Thứ tư 11/03/2026 18:13
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Khái niệm thương nhân trong mối quan hệ với một số khái niệm thuộc lĩnh vực thương mại

Bài viết đánh giá bất cập của quy định pháp luật hiện hành về khái niệm thương nhân trong mối quan hệ với một số khái niệm khác (như hoạt động thương mại; cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh; doanh nghiệp), từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về những khái niệm này.

Khái niệm thương nhân có ý nghĩa rất quan trọng trong xây dựng, hoàn thiện và thực hiện pháp luật kinh doanh, thương mại. Bởi vì, thương nhân là chủ thể chủ yếu của quan hệ pháp luật kinh doanh, thương mại. Tuy nhiên, khái niệm thương nhân được xây dựng trong Luật Thương mại năm 2005 chưa thực sự phù hợp về kỹ thuật lập pháp nên dẫn đến những cách hiểu khác nhau. Ngoài ra, hiện nay còn một số khái niệm có liên quan trực tiếp hoặc có nhiều điểm dễ gây nhầm lẫn với khái niệm thương nhân (như khái niệm hoạt động thương mại; cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh; doanh nghiệp). Do đó, việc nghiên cứu chỉ ra những điểm thống nhất trong các quy định của pháp luật về khái niệm thương nhân đặt trong mối quan hệ với một số khái niệm khác là cần thiết.

1. Khái niệm thương nhân

Trong pháp luật thương mại của các quốc gia trên thế giới có hai cách thức chủ yếu khi định nghĩa thương nhân, đó là: Định nghĩa theo bản chất của hành vi mà thương nhân thực hiện (hành vi thương mại); định nghĩa theo bản chất của hành vi mà thương nhân thực hiện (hành vi thương mại) và theo hình thức (đăng ký thành lập)[1]. Ở Việt Nam, khái niệm thương nhân được quy định chính thức trong khoản 1 Điều 6 Luật Thương mại năm 2005, cụ thể: “Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh”. Như vậy, thương nhân gồm hai nhóm: (i) Thương nhân là tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp. Theo quy định của Luật Đầu tư năm 2020, tổ chức kinh tế là tổ chức được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam, gồm doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và tổ chức khác thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh. Do đó, thương nhân là tổ chức kinh tế thì chắc chắn có hoạt động thương mại; (ii) Thương nhân là cá nhân phải có hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh. Như vậy, cách định nghĩa thương nhân trong pháp luật Việt Nam được quy định theo hướng khẳng định bản chất của hành vi mà thương nhân thực hiện và đáp ứng điều kiện đăng ký thành lập với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

- Có hoạt động thương mại được xác định là bản chất cố hữu của thương nhân. Thậm chí, pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới chỉ cần xác định thương nhân thông qua dấu hiệu có hoạt động thương mại. Tất nhiên, chúng ta phải hiểu rằng hoạt động thương mại đó do thương nhân thực hiện phải độc lập, nhân danh chính mình và vì lợi ích của bản thân mình[2]. Ví dụ: Công ty cổ phần A là tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp và có các hoạt động thương mại nhân danh chính Công ty và vì lợi ích của chính Công ty. Tuy nhiên, Công ty cổ phần A có thuê ông Nguyễn Văn B làm giám đốc và thay mặt công ty kí các hợp đồng kinh doanh, thương mại với đối tác. Mặc dù, Giám đốc Nguyễn Văn B có thực hiện các hoạt động thương mại nhưng không có tính độc lập, nhân danh chính mình nên Giám đốc Nguyễn Văn B không phải là thương nhân. Bên cạnh đó, thương nhân phải coi hoạt động thương mại mang tính chất nghề nghiệp thường xuyên. Tiêu chí này khó để lượng hóa nhưng thông thường để xác định một công việc ai đó thực hiện có mang tính nghề nghiệp thường xuyên hay không phụ thuộc vào một số yếu tố sau: Công việc đó phải được thực hiện liên tục (hàng ngày, hàng tuần); công việc đó mang lại nguồn thu nhập chính cho chủ thể thực hiện; chủ thể có trình độ chuyên môn về công việc đó.

- Dấu hiệu đăng ký thành lập không bắt buộc trong pháp luật của các quốc gia. Đăng ký thành lập để pháp luật công nhận sự tồn tại của thương nhân. Dưới góc độ quản lý nhà nước, việc đăng ký thành lập còn giúp nhà nước xác định được số lượng và kiểm soát được hoạt động của thương nhân, hạn chế các hành vi vi phạm pháp luật do thương nhân thực hiện. Pháp luật thương mại của Việt Nam (từ Luật Thương mại năm 1997 và Luật Thương mại năm 2005) đều xác định dấu hiệu “đăng ký kinh doanh” khi định nghĩa về thương nhân.

2. Mối quan hệ giữa khái niệm thương nhân và một số khái niệm khác

2.1. Khái niệm thương nhân và khái niệm hoạt động thương mại

Khái niệm hoạt động thương mại có quan hệ mật thiết với khái niệm thương nhân, hay nói cách khác, khái niệm thương nhân luôn gắn liền với khái niệm hoạt động thương mại. Bởi vì như đã phân tích, xét về bản chất thương nhân phải hoạt động thương mại. Tuy nhiên, khái niệm hoạt động thương mại đang xây dựng không phù hợp nên chưa phản ánh hết được bản chất của thương nhân. Theo Từ điển tiếng Việt: “Hoạt động là tiến hành những việc làm có quan hệ với nhau chặt chẽ nhằm một mục đích nhất định trong đời sống xã hội”[3] và “hành vi là toàn bộ nói chung những phản ứng, cách cư xử biểu hiện ra bên ngoài của một người trong một hoàn cảnh cụ thể nhất định”[4]. Theo cách định nghĩa này, rõ ràng nội hàm hai khái niệm “hoạt động” và “hành vi” là khác nhau. Hành vi có tính cụ thể hơn so với hoạt động, hay nói cách khác, hành vi được xem xét trong những hoàn cảnh cụ thể còn hoạt động có thể là chuỗi các hành vi và hoạt động cũng có ý chỉ một sự vật, hiện tượng vẫn còn tồn tại. Hành vi có thể xuất phát từ ý chí chủ quan một phía của chủ thể mà không nhất thiết phải có quan hệ qua lại với chủ thể đối ứng. Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng thừa nhận “hành vi pháp lý đơn phương” là một trong căn cứ xác lập quyền dân sự (khoản 2 Điều 8). Trong Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật của Trường Đại học Luật Hà Nội khi phân tích về hành vi vi phạm pháp luật đã khẳng định, hành vi vi phạm pháp luật có hai dạng là hành động (làm những việc mà pháp luật cấm) và không hành động (không làm những việc mà pháp luật yêu cầu)[5]. Chúng ta có thể vận dụng để khẳng định hành vi thương mại (hành vi hợp pháp) cũng bao gồm hành động (làm những việc mà pháp luật yêu cầu, cho phép) và không hành động (không làm những việc mà pháp luật cấm). Do đó, tác giả cho rằng, việc Luật Thương mại năm 2005 sử dụng thuật ngữ “hoạt động thương mại” mà không phải là “hành vi thương mại” là chưa phù hợp.

2.2. Khái niệm thương nhân và khái niệm cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh

Thực chất, pháp luật của các quốc gia đều khẳng định thương nhân phải thực hiện hành vi thương mại còn vấn đề có đăng ký thành lập với cơ quan nhà nước có thẩm quyền hay không phụ thuộc vào quan điểm làm luật của từng quốc gia. Ở Việt Nam, đăng ký thành lập với cơ quan nhà nước có thẩm quyền là điều kiện bắt buộc của thương nhân. Bởi vì, nền kinh tế của Việt Nam đang phát triển, các chủ thể có hoạt động thương mại đa dạng (bao gồm cả những chủ thể có hoạt động thương mại ở phạm vi rộng, doanh thu và lợi nhuận lớn và cả những chủ thể hoạt động thương mại ở phạm vi hẹp, doanh thu và lợi nhuận nhỏ) nên việc đặt ra yêu cầu về đăng ký thành lập là một trong những cơ sở để phân biệt hai nhóm chủ thể này. Cụ thể, Nghị định số 39/2007/NĐ-CP ngày 16/3/2007 của Chính phủ về hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh (Nghị định số 39/2007/NĐ-CP) xác định cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên không thuộc đối tượng phải đăng ký kinh doanh. Những cá nhân thường có hoạt động thương mại nhỏ lẻ như: Buôn bán rong (buôn bán dạo); buôn bán vặt; bán quà vặt; buôn chuyến; thực hiện các dịch vụ: Đánh giày, bán vé số, chữa khóa, sửa chữa xe, trông giữ xe, rửa xe, cắt tóc, vẽ tranh, chụp ảnh và các dịch vụ khác có hoặc không có địa điểm cố định. Mặc dù, những chủ thể này cũng có hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh và không phải thương nhân.

Tại Điều 7 Luật Thương mại năm 2005 quy định: “Thương nhân có nghĩa vụ đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật. Trường hợp chưa đăng ký kinh doanh, thương nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của mình theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật”. Tác giả cho rằng, không cần thiết phải xác định trách nhiệm của thương nhân khi chưa đăng ký kinh doanh bởi điều đó mâu thuẫn với cách định nghĩa về thương nhân. Rõ ràng, chủ thể mà chưa thực hiện thủ tục đăng ký kinh doanh thì không thể gọi là thương nhân. Hơn nữa, Luật Thương mại năm 2005 (khoản 3 Điều 2), Nghị định số 39/2007/NĐ-CP (Điều 4) đã xác định trách nhiệm của chủ thể hoạt động thương mại mà không có đăng ký kinh doanh.

2.3. Khái niệm thương nhân và khái niệm doanh nghiệp

Hiện nay, khái niệm doanh nghiệp được quy định chính thức trong Luật Doanh nghiệp năm 2020. Cụ thể: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh” (khoản 10 Điều 4). Các loại hình doanh nghiệp gồm có: Doanh nghiệp tư nhân, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, Công ty cổ phần, Công ty hợp danh. Trong số các doanh nghiệp kể trên chỉ có doanh nghiệp tư nhân là không có tư cách pháp nhân.

Doanh nghiệp tư nhân có những đặc điểm pháp lý cơ bản như: (i) Do một cá nhân làm chủ sở hữu; (ii) Chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp; (iii) Doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân; (iv) Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành chứng khoán để huy động vốn. Xem xét các đặc điểm pháp lý này, chúng ta thấy rằng tư cách chủ thể của doanh nghiệp tư nhân không độc lập với tư cách chủ thể của chủ sở hữu doanh nghiệp. Thậm chí, nhiều quy định trong Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định chủ doanh nghiệp tư nhân có toàn quyền với hoạt động của doanh nghiệp tư nhân, ví dụ: Chủ doanh nghiệp tư nhân có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân, việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã nộp thuế và thực hiện nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật (khoản 1 Điều 190).

Thế nhưng, chính Luật Doanh nghiệp năm 2020 cũng có một số quy định khẳng định chủ doanh nghiệp tư nhân chỉ là người đại diện cho doanh nghiệp tư nhân. Thay vì quy định “chủ doanh nghiệp tư nhân là nguyên đơn, bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài hoặc Toà án trong các tranh chấp liên quan đến doanh nghiệp” như Luật Doanh nghiệp năm 2014 (Điều 185) thì Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định “chủ doanh nghiệp tư nhân là người đại diện theo pháp luật, đại diện cho doanh nghiệp tư nhân với tư cách người yêu cầu giải quyết việc dân sự, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài, Toà án, đại diện cho doanh nghiệp tư nhân thực hiện quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật” (Điều 190). Do đó, các quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020 không giúp chúng ta xác định được doanh nghiệp tư nhân là thương nhân là tổ chức hay thương nhân là cá nhân[6].

3. Hoàn thiện quy định của pháp luật về khái niệm thương nhân trong mối quan hệ với một số khái niệm khác

Thứ nhất, hoàn thiện khái niệm thương nhân về kỹ thuật lập pháp. Theo đó, trong khái niệm thương nhân, cụm từ “hoạt động thương mại” cần được thay thế bằng cụm từ “hành vi thương mại”. Việc gắn cụm từ hành vi thương mại vào trong khái niệm thương nhân như vậy giúp phản ánh đúng bản chất của thương nhân. Đồng thời, trong các quy định khác, Luật Thương mại năm 2005 không sử dụng thuật ngữ “hoạt động thương mại” mà thay bằng thuật ngữ “hành vi thương mại” để đảm bảo tính thống nhất trong các quy phạm pháp luật.

Thứ hai, sửa đổi khái niệm thương nhân theo hướng xác định thương nhân bao gồm cá nhân và pháp nhân. Bởi vì, việc sử dụng thuật ngữ “tổ chức kinh tế” đã gây khó khăn cho việc xác định tư cách thương nhân của doanh nghiệp tư nhân. Trong khi đó, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định tại khoản 1 Điều 101 như sau: “Trường hợp hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân tham gia quan hệ dân sự thì các thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân là chủ thể tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự. Việc ủy quyền phải được lập thành văn bản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Khi có sự thay đổi người đại diện thì phải thông báo cho bên tham gia quan hệ dân sự biết”. Có nghĩa rằng, tổ chức không có tư cách pháp nhân không được quyền đứng tên là chủ thể tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự. Do đó, nếu Luật Thương mại năm 2005 xác định thương nhân bao gồm cá nhân và pháp nhân thì đương nhiên doanh nghiệp tư nhân không phải thương nhân mà chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân mới là thương nhân.

Ngoài ra, trong khoảng thời gian dài, việc pháp luật quy định về doanh nghiệp tư nhân (và một số tổ chức không có tư cách pháp nhân khác như hộ kinh doanh, tổ hợp tác) vì những đặc thù của nền kinh tế Việt Nam. Chúng ta phải thừa nhận rằng, doanh nghiệp tư nhân và một số tổ chức không có tư cách pháp nhân đã có vị trí, vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam thời gian qua. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại, sau hơn 30 năm đổi mới, việc thừa nhận doanh nghiệp tư nhân (và các tổ chức không có tư cách pháp nhân khác) không còn phù hợp với tình hình mới. Do đó, pháp luật cần được thay đổi theo hướng chỉ thừa nhận thương nhân là pháp nhân và thương nhân là cá nhân, đồng thời xây dựng quy chế pháp lý cho thương nhân là cá nhân độc lập với Luật Công ty (tách doanh nghiệp tư nhân ra khỏi Luật Doanh nghiệp và Luật Doanh nghiệp đổi tên thành Luật Công ty).

Thứ ba, bãi bỏ quy định tại Điều 7 Luật Thương mại năm 2005 vì trong định nghĩa thương nhân đã khẳng định thương nhân phải đăng ký thành lập. Việc đưa quy định tại Điều 7 của Luật Thương mại năm 2005 bị thừa, không đúng quan điểm về thương nhân và mâu thuẫn với quy định tại Nghị định số 39/2007/NĐ-CP. Việc bãi bỏ Điều 7 Luật Thương mại năm 2005 cũng góp phần tạo nên cách hiểu đúng về khái niệm thương nhân và chủ thể có hành vi thương mại độc lập, thường xuyên không đăng ký kinh doanh.

4. Kết luận

Bài viết đã chỉ ra những điểm bất cập trong khái niệm thương nhân cả về kỹ thuật lập pháp và về việc xác định các loại thương nhân. Đồng thời, bài viết chỉ ra được sự bất cập của khái niệm thương nhân trong mối quan hệ với các khái niệm khác như: Khái niệm hoạt động thương mại; khái niệm cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh; khái niệm doanh nghiệp. Trên cơ sở phân tích đó, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về các nội dung này, cụ thể: (i) Thay cụm từ “hoạt động thương mại” bằng cụm từ “hành vi thương mại”. (ii) Sửa đổi khái niệm thương nhân theo hướng xác định thương bao gồm cá nhân và pháp nhân. Đồng thời, Nhà nước nên nghiên cứu xây dựng văn bản độc lập về quy chế pháp lý đối với thương nhân là cá nhân. (iii) Bãi bỏ quy định tại Điều 7 Luật Thương mại năm 2005./.

Luyện Thị Thùy Nhung

Trường Đại học Văn hóa Hà Nội

[1]. PGS.TS. Ngô Huy Cương, Giáo trình Luật thương mại phần chung và thương nhân, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 66 - 69.

[2]. PGS. Nguyễn Viết Tý, TS. Nguyễn Thị Dung, Giáo trình Luật thương mại 1, Nxb. Tư pháp, 2017, tr. 62.

[3]. Viện Ngôn ngữ học (2004), Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, tr. 452.

[4]. Viện Ngôn ngữ học (2004), tlđd, tr. 423.

[5]. Trường Đại học Luật Hà Nội (2016), Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật, Nxb. Tư pháp, tr. 425.

[6]. Phạm Duy Nghĩa, Giáo trình Luật kinh tế - tập 1: Luật Doanh nghiệp, Tình huống - Phân tích - Bình luận, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2006, tr. 45 - 46.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 403), tháng 4/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.

Theo dõi chúng tôi trên: