Thứ tư 24/06/2026 14:05
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Khó khăn, bất cập trong quy định về phân cấp, ủy quyền cấp, điều chỉnh, thu hồi giấy phép đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ karaoke

Việc phân cấp, ủy quyền trong hoạt động của cơ quan nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước, đề cao trách nhiệm quản lý của từng cấp, ngành nhưng phải đảm bảo tuân thủ quy định của pháp luật.

1. Đặt vấn đề

Hiện nay, quy định về kinh doanh dịch vụ karaoke được điều chỉnh bởi Nghị định số 54/2019/NĐ-CP ngày 19/6/2019 của Chính phủ, có hiệu lực từ ngày 01/9/2019 (Nghị định số 54/2019/NĐ-CP). Điều 9 Nghị định số 54/2019/NĐ-CP quy định:

Điều 9. Thẩm quyền cấp, điều chỉnh và thu hồi giấy phép đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ karaoke hoặc dịch vụ vũ trường

1. Cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (sau đây gọi là cơ quan cấp giấy phép đủ điều kiện kinh doanh) có thẩm quyền cấp, điều chỉnh và thu hồi giấy phép đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ karaoke hoặc dịch vụ vũ trường (sau đây gọi là giấy phép đủ điều kiện kinh doanh).

2. Cơ quan cấp giấy phép đủ điều kiện kinh doanh thực hiện phân cấp, ủy quyền cho cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa cấp huyện được cấp, điều chỉnh và thu hồi giấy phép đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ karaoke theo quy định của pháp luật về tổ chức chính quyền địa phương”.

Như vậy, theo quy định tại khoản 1 trên đây thì thẩm quyền cấp, điều chỉnh và thu hồi giấy phép đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ karaoke thuộc cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (cơ quan này có thể là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch hoặc Sở Văn hóa và Thể thao, tùy thuộc việc ở cấp tỉnh có được tách và thành lập riêng một Sở Du lịch độc lập hay không). Đối với việc thực hiện nhiệm vụ này hoàn toàn diễn ra bình thường theo Quyết định số 3506/QĐ-BVHTTDL ngày 29/12/2021 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc công bố thủ tục hành chính chuẩn hóa năm 2021 thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và các quyết định công bố Danh mục thủ tục hành chính của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Tuy nhiên, tại khoản 2 quy định cơ quan cấp giấy phép đủ điều kiện kinh doanh (sau đây trong bài viết này viết tắt là Sở Văn hóa) thực hiện phân cấp, ủy quyền cho cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa cấp huyện được cấp, điều chỉnh và thu hồi giấy phép đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ karaoke theo quy định của pháp luật về tổ chức chính quyền địa phương.

Từ khi Nghị định số 54/2019/NĐ-CP có hiệu lực đến nay, trong việc triển khai quy định về việc phân cấp, ủy quyền cho cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa cấp huyện ở các địa phương không đồng bộ và có sự khác nhau:

Nhiều địa phương vẫn đang thực hiện theo văn bản phân cấp, ủy quyền đã ban hành trước đây theo Nghị định số 103/2009/NĐ-CP ngày 06/11/2009 của Chính phủ mà chưa triển khai việc phân cấp, ủy quyền cho cấp huyện theo quy định của Nghị định số 54/2019/NĐ-CP, trong khi đó các quy định chuyên ngành để làm căn cứ ban hành các văn bản phân cấp, ủy quyền trước đây đến nay đã hết hiệu lực vì đã được Nghị định số 54/2019/NĐ-CP bãi bỏ.

Một số địa phương đã triển khai quy định về việc phân cấp, ủy quyền cho cấp huyện thì cũng triển khai không giống nhau, cụ thể: Một số địa phương thực hiện việc phân cấp bằng việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật là quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh[1] phân cấp cho Ủy ban nhân dân cấp huyện trong tỉnh. Một số địa phương thực hiện ủy quyền cho Phòng/Trưởng phòng Văn hóa và Thông tin cấp huyện bằng quyết định hành chính của Giám đốc Sở Văn hóa[2].

Nguyên nhân của thực trạng trên là vì trong chính các cơ quan tham mưu đang có cách hiểu khác nhau về cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa cấp huyện và khác nhau trong quy định về thẩm quyền phân cấp, ủy quyền tại Điều 9 Nghị định số 54/2019/NĐ-CP với quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương[3] cũng như Nghị định số 24/2014/NĐ-CP ngày 04/04/2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 107/2020/NĐ-CP ngày 14/9/2020 của Chính phủ (sau đây gọi là Nghị định số 24/2014/NĐ-CP); Thông tư số 08/2021/TT-BVHTTDL ngày 08/9/2021 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Văn hóa và Thể thao, Sở Du lịch thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; Phòng Văn hóa và Thông tin thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện.

Những bất cập trên dẫn tới hậu quả là một số địa phương gặp khó khăn không thực hiện được việc phân cấp, ủy quyền hoặc có triển khai thực hiện thì cũng không phù hợp.

2. Các vấn đề vướng mắc phát sinh

2.1. Chưa rõ quy định về cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa cấp huyện

Đối chiếu quy định tại Điều 9 Nghị định số 54/2019/NĐ-CP với quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật Tổ chức Chính phủ và các nghị định, thông tư quy định về cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện thì thấy rằng:

Theo khoản 1 Điều 9 Nghị định số 54/2019/NĐ-CP thì Sở Văn hóa là cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa ở cấp tỉnh và là cơ quan có thẩm quyền cấp, điều chỉnh và thu hồi giấy phép đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ karaoke. Nếu hiểu theo logic mà văn bản đã thể hiện thì có thể suy luận rằng ở cấp huyện cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa là Phòng Văn hóa và Thông tin vì xét về vị trí và chức năng đều là cơ quan chuyên môn thực hiện chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp thực hiện chức năng quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực ở địa phương theo quy định tại Nghị định số 24/2014/NĐ-CP và Nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 05/5/2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 108/2020/NĐ-CP ngày 14/9/2020 của Chính phủ (sau đây gọi tắt là Nghị định số 37/2014/NĐ-CP).

Tuy nhiên, khác với việc quy định về thẩm quyền của cơ quan cấp tỉnh tại khoản 1 Điều 9 Nghị định số 54/2019/NĐ-CP, mặc dù ở cấp huyện chỉ có Phòng Văn hóa và Thông tin được tổ chức thống nhất ở các huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nhưng tại khoản 2 Điều 9 Nghị định số 54/2019/NĐ-CP lại không quy định rõ là phân cấp, ủy quyền cho Phòng Văn hóa và Thông tin cấp huyện mà lại quy định là “phân cấp, ủy quyền cho cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa cấp huyện”. Đồng thời, tại khoản 2 Điều 19 Nghị định số 54/2019/NĐ-CP lại quy định Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm: “Chỉ đạo cơ quan cấp giấy phép đủ điều kiện kinh doanh, Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Sở Công Thương, Sở Tài chính, các cơ quan, ban, ngành khác và Ủy ban nhân dân các cấp ở địa phương thực hiện quản lý nhà nước về kinh doanh dịch vụ karaoke, dịch vụ vũ trường trên địa bàn”. Chính vì vậy, hiện nay đang không có cách hiểu thống nhất về cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa cấp huyện là Ủy ban nhân dân cấp huyện hay là Phòng Văn hóa và Thông tin.

Tuy nhiên, trên cơ sở các quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương và quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện quy định tại Nghị định số 24/2014/NĐ-CP và Nghị định số 37/2014/NĐ-CP thì phải hiểu rằng cơ quan quản lý nhà nước ở cấp tỉnh là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cơ quan quản lý nhà nước ở cấp huyện là Ủy ban nhân dân cấp huyện và các các cơ quan chuyên môn chỉ là cơ quan được giao thực hiện nhiệm vụ tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp thực hiện chức năng quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực mà mình phụ trách về mặt chuyên môn.

2.2. Quy định về thẩm quyền “phân cấp, ủy quyền” không phù hợp với Luật Tổ chức chính quyền địa phương và các quy định có liên quan

Sở Văn hóa là cơ quan có thẩm quyền cấp, điều chỉnh và thu hồi giấy phép đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ karaoke theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Nghị định số 54/2019/NĐ-CP nên có thẩm quyền thực hiện phân cấp, ủy quyền cho cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa cấp huyện được cấp, điều chỉnh và thu hồi giấy phép đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ karaoke tại khoản 2 Điều 9 Nghị định số 54/2019/NĐ-CP theo quy định của pháp luật về tổ chức chính quyền địa phương.

- Đối với việc phân cấp, Điều 13 Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định như sau:

Điều 13. Phân cấp cho chính quyền địa phương

1. Căn cứ vào yêu cầu công tác, khả năng thực hiện và điều kiện, tình hình cụ thể của địa phương, cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương được quyền phân cấp cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan nhà nước cấp dưới thực hiện một cách liên tục, thường xuyên một hoặc một số nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền của mình, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Việc phân cấp phải bảo đảm các nguyên tắc quy định tại khoản 2 Điều 11 của Luật này và phải được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước phân cấp, trong đó xác định rõ nhiệm vụ, quyền hạn phân cấp cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan nhà nước cấp dưới, trách nhiệm của cơ quan nhà nước phân cấp và cơ quan nhà nước được phân cấp.

3. Cơ quan nhà nước cấp trên khi phân cấp nhiệm vụ, quyền hạn cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan nhà nước cấp dưới phải bảo đảm điều kiện về tài chính, nguồn nhân lực và điều kiện cần thiết khác để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn mà mình phân cấp; hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đã phân cấp và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn mà mình phân cấp.

4. Cơ quan nhà nước được phân cấp chịu trách nhiệm trước cơ quan nhà nước đã phân cấp về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân cấp. Căn cứ tình hình cụ thể ở địa phương, cơ quan nhà nước ở địa phương có thể phân cấp tiếp cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan nhà nước cấp dưới thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn đã được cơ quan nhà nước cấp trên phân cấp nhưng phải được sự đồng ý của cơ quan nhà nước đã phân cấp”.

Như vây, mặc dù có thẩm quyền cấp, điều chỉnh và thu hồi giấy phép đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ karaoke nhưng Sở Văn hóa không thể thực hiện được việc phân cấp cho cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa cấp huyện cấp, điều chỉnh và thu hồi giấy phép đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ karaoke vì Sở Văn hóa là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh không đáp ứng các quy định về phân quyền và đặc biệt không có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 63/2020/QH14 ngày 18/6/2020 của Quốc hội).

- Đối với việc ủy quyền, Điều 14 Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định như sau:

Điều 14. Ủy quyền cho cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương

1. Trong trường hợp cần thiết, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 12 của Luật này, cơ quan hành chính nhà nước cấp trên có thể ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp dưới trực tiếp, Ủy ban nhân dân có thể ủy quyền cho cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cùng cấp hoặc đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc, Chủ tịch Ủy ban nhân dân có thể ủy quyền cho Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp, người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cùng cấp, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp dưới trực tiếp thực hiện một hoặc một số nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong khoảng thời gian xác định kèm theo các điều kiện cụ thể. Việc ủy quyền phải được thể hiện bằng văn bản.

2. Việc ủy quyền quy định tại khoản 1 Điều này phải bảo đảm điều kiện về tài chính, nguồn nhân lực và các điều kiện cần thiết khác để thực hiện. Cơ quan, tổ chức, cá nhân ủy quyền có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đã ủy quyền và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn mà mình đã ủy quyền.

3. Cơ quan, tổ chức được ủy quyền phải thực hiện đúng nội dung và chịu trách nhiệm trước cơ quan hành chính nhà nước cấp trên về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn mà mình được ủy quyền. Cơ quan, tổ chức nhận ủy quyền không được ủy quyền tiếp cho cơ quan, tổ chức khác thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn đã được cơ quan hành chính nhà nước cấp trên ủy quyền”.

Căn cứ vào quy định trên đây có thể thấy, không có quy định về việc cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (trong trường hợp này cụ thể là Sở Văn hóa) được ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp huyện hoặc cơ quan chuyên môn cùng ngành, lĩnh vực (Phòng Văn hóa và Thông tin) thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện.

Điều này cũng phù hợp với quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định tại Điều 4 Nghị định số 24/2014/NĐ-CP, cụ thể trong 15 nhiệm vụ và quyền hạn của cấp Sở, không có quyền hạn liên quan đến việc ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp huyện hay cơ quan chuyên môn cấp huyện thực hiện nhiệm vụ thuộc thẩm quyền của mình và Điều 2 về nhiệm vụ và quyền hạn của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tại Thông tư số 08/2021/TT-BVHTTDL ngày 08/9/2021 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

3. Kiến nghị, đề xuất

Việc phân cấp, ủy quyền trong hoạt động của cơ quan nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước, đề cao trách nhiệm quản lý của từng cấp, ngành nhưng phải đảm bảo tuân thủ quy định của pháp luật.

Tuy nhiên, trên cơ sở các quy định trong Luật Tổ chức chính quyền địa phương, các quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật khác đã viện dẫn, đối chiếu với quá trình triển khai thực hiện phân cấp, ủy quyền, việc cấp, điều chỉnh và thu hồi giấy phép đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ karaoke của các địa phương, có thể thấy: Nếu thực hiện việc phân cấp cho Ủy ban nhân dân cấp huyện bằng văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cho Ủy ban nhân dân cấp huyện thì không đúng về chủ thể có thẩm quyền phân cấp được quy định tại Nghị định số 54/2019/NĐ-CP; nếu thực hiện việc ủy quyền cho Phòng/Trưởng phòng Văn hóa và Thông tin cấp huyện bằng quyết định hành chính của Giám đốc Sở Văn hóa thì cũng không đúng vì không có căn cứ để ủy quyền theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương và Nghị định số 24/2014/NĐ-CP.

Để kịp thời giải quyết vấn đề vướng mắc trong quá trình thực hiện quy định về thẩm quyền phân cấp, ủy quyền thực hiện việc cấp, điều chỉnh và thu hồi giấy phép đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ karaoke cần sớm sửa đổi quy định tại Điều 9 Nghị định số 54/2019/NĐ-CP để thể hiện rõ về cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa. Theo tác giả, thẩm quyền ban hành văn bản phân cấp, ủy quyền nên được quy định như sau:

“Điều 9. Thẩm quyền cấp, điều chỉnh và thu hồi giấy phép đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ karaoke hoặc dịch vụ vũ trường

1. Cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (sau đây gọi là cơ quan cấp giấy phép đủ điều kiện kinh doanh) giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện cấp, điều chỉnh và thu hồi giấy phép đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ karaoke hoặc dịch vụ vũ trường (sau đây gọi là giấy phép đủ điều kiện kinh doanh).

2. Cơ quan cấp giấy phép đủ điều kiện kinh doanh tham mưu Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện phân cấp, ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp huyện được cấp, điều chỉnh và thu hồi giấy phép đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ karaoke theo quy định của pháp luật về tổ chức chính quyền địa phương”.

Việc sửa đổi như vậy là phù hợp với quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và quy định về phân cấp, ủy quyền theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương và quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tại điểm a, c khoản 1 Điều 4 Nghị định số 24/2014/NĐ-CP./.

Thiều Hữu Minh

Hội Luật gia tỉnh Gia Lai

Ảnh: internet


[1] Quyết định số 04/2020/QĐ-UBND ngày 28/02/2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng; Quyết định số 20/2020/QĐ-UBND ngày 26/3/2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng; Quyết định số 17/2020/QĐ-UBND ngày 05/6/2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai; Quyết định số 13/2020/QĐ-UBND ngày 18/5/2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An…

[2] Quyết định 683/QĐ-SVHTTDL ngày 29/11/2019 của Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Dương về việc ủy quyền cho Trưởng phòng Văn hóa và Thông tin cấp huyện thực hiện cấp, điều chỉnh, thu hồi giấy phép đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ karaoke; Quyết định số 371/QĐ-SVHTTDL ngày 26/12/2021 của Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lạng Sơn về việc ủy quyền cho Phòng Văn hóa và Thông tin các huyện, thành phố thực hiện cấp, điều chỉnh và thu hồi giấy phép đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ karaoke…

[3] Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 77/2015/QH13 ngày 19/6/2015 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2016, được sửa đổi, bổ sung bởi: Luật Quy hoạch số 21/2017/QH14 ngày 24/11/2017 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2019; Luật số 47/2019/QH14 ngày 22/11/2019 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương, có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2020. Đã được hợp nhất tại Văn bản số 22/VBHN-VPQH ngày 16/12/2019.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1111/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026 - 2030 (Kế hoạch), đánh dấu bước triển khai quan trọng Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 130/2025/QH15 (Luật năm 2025) được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 (ngày 10/12/2025), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 gồm 11 Chương và 107 Điều quy định về hoạt động hàng không dân dụng, bao gồm các quy định về tàu bay, cảng hàng không, nhân viên hàng không, hoạt động bay, vận tải hàng không thương mại, hàng không chuyên dùng, hàng không chung, an toàn hàng không, an ninh hàng không, trách nhiệm dân sự và các hoạt động khác có liên quan đến hàng không dân dụng.
Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Quy định mới tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 49/2026/NĐ-CP với cơ chế đồng thuận trên 75% được kỳ vọng khơi thông hàng nghìn dự án, sẽ tháo gỡ một trong những vướng mắc lớn nhất trong quá trình triển khai các dự án có sử dụng đất.
Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Ngày 10/12/2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 chính thức thông qua Luật số 132/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026).
Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 thay thế Pháp lệnh Dân số số 06/2004/PL-UBTVQH11 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15). Một trong những thay đổi căn bản của Luật Dân số năm 2025 là chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Những nội dung liên quan đến dân số và phát triển đã được thể hiện trong việc hướng tới giải quyết đồng bộ các vấn đề về quy mô dân số, cơ cấu dân số, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.
Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.

Theo dõi chúng tôi trên: