của Bộ, Ngành Tư pháp cũng như của Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm.

Bên cạnh đó, các cấp có thẩm quyền cần quan tâm, hỗ trợ và đề xuất Bộ Nội vụ, Chính phủ về việc hoàn thiện hơn về tổ chức, hoạt động của Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm nói chung và các Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản nói riêng theo hướng chuyên nghiệp hơn, xứng đáng với vị trí đơn vị tiên phong của Bộ Tư pháp trong xây dựng Chính phủ điện tử, góp phần tích cực vào việc làm lành mạnh hóa các quan hệ sở hữu, giao dịch trên thị trường, thúc đẩy sự phát triển của giao dịch và các quan hệ kinh tế - xã hội có liên quan trên cơ sở giảm thiểu gánh nặng ngân sách cho Nhà nước; kịp thời hoàn thiện chế độ chính sách, chức danh vị trí, việc làm đối với viên chức tại các Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản.

Hai là, hoàn thiện quy định về xây dựng chức danh “đăng ký viên”.

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, nhu cầu ký kết, thực hiện các hợp đồng, giao dịch nhằm bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ dân sự, kinh doanh, thương mại ngày càng tăng và là nhu cầu cấp thiết của xã hội. Nhà nước thông qua việc hoàn thiện các quy định pháp luật về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, đăng ký biện pháp bảo đảm giúp các chủ thể xác lập, thực hiện các giao dịch, hợp đồng an toàn, minh bạch và hạn chế thấp nhất những rủi ro. Thực hiện mục tiêu đó, một trong những yêu cầu đặt ra là Nhà nước phải nhanh chóng xây dựng, hoàn thiện hệ thống cơ quan đăng ký biện pháp bảo đảm, trong đó có các Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản có thẩm quyền đăng ký biện pháp bảo đảm bằng động sản không phải là tàu bay, tàu biển, chứng khoán đã đăng ký tập trung, bằng cây hằng năm, công trình tạm. Tuy nhiên, để hệ thống đăng ký vận hành có hiệu quả, đòi hỏi cán bộ đăng ký phải được đào tạo chuyên sâu, có phẩm chất và năng lực tốt, đáp ứng yêu cầu đặc thù của công tác đăng ký. Với ý nghĩa đó, việc ban hành các tiêu chuẩn về chức danh “đăng ký viên” có ý nghĩa quan trọng, góp phần quyết định sự phát triển của hệ thống đăng ký biện pháp bảo đảm ở Việt Nam.

Việc ban hành quy định về chức danh “đăng ký viên” là căn cứ quan trọng để chuẩn hoá về chuyên môn, nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ viên chức, góp phần quan trọng nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công của các Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản, đồng thời cũng là cơ sở để thực hiện công tác quản lý và nâng cao chất lượng đội ngũ viên chức, cơ bản đáp ứng yêu cầu của quá trình đổi mới.

Tham khảo kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới cho thấy, pháp luật của một số quốc gia có hệ thống đăng ký giao dịch, tài sản phát triển đã có quy định về chức danh “đăng ký viên” - chức danh chuyên ngành với tiêu chuẩn cụ thể về chuyên môn, nghiệp vụ và trách nhiệm cá nhân trong quá trình tác nghiệp đăng ký, cung cấp thông tin về giao dịch, tài sản.

Từ những phân tích nêu trên cho thấy, việc xây dựng chức danh, tiêu chuẩn “đăng ký viên” cho viên chức làm công tác đăng ký tại các Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản là rất cần thiết và cấp bách nhằm đáp ứng nhu cầu công tác của đơn vị, cũng như bảo đảm tính đồng bộ và thống nhất trong cơ cấu ngạch công chức, hạng viên chức, từ đó có cơ sở pháp lý cho việc tuyển dụng, bổ nhiệm, thăng hạng, đào tạo, bồi dưỡng và thực hiện các chế độ chính sách khác đối với viên chức tại các Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản.

Ba là, tiếp tục đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ viên chức tại các Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản.

Hiện nay, năng lực thực thi nhiệm vụ của đội ngũ viên chức về cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ nhưng vẫn còn một số hạn chế, một bộ phận chưa đáp ứng được những yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ, thiếu những kỹ năng cần thiết trong thực thi nhiệm vụ, nhiều lúc còn thụ động, thiếu tính chuyên nghiệp, ảnh hưởng đến hiệu quả cung ứng dịch vụ công cho người dân và doanh nghiệp. Vì vậy, cần tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kiến thức, trang bị kỹ năng, nghiệp vụ cho đội ngũ viên chức đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

Bốn là, nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát.

Đây là một trong những nội dung quan trọng trong quy trình quản lý đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, tác động trực tiếp đến việc chấp hành nghiêm kỷ luật, kỷ cương hành chính trong hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung. Thực tiễn cho thấy, không ít trường hợp, trong quá trình công tác, một phần do thiếu tu dưỡng, rèn luyện, một phần do thiếu kiểm tra, giám sát chặt chẽ, không được quản lý tốt đã dần bị tha hóa, biến chất. Mặt khác, qua công tác kiểm tra sẽ giúp phát hiện kịp thời những thiếu sót, khuyết điểm, những sai phạm để có biện pháp điều chỉnh, kiến nghị sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các cơ chế quản lý có liên quan. Quá trình kiểm tra, giám sát cần phải chú trọng tính toàn diện, kịp thời cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức và kết quả hoạt động chuyên môn, sinh hoạt tư tưởng, quản lý và kiểm tra chế độ học tập, tự rèn luyện của viên chức; kết hợp chế độ kiểm tra thường xuyên theo định kỳ với kiểm tra đột xuất phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao.

ThS. Nguyễn Thị Thu Hoài

Chánh Văn phòng Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm, Bộ Tư pháp

Hà Trọng Bắc

Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm, Bộ Tư pháp

[1]. Tham khảo Báo cáo số 123/BC-CĐKGDBĐ ngày 13/9/2021 của Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm về việc đánh giá tác động về hiệu quả đăng ký biện pháp bảo đảm bằng động sản (không phải tàu bay, tàu biển) đối với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 387), tháng 8/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: