Thứ bảy 02/05/2026 21:43
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Khái niệm thương nhân trong mối quan hệ với một số khái niệm thuộc lĩnh vực thương mại

Bài viết đánh giá bất cập của quy định pháp luật hiện hành về khái niệm thương nhân trong mối quan hệ với một số khái niệm khác (như hoạt động thương mại; cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh; doanh nghiệp), từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về những khái niệm này.

Khái niệm thương nhân có ý nghĩa rất quan trọng trong xây dựng, hoàn thiện và thực hiện pháp luật kinh doanh, thương mại. Bởi vì, thương nhân là chủ thể chủ yếu của quan hệ pháp luật kinh doanh, thương mại. Tuy nhiên, khái niệm thương nhân được xây dựng trong Luật Thương mại năm 2005 chưa thực sự phù hợp về kỹ thuật lập pháp nên dẫn đến những cách hiểu khác nhau. Ngoài ra, hiện nay còn một số khái niệm có liên quan trực tiếp hoặc có nhiều điểm dễ gây nhầm lẫn với khái niệm thương nhân (như khái niệm hoạt động thương mại; cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh; doanh nghiệp). Do đó, việc nghiên cứu chỉ ra những điểm thống nhất trong các quy định của pháp luật về khái niệm thương nhân đặt trong mối quan hệ với một số khái niệm khác là cần thiết.

1. Khái niệm thương nhân

Trong pháp luật thương mại của các quốc gia trên thế giới có hai cách thức chủ yếu khi định nghĩa thương nhân, đó là: Định nghĩa theo bản chất của hành vi mà thương nhân thực hiện (hành vi thương mại); định nghĩa theo bản chất của hành vi mà thương nhân thực hiện (hành vi thương mại) và theo hình thức (đăng ký thành lập)[1]. Ở Việt Nam, khái niệm thương nhân được quy định chính thức trong khoản 1 Điều 6 Luật Thương mại năm 2005, cụ thể: “Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh”. Như vậy, thương nhân gồm hai nhóm: (i) Thương nhân là tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp. Theo quy định của Luật Đầu tư năm 2020, tổ chức kinh tế là tổ chức được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam, gồm doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và tổ chức khác thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh. Do đó, thương nhân là tổ chức kinh tế thì chắc chắn có hoạt động thương mại; (ii) Thương nhân là cá nhân phải có hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh. Như vậy, cách định nghĩa thương nhân trong pháp luật Việt Nam được quy định theo hướng khẳng định bản chất của hành vi mà thương nhân thực hiện và đáp ứng điều kiện đăng ký thành lập với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

- Có hoạt động thương mại được xác định là bản chất cố hữu của thương nhân. Thậm chí, pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới chỉ cần xác định thương nhân thông qua dấu hiệu có hoạt động thương mại. Tất nhiên, chúng ta phải hiểu rằng hoạt động thương mại đó do thương nhân thực hiện phải độc lập, nhân danh chính mình và vì lợi ích của bản thân mình[2]. Ví dụ: Công ty cổ phần A là tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp và có các hoạt động thương mại nhân danh chính Công ty và vì lợi ích của chính Công ty. Tuy nhiên, Công ty cổ phần A có thuê ông Nguyễn Văn B làm giám đốc và thay mặt công ty kí các hợp đồng kinh doanh, thương mại với đối tác. Mặc dù, Giám đốc Nguyễn Văn B có thực hiện các hoạt động thương mại nhưng không có tính độc lập, nhân danh chính mình nên Giám đốc Nguyễn Văn B không phải là thương nhân. Bên cạnh đó, thương nhân phải coi hoạt động thương mại mang tính chất nghề nghiệp thường xuyên. Tiêu chí này khó để lượng hóa nhưng thông thường để xác định một công việc ai đó thực hiện có mang tính nghề nghiệp thường xuyên hay không phụ thuộc vào một số yếu tố sau: Công việc đó phải được thực hiện liên tục (hàng ngày, hàng tuần); công việc đó mang lại nguồn thu nhập chính cho chủ thể thực hiện; chủ thể có trình độ chuyên môn về công việc đó.

- Dấu hiệu đăng ký thành lập không bắt buộc trong pháp luật của các quốc gia. Đăng ký thành lập để pháp luật công nhận sự tồn tại của thương nhân. Dưới góc độ quản lý nhà nước, việc đăng ký thành lập còn giúp nhà nước xác định được số lượng và kiểm soát được hoạt động của thương nhân, hạn chế các hành vi vi phạm pháp luật do thương nhân thực hiện. Pháp luật thương mại của Việt Nam (từ Luật Thương mại năm 1997 và Luật Thương mại năm 2005) đều xác định dấu hiệu “đăng ký kinh doanh” khi định nghĩa về thương nhân.

2. Mối quan hệ giữa khái niệm thương nhân và một số khái niệm khác

2.1. Khái niệm thương nhân và khái niệm hoạt động thương mại

Khái niệm hoạt động thương mại có quan hệ mật thiết với khái niệm thương nhân, hay nói cách khác, khái niệm thương nhân luôn gắn liền với khái niệm hoạt động thương mại. Bởi vì như đã phân tích, xét về bản chất thương nhân phải hoạt động thương mại. Tuy nhiên, khái niệm hoạt động thương mại đang xây dựng không phù hợp nên chưa phản ánh hết được bản chất của thương nhân. Theo Từ điển tiếng Việt: “Hoạt động là tiến hành những việc làm có quan hệ với nhau chặt chẽ nhằm một mục đích nhất định trong đời sống xã hội”[3] và “hành vi là toàn bộ nói chung những phản ứng, cách cư xử biểu hiện ra bên ngoài của một người trong một hoàn cảnh cụ thể nhất định”[4]. Theo cách định nghĩa này, rõ ràng nội hàm hai khái niệm “hoạt động” và “hành vi” là khác nhau. Hành vi có tính cụ thể hơn so với hoạt động, hay nói cách khác, hành vi được xem xét trong những hoàn cảnh cụ thể còn hoạt động có thể là chuỗi các hành vi và hoạt động cũng có ý chỉ một sự vật, hiện tượng vẫn còn tồn tại. Hành vi có thể xuất phát từ ý chí chủ quan một phía của chủ thể mà không nhất thiết phải có quan hệ qua lại với chủ thể đối ứng. Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng thừa nhận “hành vi pháp lý đơn phương” là một trong căn cứ xác lập quyền dân sự (khoản 2 Điều 8). Trong Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật của Trường Đại học Luật Hà Nội khi phân tích về hành vi vi phạm pháp luật đã khẳng định, hành vi vi phạm pháp luật có hai dạng là hành động (làm những việc mà pháp luật cấm) và không hành động (không làm những việc mà pháp luật yêu cầu)[5]. Chúng ta có thể vận dụng để khẳng định hành vi thương mại (hành vi hợp pháp) cũng bao gồm hành động (làm những việc mà pháp luật yêu cầu, cho phép) và không hành động (không làm những việc mà pháp luật cấm). Do đó, tác giả cho rằng, việc Luật Thương mại năm 2005 sử dụng thuật ngữ “hoạt động thương mại” mà không phải là “hành vi thương mại” là chưa phù hợp.

2.2. Khái niệm thương nhân và khái niệm cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh

Thực chất, pháp luật của các quốc gia đều khẳng định thương nhân phải thực hiện hành vi thương mại còn vấn đề có đăng ký thành lập với cơ quan nhà nước có thẩm quyền hay không phụ thuộc vào quan điểm làm luật của từng quốc gia. Ở Việt Nam, đăng ký thành lập với cơ quan nhà nước có thẩm quyền là điều kiện bắt buộc của thương nhân. Bởi vì, nền kinh tế của Việt Nam đang phát triển, các chủ thể có hoạt động thương mại đa dạng (bao gồm cả những chủ thể có hoạt động thương mại ở phạm vi rộng, doanh thu và lợi nhuận lớn và cả những chủ thể hoạt động thương mại ở phạm vi hẹp, doanh thu và lợi nhuận nhỏ) nên việc đặt ra yêu cầu về đăng ký thành lập là một trong những cơ sở để phân biệt hai nhóm chủ thể này. Cụ thể, Nghị định số 39/2007/NĐ-CP ngày 16/3/2007 của Chính phủ về hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh (Nghị định số 39/2007/NĐ-CP) xác định cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên không thuộc đối tượng phải đăng ký kinh doanh. Những cá nhân thường có hoạt động thương mại nhỏ lẻ như: Buôn bán rong (buôn bán dạo); buôn bán vặt; bán quà vặt; buôn chuyến; thực hiện các dịch vụ: Đánh giày, bán vé số, chữa khóa, sửa chữa xe, trông giữ xe, rửa xe, cắt tóc, vẽ tranh, chụp ảnh và các dịch vụ khác có hoặc không có địa điểm cố định. Mặc dù, những chủ thể này cũng có hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh và không phải thương nhân.

Tại Điều 7 Luật Thương mại năm 2005 quy định: “Thương nhân có nghĩa vụ đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật. Trường hợp chưa đăng ký kinh doanh, thương nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của mình theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật”. Tác giả cho rằng, không cần thiết phải xác định trách nhiệm của thương nhân khi chưa đăng ký kinh doanh bởi điều đó mâu thuẫn với cách định nghĩa về thương nhân. Rõ ràng, chủ thể mà chưa thực hiện thủ tục đăng ký kinh doanh thì không thể gọi là thương nhân. Hơn nữa, Luật Thương mại năm 2005 (khoản 3 Điều 2), Nghị định số 39/2007/NĐ-CP (Điều 4) đã xác định trách nhiệm của chủ thể hoạt động thương mại mà không có đăng ký kinh doanh.

2.3. Khái niệm thương nhân và khái niệm doanh nghiệp

Hiện nay, khái niệm doanh nghiệp được quy định chính thức trong Luật Doanh nghiệp năm 2020. Cụ thể: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh” (khoản 10 Điều 4). Các loại hình doanh nghiệp gồm có: Doanh nghiệp tư nhân, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, Công ty cổ phần, Công ty hợp danh. Trong số các doanh nghiệp kể trên chỉ có doanh nghiệp tư nhân là không có tư cách pháp nhân.

Doanh nghiệp tư nhân có những đặc điểm pháp lý cơ bản như: (i) Do một cá nhân làm chủ sở hữu; (ii) Chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp; (iii) Doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân; (iv) Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành chứng khoán để huy động vốn. Xem xét các đặc điểm pháp lý này, chúng ta thấy rằng tư cách chủ thể của doanh nghiệp tư nhân không độc lập với tư cách chủ thể của chủ sở hữu doanh nghiệp. Thậm chí, nhiều quy định trong Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định chủ doanh nghiệp tư nhân có toàn quyền với hoạt động của doanh nghiệp tư nhân, ví dụ: Chủ doanh nghiệp tư nhân có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân, việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã nộp thuế và thực hiện nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật (khoản 1 Điều 190).

Thế nhưng, chính Luật Doanh nghiệp năm 2020 cũng có một số quy định khẳng định chủ doanh nghiệp tư nhân chỉ là người đại diện cho doanh nghiệp tư nhân. Thay vì quy định “chủ doanh nghiệp tư nhân là nguyên đơn, bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài hoặc Toà án trong các tranh chấp liên quan đến doanh nghiệp” như Luật Doanh nghiệp năm 2014 (Điều 185) thì Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định “chủ doanh nghiệp tư nhân là người đại diện theo pháp luật, đại diện cho doanh nghiệp tư nhân với tư cách người yêu cầu giải quyết việc dân sự, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài, Toà án, đại diện cho doanh nghiệp tư nhân thực hiện quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật” (Điều 190). Do đó, các quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020 không giúp chúng ta xác định được doanh nghiệp tư nhân là thương nhân là tổ chức hay thương nhân là cá nhân[6].

3. Hoàn thiện quy định của pháp luật về khái niệm thương nhân trong mối quan hệ với một số khái niệm khác

Thứ nhất, hoàn thiện khái niệm thương nhân về kỹ thuật lập pháp. Theo đó, trong khái niệm thương nhân, cụm từ “hoạt động thương mại” cần được thay thế bằng cụm từ “hành vi thương mại”. Việc gắn cụm từ hành vi thương mại vào trong khái niệm thương nhân như vậy giúp phản ánh đúng bản chất của thương nhân. Đồng thời, trong các quy định khác, Luật Thương mại năm 2005 không sử dụng thuật ngữ “hoạt động thương mại” mà thay bằng thuật ngữ “hành vi thương mại” để đảm bảo tính thống nhất trong các quy phạm pháp luật.

Thứ hai, sửa đổi khái niệm thương nhân theo hướng xác định thương nhân bao gồm cá nhân và pháp nhân. Bởi vì, việc sử dụng thuật ngữ “tổ chức kinh tế” đã gây khó khăn cho việc xác định tư cách thương nhân của doanh nghiệp tư nhân. Trong khi đó, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định tại khoản 1 Điều 101 như sau: “Trường hợp hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân tham gia quan hệ dân sự thì các thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân là chủ thể tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự. Việc ủy quyền phải được lập thành văn bản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Khi có sự thay đổi người đại diện thì phải thông báo cho bên tham gia quan hệ dân sự biết”. Có nghĩa rằng, tổ chức không có tư cách pháp nhân không được quyền đứng tên là chủ thể tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự. Do đó, nếu Luật Thương mại năm 2005 xác định thương nhân bao gồm cá nhân và pháp nhân thì đương nhiên doanh nghiệp tư nhân không phải thương nhân mà chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân mới là thương nhân.

Ngoài ra, trong khoảng thời gian dài, việc pháp luật quy định về doanh nghiệp tư nhân (và một số tổ chức không có tư cách pháp nhân khác như hộ kinh doanh, tổ hợp tác) vì những đặc thù của nền kinh tế Việt Nam. Chúng ta phải thừa nhận rằng, doanh nghiệp tư nhân và một số tổ chức không có tư cách pháp nhân đã có vị trí, vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam thời gian qua. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại, sau hơn 30 năm đổi mới, việc thừa nhận doanh nghiệp tư nhân (và các tổ chức không có tư cách pháp nhân khác) không còn phù hợp với tình hình mới. Do đó, pháp luật cần được thay đổi theo hướng chỉ thừa nhận thương nhân là pháp nhân và thương nhân là cá nhân, đồng thời xây dựng quy chế pháp lý cho thương nhân là cá nhân độc lập với Luật Công ty (tách doanh nghiệp tư nhân ra khỏi Luật Doanh nghiệp và Luật Doanh nghiệp đổi tên thành Luật Công ty).

Thứ ba, bãi bỏ quy định tại Điều 7 Luật Thương mại năm 2005 vì trong định nghĩa thương nhân đã khẳng định thương nhân phải đăng ký thành lập. Việc đưa quy định tại Điều 7 của Luật Thương mại năm 2005 bị thừa, không đúng quan điểm về thương nhân và mâu thuẫn với quy định tại Nghị định số 39/2007/NĐ-CP. Việc bãi bỏ Điều 7 Luật Thương mại năm 2005 cũng góp phần tạo nên cách hiểu đúng về khái niệm thương nhân và chủ thể có hành vi thương mại độc lập, thường xuyên không đăng ký kinh doanh.

4. Kết luận

Bài viết đã chỉ ra những điểm bất cập trong khái niệm thương nhân cả về kỹ thuật lập pháp và về việc xác định các loại thương nhân. Đồng thời, bài viết chỉ ra được sự bất cập của khái niệm thương nhân trong mối quan hệ với các khái niệm khác như: Khái niệm hoạt động thương mại; khái niệm cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh; khái niệm doanh nghiệp. Trên cơ sở phân tích đó, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về các nội dung này, cụ thể: (i) Thay cụm từ “hoạt động thương mại” bằng cụm từ “hành vi thương mại”. (ii) Sửa đổi khái niệm thương nhân theo hướng xác định thương bao gồm cá nhân và pháp nhân. Đồng thời, Nhà nước nên nghiên cứu xây dựng văn bản độc lập về quy chế pháp lý đối với thương nhân là cá nhân. (iii) Bãi bỏ quy định tại Điều 7 Luật Thương mại năm 2005./.

Luyện Thị Thùy Nhung

Trường Đại học Văn hóa Hà Nội

[1]. PGS.TS. Ngô Huy Cương, Giáo trình Luật thương mại phần chung và thương nhân, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 66 - 69.

[2]. PGS. Nguyễn Viết Tý, TS. Nguyễn Thị Dung, Giáo trình Luật thương mại 1, Nxb. Tư pháp, 2017, tr. 62.

[3]. Viện Ngôn ngữ học (2004), Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, tr. 452.

[4]. Viện Ngôn ngữ học (2004), tlđd, tr. 423.

[5]. Trường Đại học Luật Hà Nội (2016), Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật, Nxb. Tư pháp, tr. 425.

[6]. Phạm Duy Nghĩa, Giáo trình Luật kinh tế - tập 1: Luật Doanh nghiệp, Tình huống - Phân tích - Bình luận, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2006, tr. 45 - 46.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 403), tháng 4/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).

Theo dõi chúng tôi trên: