Thứ sáu 16/01/2026 00:24
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Khái niệm thương nhân trong mối quan hệ với một số khái niệm thuộc lĩnh vực thương mại

Bài viết đánh giá bất cập của quy định pháp luật hiện hành về khái niệm thương nhân trong mối quan hệ với một số khái niệm khác (như hoạt động thương mại; cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh; doanh nghiệp), từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về những khái niệm này.

Khái niệm thương nhân có ý nghĩa rất quan trọng trong xây dựng, hoàn thiện và thực hiện pháp luật kinh doanh, thương mại. Bởi vì, thương nhân là chủ thể chủ yếu của quan hệ pháp luật kinh doanh, thương mại. Tuy nhiên, khái niệm thương nhân được xây dựng trong Luật Thương mại năm 2005 chưa thực sự phù hợp về kỹ thuật lập pháp nên dẫn đến những cách hiểu khác nhau. Ngoài ra, hiện nay còn một số khái niệm có liên quan trực tiếp hoặc có nhiều điểm dễ gây nhầm lẫn với khái niệm thương nhân (như khái niệm hoạt động thương mại; cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh; doanh nghiệp). Do đó, việc nghiên cứu chỉ ra những điểm thống nhất trong các quy định của pháp luật về khái niệm thương nhân đặt trong mối quan hệ với một số khái niệm khác là cần thiết.

1. Khái niệm thương nhân

Trong pháp luật thương mại của các quốc gia trên thế giới có hai cách thức chủ yếu khi định nghĩa thương nhân, đó là: Định nghĩa theo bản chất của hành vi mà thương nhân thực hiện (hành vi thương mại); định nghĩa theo bản chất của hành vi mà thương nhân thực hiện (hành vi thương mại) và theo hình thức (đăng ký thành lập)[1]. Ở Việt Nam, khái niệm thương nhân được quy định chính thức trong khoản 1 Điều 6 Luật Thương mại năm 2005, cụ thể: “Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh”. Như vậy, thương nhân gồm hai nhóm: (i) Thương nhân là tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp. Theo quy định của Luật Đầu tư năm 2020, tổ chức kinh tế là tổ chức được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam, gồm doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và tổ chức khác thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh. Do đó, thương nhân là tổ chức kinh tế thì chắc chắn có hoạt động thương mại; (ii) Thương nhân là cá nhân phải có hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh. Như vậy, cách định nghĩa thương nhân trong pháp luật Việt Nam được quy định theo hướng khẳng định bản chất của hành vi mà thương nhân thực hiện và đáp ứng điều kiện đăng ký thành lập với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

- Có hoạt động thương mại được xác định là bản chất cố hữu của thương nhân. Thậm chí, pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới chỉ cần xác định thương nhân thông qua dấu hiệu có hoạt động thương mại. Tất nhiên, chúng ta phải hiểu rằng hoạt động thương mại đó do thương nhân thực hiện phải độc lập, nhân danh chính mình và vì lợi ích của bản thân mình[2]. Ví dụ: Công ty cổ phần A là tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp và có các hoạt động thương mại nhân danh chính Công ty và vì lợi ích của chính Công ty. Tuy nhiên, Công ty cổ phần A có thuê ông Nguyễn Văn B làm giám đốc và thay mặt công ty kí các hợp đồng kinh doanh, thương mại với đối tác. Mặc dù, Giám đốc Nguyễn Văn B có thực hiện các hoạt động thương mại nhưng không có tính độc lập, nhân danh chính mình nên Giám đốc Nguyễn Văn B không phải là thương nhân. Bên cạnh đó, thương nhân phải coi hoạt động thương mại mang tính chất nghề nghiệp thường xuyên. Tiêu chí này khó để lượng hóa nhưng thông thường để xác định một công việc ai đó thực hiện có mang tính nghề nghiệp thường xuyên hay không phụ thuộc vào một số yếu tố sau: Công việc đó phải được thực hiện liên tục (hàng ngày, hàng tuần); công việc đó mang lại nguồn thu nhập chính cho chủ thể thực hiện; chủ thể có trình độ chuyên môn về công việc đó.

- Dấu hiệu đăng ký thành lập không bắt buộc trong pháp luật của các quốc gia. Đăng ký thành lập để pháp luật công nhận sự tồn tại của thương nhân. Dưới góc độ quản lý nhà nước, việc đăng ký thành lập còn giúp nhà nước xác định được số lượng và kiểm soát được hoạt động của thương nhân, hạn chế các hành vi vi phạm pháp luật do thương nhân thực hiện. Pháp luật thương mại của Việt Nam (từ Luật Thương mại năm 1997 và Luật Thương mại năm 2005) đều xác định dấu hiệu “đăng ký kinh doanh” khi định nghĩa về thương nhân.

2. Mối quan hệ giữa khái niệm thương nhân và một số khái niệm khác

2.1. Khái niệm thương nhân và khái niệm hoạt động thương mại

Khái niệm hoạt động thương mại có quan hệ mật thiết với khái niệm thương nhân, hay nói cách khác, khái niệm thương nhân luôn gắn liền với khái niệm hoạt động thương mại. Bởi vì như đã phân tích, xét về bản chất thương nhân phải hoạt động thương mại. Tuy nhiên, khái niệm hoạt động thương mại đang xây dựng không phù hợp nên chưa phản ánh hết được bản chất của thương nhân. Theo Từ điển tiếng Việt: “Hoạt động là tiến hành những việc làm có quan hệ với nhau chặt chẽ nhằm một mục đích nhất định trong đời sống xã hội”[3] và “hành vi là toàn bộ nói chung những phản ứng, cách cư xử biểu hiện ra bên ngoài của một người trong một hoàn cảnh cụ thể nhất định”[4]. Theo cách định nghĩa này, rõ ràng nội hàm hai khái niệm “hoạt động” và “hành vi” là khác nhau. Hành vi có tính cụ thể hơn so với hoạt động, hay nói cách khác, hành vi được xem xét trong những hoàn cảnh cụ thể còn hoạt động có thể là chuỗi các hành vi và hoạt động cũng có ý chỉ một sự vật, hiện tượng vẫn còn tồn tại. Hành vi có thể xuất phát từ ý chí chủ quan một phía của chủ thể mà không nhất thiết phải có quan hệ qua lại với chủ thể đối ứng. Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng thừa nhận “hành vi pháp lý đơn phương” là một trong căn cứ xác lập quyền dân sự (khoản 2 Điều 8). Trong Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật của Trường Đại học Luật Hà Nội khi phân tích về hành vi vi phạm pháp luật đã khẳng định, hành vi vi phạm pháp luật có hai dạng là hành động (làm những việc mà pháp luật cấm) và không hành động (không làm những việc mà pháp luật yêu cầu)[5]. Chúng ta có thể vận dụng để khẳng định hành vi thương mại (hành vi hợp pháp) cũng bao gồm hành động (làm những việc mà pháp luật yêu cầu, cho phép) và không hành động (không làm những việc mà pháp luật cấm). Do đó, tác giả cho rằng, việc Luật Thương mại năm 2005 sử dụng thuật ngữ “hoạt động thương mại” mà không phải là “hành vi thương mại” là chưa phù hợp.

2.2. Khái niệm thương nhân và khái niệm cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh

Thực chất, pháp luật của các quốc gia đều khẳng định thương nhân phải thực hiện hành vi thương mại còn vấn đề có đăng ký thành lập với cơ quan nhà nước có thẩm quyền hay không phụ thuộc vào quan điểm làm luật của từng quốc gia. Ở Việt Nam, đăng ký thành lập với cơ quan nhà nước có thẩm quyền là điều kiện bắt buộc của thương nhân. Bởi vì, nền kinh tế của Việt Nam đang phát triển, các chủ thể có hoạt động thương mại đa dạng (bao gồm cả những chủ thể có hoạt động thương mại ở phạm vi rộng, doanh thu và lợi nhuận lớn và cả những chủ thể hoạt động thương mại ở phạm vi hẹp, doanh thu và lợi nhuận nhỏ) nên việc đặt ra yêu cầu về đăng ký thành lập là một trong những cơ sở để phân biệt hai nhóm chủ thể này. Cụ thể, Nghị định số 39/2007/NĐ-CP ngày 16/3/2007 của Chính phủ về hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh (Nghị định số 39/2007/NĐ-CP) xác định cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên không thuộc đối tượng phải đăng ký kinh doanh. Những cá nhân thường có hoạt động thương mại nhỏ lẻ như: Buôn bán rong (buôn bán dạo); buôn bán vặt; bán quà vặt; buôn chuyến; thực hiện các dịch vụ: Đánh giày, bán vé số, chữa khóa, sửa chữa xe, trông giữ xe, rửa xe, cắt tóc, vẽ tranh, chụp ảnh và các dịch vụ khác có hoặc không có địa điểm cố định. Mặc dù, những chủ thể này cũng có hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh và không phải thương nhân.

Tại Điều 7 Luật Thương mại năm 2005 quy định: “Thương nhân có nghĩa vụ đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật. Trường hợp chưa đăng ký kinh doanh, thương nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của mình theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật”. Tác giả cho rằng, không cần thiết phải xác định trách nhiệm của thương nhân khi chưa đăng ký kinh doanh bởi điều đó mâu thuẫn với cách định nghĩa về thương nhân. Rõ ràng, chủ thể mà chưa thực hiện thủ tục đăng ký kinh doanh thì không thể gọi là thương nhân. Hơn nữa, Luật Thương mại năm 2005 (khoản 3 Điều 2), Nghị định số 39/2007/NĐ-CP (Điều 4) đã xác định trách nhiệm của chủ thể hoạt động thương mại mà không có đăng ký kinh doanh.

2.3. Khái niệm thương nhân và khái niệm doanh nghiệp

Hiện nay, khái niệm doanh nghiệp được quy định chính thức trong Luật Doanh nghiệp năm 2020. Cụ thể: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh” (khoản 10 Điều 4). Các loại hình doanh nghiệp gồm có: Doanh nghiệp tư nhân, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, Công ty cổ phần, Công ty hợp danh. Trong số các doanh nghiệp kể trên chỉ có doanh nghiệp tư nhân là không có tư cách pháp nhân.

Doanh nghiệp tư nhân có những đặc điểm pháp lý cơ bản như: (i) Do một cá nhân làm chủ sở hữu; (ii) Chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp; (iii) Doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân; (iv) Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành chứng khoán để huy động vốn. Xem xét các đặc điểm pháp lý này, chúng ta thấy rằng tư cách chủ thể của doanh nghiệp tư nhân không độc lập với tư cách chủ thể của chủ sở hữu doanh nghiệp. Thậm chí, nhiều quy định trong Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định chủ doanh nghiệp tư nhân có toàn quyền với hoạt động của doanh nghiệp tư nhân, ví dụ: Chủ doanh nghiệp tư nhân có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân, việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã nộp thuế và thực hiện nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật (khoản 1 Điều 190).

Thế nhưng, chính Luật Doanh nghiệp năm 2020 cũng có một số quy định khẳng định chủ doanh nghiệp tư nhân chỉ là người đại diện cho doanh nghiệp tư nhân. Thay vì quy định “chủ doanh nghiệp tư nhân là nguyên đơn, bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài hoặc Toà án trong các tranh chấp liên quan đến doanh nghiệp” như Luật Doanh nghiệp năm 2014 (Điều 185) thì Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định “chủ doanh nghiệp tư nhân là người đại diện theo pháp luật, đại diện cho doanh nghiệp tư nhân với tư cách người yêu cầu giải quyết việc dân sự, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài, Toà án, đại diện cho doanh nghiệp tư nhân thực hiện quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật” (Điều 190). Do đó, các quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020 không giúp chúng ta xác định được doanh nghiệp tư nhân là thương nhân là tổ chức hay thương nhân là cá nhân[6].

3. Hoàn thiện quy định của pháp luật về khái niệm thương nhân trong mối quan hệ với một số khái niệm khác

Thứ nhất, hoàn thiện khái niệm thương nhân về kỹ thuật lập pháp. Theo đó, trong khái niệm thương nhân, cụm từ “hoạt động thương mại” cần được thay thế bằng cụm từ “hành vi thương mại”. Việc gắn cụm từ hành vi thương mại vào trong khái niệm thương nhân như vậy giúp phản ánh đúng bản chất của thương nhân. Đồng thời, trong các quy định khác, Luật Thương mại năm 2005 không sử dụng thuật ngữ “hoạt động thương mại” mà thay bằng thuật ngữ “hành vi thương mại” để đảm bảo tính thống nhất trong các quy phạm pháp luật.

Thứ hai, sửa đổi khái niệm thương nhân theo hướng xác định thương nhân bao gồm cá nhân và pháp nhân. Bởi vì, việc sử dụng thuật ngữ “tổ chức kinh tế” đã gây khó khăn cho việc xác định tư cách thương nhân của doanh nghiệp tư nhân. Trong khi đó, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định tại khoản 1 Điều 101 như sau: “Trường hợp hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân tham gia quan hệ dân sự thì các thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân là chủ thể tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự. Việc ủy quyền phải được lập thành văn bản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Khi có sự thay đổi người đại diện thì phải thông báo cho bên tham gia quan hệ dân sự biết”. Có nghĩa rằng, tổ chức không có tư cách pháp nhân không được quyền đứng tên là chủ thể tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự. Do đó, nếu Luật Thương mại năm 2005 xác định thương nhân bao gồm cá nhân và pháp nhân thì đương nhiên doanh nghiệp tư nhân không phải thương nhân mà chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân mới là thương nhân.

Ngoài ra, trong khoảng thời gian dài, việc pháp luật quy định về doanh nghiệp tư nhân (và một số tổ chức không có tư cách pháp nhân khác như hộ kinh doanh, tổ hợp tác) vì những đặc thù của nền kinh tế Việt Nam. Chúng ta phải thừa nhận rằng, doanh nghiệp tư nhân và một số tổ chức không có tư cách pháp nhân đã có vị trí, vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam thời gian qua. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại, sau hơn 30 năm đổi mới, việc thừa nhận doanh nghiệp tư nhân (và các tổ chức không có tư cách pháp nhân khác) không còn phù hợp với tình hình mới. Do đó, pháp luật cần được thay đổi theo hướng chỉ thừa nhận thương nhân là pháp nhân và thương nhân là cá nhân, đồng thời xây dựng quy chế pháp lý cho thương nhân là cá nhân độc lập với Luật Công ty (tách doanh nghiệp tư nhân ra khỏi Luật Doanh nghiệp và Luật Doanh nghiệp đổi tên thành Luật Công ty).

Thứ ba, bãi bỏ quy định tại Điều 7 Luật Thương mại năm 2005 vì trong định nghĩa thương nhân đã khẳng định thương nhân phải đăng ký thành lập. Việc đưa quy định tại Điều 7 của Luật Thương mại năm 2005 bị thừa, không đúng quan điểm về thương nhân và mâu thuẫn với quy định tại Nghị định số 39/2007/NĐ-CP. Việc bãi bỏ Điều 7 Luật Thương mại năm 2005 cũng góp phần tạo nên cách hiểu đúng về khái niệm thương nhân và chủ thể có hành vi thương mại độc lập, thường xuyên không đăng ký kinh doanh.

4. Kết luận

Bài viết đã chỉ ra những điểm bất cập trong khái niệm thương nhân cả về kỹ thuật lập pháp và về việc xác định các loại thương nhân. Đồng thời, bài viết chỉ ra được sự bất cập của khái niệm thương nhân trong mối quan hệ với các khái niệm khác như: Khái niệm hoạt động thương mại; khái niệm cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh; khái niệm doanh nghiệp. Trên cơ sở phân tích đó, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về các nội dung này, cụ thể: (i) Thay cụm từ “hoạt động thương mại” bằng cụm từ “hành vi thương mại”. (ii) Sửa đổi khái niệm thương nhân theo hướng xác định thương bao gồm cá nhân và pháp nhân. Đồng thời, Nhà nước nên nghiên cứu xây dựng văn bản độc lập về quy chế pháp lý đối với thương nhân là cá nhân. (iii) Bãi bỏ quy định tại Điều 7 Luật Thương mại năm 2005./.

Luyện Thị Thùy Nhung

Trường Đại học Văn hóa Hà Nội

[1]. PGS.TS. Ngô Huy Cương, Giáo trình Luật thương mại phần chung và thương nhân, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 66 - 69.

[2]. PGS. Nguyễn Viết Tý, TS. Nguyễn Thị Dung, Giáo trình Luật thương mại 1, Nxb. Tư pháp, 2017, tr. 62.

[3]. Viện Ngôn ngữ học (2004), Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, tr. 452.

[4]. Viện Ngôn ngữ học (2004), tlđd, tr. 423.

[5]. Trường Đại học Luật Hà Nội (2016), Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật, Nxb. Tư pháp, tr. 425.

[6]. Phạm Duy Nghĩa, Giáo trình Luật kinh tế - tập 1: Luật Doanh nghiệp, Tình huống - Phân tích - Bình luận, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2006, tr. 45 - 46.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 403), tháng 4/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.

Theo dõi chúng tôi trên: