Thứ tư 18/03/2026 16:12
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hợp đồng lao động tại các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập và một số đề xuất, kiến nghị

Bài viết tập trung phân tích các quy định liên quan và đánh giá thực trạng thực hiện hợp đồng lao động đối với một số loại công việc trong cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập. Từ đó, tác giả đưa ra các đề xuất, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chế độ hợp đồng lao động tại các cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định pháp luật hiện hành.

1. Phạm vi áp dụng hợp đồng lao động ở các cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập

Theo khoản 1 Điều 13 Bộ luật Lao động năm 2019 thì hợp đồng lao động (HĐLĐ) là sự thỏa thuận giữa người lao động (NLĐ) và người sử dụng lao động (NSDLĐ) về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động. Có thể thấy, HĐLĐ là sự thỏa thuận trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng giữa hai chủ thể, một bên là NLĐ có nhu cầu về việc làm, một bên là NSDLĐ có nhu cầu thuê mướn NLĐ để mua sức lao động. Các nội dung chủ yếu của thỏa thuận này là việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động. Trong HĐLĐ, NLĐ cam kết tự nguyện làm một công việc cho NSDLĐ và đặt mình với sự quản lý của NSDLĐ, được NSDLĐ trả lương. Bộ luật Lao động năm 2019 quy định trước khi nhận NLĐ vào làm việc thì NSDLĐ phải giao kết HĐLĐ với NLĐ.

Theo Điều 3 Bộ luật Lao động năm 2019 thì HĐLĐ có phạm vi áp dụng rộng rãi tại các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo HĐLĐ. Riêng việc tuyển dụng, sử dụng lao động ở các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập chủ yếu được thực hiện theo chế độ cán bộ, công chức (đối với cơ quan hành chính nhà nước), viên chức làm việc theo chế độ hợp đồng làm việc (đối với đơn vị sự nghiệp công lập) nên phạm vi áp dụng của HĐLĐ ở các cơ quan, đơn vị này có phạm vi hẹp hơn. Trong những năm gần đây, phạm vi áp dụng HĐLĐ và chế độ, chính sách đối với NLĐ làm việc theo HĐLĐ ở các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập có những thay đổi đáng kể theo quy định của pháp luật.

Theo quy định tại Nghị định số 111/2022/NĐ-CP ngày 30/12/2022 của Chính phủ về hợp đồng đối với một số loại công việc trong cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập (Nghị định số 111/2022/NĐ-CP) thì phạm vi áp dụng của HĐLĐ tại các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập có mở rộng hơn so với trước đây nhưng cũng có sự khác biệt giữa cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập. Đối với cơ quan hành chính, các công việc được phép thực hiện theo chế độ HĐLĐ chủ yếu là các công việc hỗ trợ, phục vụ (lái xe, bảo vệ; lễ tân, phục vụ, tạp vụ; trông giữ phương tiện; bảo trì, bảo dưỡng, vận hành trụ sở, trang thiết bị, máy móc phục vụ hoạt động của cơ quan…), tuy nhiên, việc ký kết HĐLĐ với cá nhân để thực hiện các công việc hỗ trợ, phục vụ nêu trên chỉ được thực hiện trong trường hợp không có đơn vị cung cấp dịch vụ đáp ứng yêu cầu bởi các công việc này ưu tiên ký hợp đồng dịch vụ theo pháp luật dân sự. Đối với các đơn vị sự nghiệp công lập, ngoài các công việc hỗ trợ, phục vụ có thể ký kết HĐLĐ với điều kiện tương tự như các cơ quan hành chính thì còn được phép ký kết HĐLĐ để thực hiện công việc chuyên môn, nghiệp vụ do viên chức đảm nhiệm để đáp ứng nhu cầu công việc theo mức độ tự chủ.

Cụ thể, đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên, chi đầu tư (nhóm 1) và đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên (nhóm 2) được phép ký kết HĐLĐ để làm công việc chuyên môn, nghiệp vụ ở vị trí việc làm do viên chức đảm nhiệm theo nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực của đơn vị. Đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm một phần chi thường xuyên (nhóm 3) được phép ký kết HĐLĐ làm công việc chuyên môn, nghiệp vụ cung cấp dịch vụ sự nghiệp công không sử dụng ngân sách nhà nước để đáp ứng nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực còn thiếu so với định mức số lượng người làm việc trong đơn vị sự nghiệp công lập do bộ quản lý ngành, lĩnh vực ban hành (đối với đơn vị tự bảo đảm dưới 70% chi thường xuyên hoặc đơn vị chưa được giao quyền tự chủ tài chính thì phải báo cáo cơ quan có thẩm quyền quản lý đơn vị sự nghiệp công lập thống nhất trước khi thực hiện). Đơn vị sự nghiệp công lập do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên (nhóm 4), trừ đơn vị thuộc lĩnh vực sự nghiệp giáo dục, y tế, được ký kết HĐLĐ có thời gian không quá 12 tháng để làm công việc ở vị trí việc làm chức danh nghề nghiệp chuyên ngành, vị trí việc làm chức danh nghề nghiệp chuyên môn dùng chung để bổ sung nhân lực còn thiếu so với số lượng người làm việc được cấp có thẩm quyền giao hoặc để kịp thời thay cho số viên chức nghỉ thai sản, thôi việc, nghỉ hưu. Riêng đơn vị nhóm 4 thuộc lĩnh vực sự nghiệp giáo dục, y tế được phép ký kết HĐLĐ có thời gian không quá 12 tháng để làm công việc ở vị trí việc làm chức danh nghề nghiệp chuyên ngành, vị trí việc làm chức danh nghề nghiệp chuyên môn dùng chung, nhưng số lượng người ký kết HĐLĐ chiếm không quá 70% số chênh lệch giữa số lượng người làm việc được giao với số lượng theo định mức do Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế ban hành; số lượng hợp đồng ký kết do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh hoặc bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan quản lý ở trung ương xem xét, quyết định.

2. Về điều kiện, thẩm quyền giao kết hợp đồng lao động ở các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập

Việc giao kết HĐLĐ nói chung, giữa chủ thể sử dụng lao động là cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập với cá nhân NLĐ nói riêng phải đáp ứng những điều kiện, tiêu chuẩn nhất định. Việc ký kết HĐLĐ thực hiện các công việc hỗ trợ, phục vụ đòi hỏi cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập phải xuất phát từ nhu cầu công việc thực tế và đáp ứng đầy đủ các yêu cầu khác theo quy định của pháp luật. Đối với cá nhân ký kết HĐLĐ phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện, tiêu chuẩn cụ thể được quy định tại khoản 1 Điều 8 Nghị định số 111/2022/NĐ-CP, bao gồm: (i) Có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam; (ii) Đủ tuổi lao động theo quy định của pháp luật lao động và pháp luật chuyên ngành; (iii) Có đủ sức khỏe để làm việc; (iv) Có lý lịch được cơ quan có thẩm quyền xác nhận; (v) Có khả năng đáp ứng yêu cầu của vị trí việc làm; (vi) Không trong thời gian bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chấp hành án phạt tù, cải tạo không giam giữ hoặc đang bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc và đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; không trong thời gian bị cấm hành nghề hoặc cấm làm công việc liên quan đến công việc ký kết hợp đồng; (vii) Đáp ứng các tiêu chuẩn, điều kiện khác theo quy định của pháp luật chuyên ngành và theo tiêu chuẩn, điều kiện của vị trí việc làm theo quy định của cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng. Việc ký kết HĐLĐ làm chuyên môn, nghiệp vụ giữa đơn vị sự nghiệp công lập và cá nhân ngoài các điều kiện tương tự như ký kết HĐLĐ thực hiện công việc hỗ trợ, phục vụ như đã đề cập, còn phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện, tiêu chuẩn khác như về chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định của pháp luật chuyên ngành, phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định của pháp luật, theo thỏa thuận trong hợp đồng và theo yêu cầu của đơn vị sự nghiệp công lập.

Về thẩm quyền giao kết HĐLĐ, pháp luật lao động quy định khác nhau giữa nhóm công việc hỗ trợ, phục vụ và nhóm công việc chuyên môn, nghiệp vụ. Về thẩm quyền ký kết hợp đồng thực hiện công việc hỗ trợ, phục vụ đối với cơ quan hành chính là người đứng đầu cơ quan hành chính mà cơ quan hành chính này được xác định là đầu mối được giao biên chế, kinh phí quản lý hành chính từ ngân sách nhà nước là người có thẩm quyền ký hợp đồng và quyết định số lượng hợp đồng hoặc có thể phân cấp, ủy quyền bằng văn bản cho người đứng đầu cơ quan, đơn vị thuộc hoặc trực thuộc thực hiện. Đối với việc ký hợp đồng thực hiện công việc hỗ trợ, phục vụ ở đơn vị sự nghiệp công lập, người có thẩm quyền ký hợp đồng là người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập (việc này có thể ủy quyền bằng văn bản cho người đứng đầu đơn vị thuộc hoặc trực thuộc thực hiện). Về thẩm quyền ký HĐLĐ để thực hiện công việc chuyên môn, nghiệp vụ, tùy thuộc vào mức độ tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập. Đối với đơn vị nhóm 1, đơn vị nhóm 2 và đơn vị nhóm 3 tự bảo đảm từ 70% đến dưới 100% chi thường xuyên, người có thẩm quyền là người đứng đầu đơn vị hoặc người được ủy quyền ký hợp đồng; đối với đơn vị nhóm 3 tự bảo đảm từ 10% đến dưới 70% chi thường xuyên và đơn vị nhóm 4, người có thẩm quyền ký HĐLĐ cũng là người có thẩm quyền ký hợp đồng làm việc với viên chức theo quy định của pháp luật về viên chức hoặc người được ủy quyền ký hợp đồng.

3. Thực tiễn áp dụng chế độ hợp đồng lao động ở các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập hiện nay

3.1. Kết quả đạt được

Hiện nay, Nghị định số 111/2022/NĐ-CP cho phép đơn vị sự nghiệp được ký kết HĐLĐ chuyên môn, nghiệp vụ đã tháo gỡ nhiều khó khăn của các đơn vị sự nghiệp, nhất là trước tình trạng nhiều trường học, bệnh viện… ký HĐLĐ làm chuyên môn, nghiệp vụ (việc ký HĐLĐ đối với các vị trí việc làm được xác định là viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập do Nhà nước bảo đảm toàn bộ hoặc một phần chi thường xuyên trước đây là trái với quy định tại Nghị định số 161/2018/NĐ-CP). Các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập hầu hết thực hiện nghiêm quy định về việc tuyển dụng, sử dụng, quản lý NLĐ, HĐLĐ theo quy định của Bộ luật Lao động năm 2019 và Nghị định số 111/2022/NĐ-CP. HĐLĐ được ký kết bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp về tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và các chế độ khác theo quy định pháp luật.

3.2. Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân

Thứ nhất, thực tế hiện nay, một số cơ quan hành chính vẫn có tình trạng ký kết HĐLĐ với cá nhân để thực hiện công việc chuyên môn, nghiệp vụ. Cá biệt có tình trạng cơ quan hành chính ký HĐLĐ đối với công việc hỗ trợ, phục vụ nhưng lại bố trí làm chuyên môn, nghiệp vụ. Nguyên nhân của tình trạng này chủ yếu xuất phát từ việc biên chế tại một số cơ quan còn hạn chế nhưng do khối lượng công việc ở các cơ quan này khá lớn nên tạm thời thực hiện việc tuyển dụng HĐLĐ để đáp ứng yêu cầu công việc.

Thứ hai, việc ký kết HĐLĐ ở một số cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập còn lộn xộn, chưa đi vào nền nếp, vẫn còn tình trạng vi phạm pháp luật lao động. HĐLĐ ở một số nơi còn sơ sài, chưa bảo đảm các nội dung chủ yếu theo quy định. Tình trạng giao kết HĐLĐ xác định thời hạn quá 02 lần trở nên phổ biến. Tiền lương chủ yếu do các bên thỏa thuận trong HĐLĐ và bảo đảm trên mức lương tối thiểu do Chính phủ quy định nhưng hầu hết các cơ quan, đơn vị đều chưa xây dựng thang lương, bảng lương, định mức lao động làm căn cứ thỏa thuận, ghi vào HĐLĐ và thực hiện chế độ nâng bậc, nâng lương cho NLĐ.

Thứ ba, một số đơn vị sự nghiệp công lập gặp khó khăn trong việc trả lương cho NLĐ do kinh phí còn hạn chế. Điều này đã ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập, đời sống, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ trong quan hệ lao động.

Thứ tư, một số cơ quan, đơn vị tuy có nhu cầu về các công việc hỗ trợ, phục vụ chưa ưu tiên tìm kiếm đơn vị cung cấp dịch vụ để ký kết hợp đồng dịch vụ theo quy định pháp luật dân sự mà lại ưu tiên ký HĐLĐ. Bởi vì, thực tế hiện nay, một số cơ quan, đơn vị, đặc biệt là ở những vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa thì việc tìm kiếm được đơn vị cung cấp dịch vụ đáp ứng yêu cầu cũng gặp nhiều khó khăn. Trong khi đó, chi phí cho việc thuê dịch vụ đối với một số công việc hỗ trợ, phục vụ thường cao hơn, việc quản lý cũng gặp nhiều khó khăn hơn so với NLĐ làm việc theo HĐLĐ.

Thứ năm, một số đơn vị nhóm 3 tự bảo đảm dưới 70% chi thường xuyên hoặc chưa được giao quyền tự chủ tài chính khi ký kết chưa báo cáo cơ quan có thẩm quyền quản lý đơn vị sự nghiệp công lập thống nhất trước khi thực hiện là chưa đúng quy định tại Điều 9 Nghị định số 111/2022/NĐ-CP.

Ngoài ra, một số cơ quan, đơn vị vẫn còn gặp các khó khăn, vướng mắt khi chuyển sang ký HĐLĐ mới theo Nghị định số 111/2022/NĐ-CP[1].

4. Một số đề xuất, kiến nghị nâng cao hiệu quả thực hiện hợp đồng lao động tại các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp theo quy định pháp luật hiện hành

Một là, HĐLĐ phải được ký kết theo quy định pháp luật lao động và Nghị định số 111/2022/NĐ-CP. Khi ký kết, các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập và cá nhân phải đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn, đúng thẩm quyền theo quy định. NSDLĐ có trách nhiệm quan tâm đến chế độ, chính sách và bảo đảm quyền lợi hợp pháp của NLĐ.

Hai là, về chế độ tiền lương đối với NLĐ làm việc theo HĐLĐ tại các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập hiện nay được thực hiện theo thỏa thuận trong HĐLĐ. Đối với HĐLĐ thực hiện công việc hỗ trợ, phục vụ có thể áp dụng một trong hai hình thức: Áp dụng mức tiền lương theo thỏa thuận phù hợp với quy định của pháp luật lao động hoặc áp dụng tiền lương theo bảng lương của công chức, viên chức phù hợp với khả năng ngân sách của cơ quan, tổ chức, đơn vị.

Ba là, cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập không được dùng hình thức ký kết HĐLĐ để thay thế cho việc tuyển dụng công chức, viên chức theo quy định tại khoản 5 Điều 3 Nghị định số 111/2022/NĐ-CP. Bởi vì, người làm việc theo chế độ HĐLĐ trong cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập không thuộc biên chế, số lượng người làm việc hưởng lương từ ngân sách nhà nước được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Bốn là, theo khoản 1 Điều 6 Nghị định số 111/2022/NĐ-CP thì cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập chỉ được phép ký kết HĐLĐ để thực hiện công việc hỗ trợ, phục vụ trong trường hợp không có đơn vị cung cấp dịch vụ đáp ứng yêu cầu bởi các công việc này ưu tiên ký hợp đồng dịch vụ theo pháp luật dân sự. Do vậy, nếu có nhu cầu đối với công việc hỗ trợ, phục vụ thì trước tiên, cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp phải tìm kiếm tổ chức cung cấp dịch vụ đáp ứng đầy đủ điều kiện hoạt động theo quy định của pháp luật, bảo đảm chế độ cho NLĐ theo quy định của pháp luật lao động và quy định của pháp luật khác có liên quan. Trong trường hợp không có đơn vị cung cấp dịch vụ đáp ứng yêu cầu mới được phép ký kết HĐLĐ đối với các công việc này.

Năm là, các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập khi ký HĐLĐ với cá nhân thực hiện theo mẫu HĐLĐ thống nhất. Trên cơ sở quy định của Bộ luật Lao động năm 2019, Nghị định số 111/2022/NĐ-CP và thực tiễn sử dụng lao động tại các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, Bộ Nội vụ đã có hướng dẫn về biểu mẫu HĐLĐ tại Phụ lục II ban hành kèm theo Thông tư số 05/2023/TT-BNV ngày 03/5/2023 hướng dẫn mẫu hợp đồng dịch vụ và mẫu HĐLĐ đối với một số loại công việc trong cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập (bao gồm HĐLĐ thực hiện công việc chuyên môn, nghiệp vụ và HĐLĐ thực hiện công việc hỗ trợ, phục vụ). Việc thực hiện ký HĐLĐ theo mẫu thống nhất bảo đảm các nội dung chủ yếu theo quy định, phù hợp với điều kiện thực tiễn tại các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập.

Sáu là, Nghị định số 111/2022/NĐ-CP quy định rõ về kinh phí thực hiện ký hợp đồng để giải quyết khó khăn, vướng mắc từ thực tiễn thực hiện và bảo đảm kinh phí triển khai thực hiện. Đối với cơ quan hành chính, kinh phí thực hiện hợp đồng công việc hỗ trợ, phục vụ từ nguồn ngân sách nhà nước, nguồn thu khác (nếu có), nằm ngoài quỹ lương của cơ quan. Đối với đơn vị sự nghiệp công lập, kinh phí thực hiện HĐLĐ công việc hỗ trợ, phục vụ, chuyên môn, nghiệp vụ thực hiện theo quy định của pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập, theo quy định của pháp luật về phân cấp ngân sách. Đối với các đơn vị thực hiện cơ chế tài chính đặc thù thì thực hiện theo cơ chế tài chính đặc thù do cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Bảy là, các đơn vị sử dụng lao động căn cứ pháp luật lao động hiện hành và mức lương tối thiểu do Chính phủ quy định để xây dựng thang lương, bảng lương, định mức lao động làm căn cứ thỏa thuận, ghi vào HĐLĐ và thực hiện chế độ nâng bậc, nâng lương đối với NLĐ theo quy định. Tại khoản 1 Điều 93 Bộ luật Lao động năm 2019 có quy định về nghĩa vụ xây dựng thang lương, bảng lương, định mức lao động như sau: “NSDLĐ phải xây dựng thang lương, bảng lương và định mức lao động làm cơ sở để tuyển dụng, sử dụng lao động, thỏa thuận mức lương theo công việc hoặc chức danh ghi trong HĐLĐ và trả lương cho NLĐ”. Việc xây dựng thang lương, bảng lương cần bảo đảm nguyên tắc mức lương thấp nhất (bậc 1) trong thang lương, bảng lương không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Chính phủ quy định; có sự cân đối, hài hòa, hợp lý giữa điều kiện trả lương thực tế của các cơ quan, đơn vị và quyền lợi của NLĐ, nhất là đối với NLĐ có thâm niên công tác, cống hiến lâu năm nhằm khuyến khích họ tích lũy kinh nghiệm, nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ thuật, nghiệp vụ. Thang lương, bảng lương và định mức lao động khi xây dựng phải tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện NLĐ tại cơ sở đối với nơi có tổ chức đại diện NLĐ tại cơ sở và được công khai tại nơi làm việc trước khi thực hiện.

Tám là, cơ quan có thẩm quyền tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc xử lý vi phạm trong việc giao kết, thực hiện HĐLĐ ở các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập. Đồng thời, hướng dẫn các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp thực hiện chuyển đổi từ HĐLĐ được giao kết theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP, Nghị định số 161/2018/NĐ-CP trước đây sang thực hiện Nghị định số 111/2022/NĐ-CP và giải quyết thôi việc, tinh giản biên chế, giải quyết chế độ, chính sách liên quan đối với các trường hợp theo quy định./.

Lê Văn Lý

Trường Cao đẳng Luật miền Nam

[1]. Nguyễn Hải (2024), “Vướng mắc liên quan đến hợp đồng lao động tại đơn vị sự nghiệp công lập ở Nghệ An”, Báo Nghệ An điện tử, https://baonghean.vn/vuong-mac-lien-quan-den-hop-dong-lao-dong-tai-don-vi-su-nghiep-cong-lap-o-nghe-an-post288197.html, truy cập ngày 14/5/2024.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 407), tháng 6/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Theo dõi chúng tôi trên: