Thứ sáu 16/01/2026 10:06
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Khó khăn, bất cập trong quy định về phân cấp, ủy quyền cấp, điều chỉnh, thu hồi giấy phép đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ karaoke

Việc phân cấp, ủy quyền trong hoạt động của cơ quan nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước, đề cao trách nhiệm quản lý của từng cấp, ngành nhưng phải đảm bảo tuân thủ quy định của pháp luật.

1. Đặt vấn đề

Hiện nay, quy định về kinh doanh dịch vụ karaoke được điều chỉnh bởi Nghị định số 54/2019/NĐ-CP ngày 19/6/2019 của Chính phủ, có hiệu lực từ ngày 01/9/2019 (Nghị định số 54/2019/NĐ-CP). Điều 9 Nghị định số 54/2019/NĐ-CP quy định:

Điều 9. Thẩm quyền cấp, điều chỉnh và thu hồi giấy phép đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ karaoke hoặc dịch vụ vũ trường

1. Cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (sau đây gọi là cơ quan cấp giấy phép đủ điều kiện kinh doanh) có thẩm quyền cấp, điều chỉnh và thu hồi giấy phép đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ karaoke hoặc dịch vụ vũ trường (sau đây gọi là giấy phép đủ điều kiện kinh doanh).

2. Cơ quan cấp giấy phép đủ điều kiện kinh doanh thực hiện phân cấp, ủy quyền cho cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa cấp huyện được cấp, điều chỉnh và thu hồi giấy phép đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ karaoke theo quy định của pháp luật về tổ chức chính quyền địa phương”.

Như vậy, theo quy định tại khoản 1 trên đây thì thẩm quyền cấp, điều chỉnh và thu hồi giấy phép đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ karaoke thuộc cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (cơ quan này có thể là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch hoặc Sở Văn hóa và Thể thao, tùy thuộc việc ở cấp tỉnh có được tách và thành lập riêng một Sở Du lịch độc lập hay không). Đối với việc thực hiện nhiệm vụ này hoàn toàn diễn ra bình thường theo Quyết định số 3506/QĐ-BVHTTDL ngày 29/12/2021 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc công bố thủ tục hành chính chuẩn hóa năm 2021 thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và các quyết định công bố Danh mục thủ tục hành chính của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Tuy nhiên, tại khoản 2 quy định cơ quan cấp giấy phép đủ điều kiện kinh doanh (sau đây trong bài viết này viết tắt là Sở Văn hóa) thực hiện phân cấp, ủy quyền cho cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa cấp huyện được cấp, điều chỉnh và thu hồi giấy phép đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ karaoke theo quy định của pháp luật về tổ chức chính quyền địa phương.

Từ khi Nghị định số 54/2019/NĐ-CP có hiệu lực đến nay, trong việc triển khai quy định về việc phân cấp, ủy quyền cho cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa cấp huyện ở các địa phương không đồng bộ và có sự khác nhau:

Nhiều địa phương vẫn đang thực hiện theo văn bản phân cấp, ủy quyền đã ban hành trước đây theo Nghị định số 103/2009/NĐ-CP ngày 06/11/2009 của Chính phủ mà chưa triển khai việc phân cấp, ủy quyền cho cấp huyện theo quy định của Nghị định số 54/2019/NĐ-CP, trong khi đó các quy định chuyên ngành để làm căn cứ ban hành các văn bản phân cấp, ủy quyền trước đây đến nay đã hết hiệu lực vì đã được Nghị định số 54/2019/NĐ-CP bãi bỏ.

Một số địa phương đã triển khai quy định về việc phân cấp, ủy quyền cho cấp huyện thì cũng triển khai không giống nhau, cụ thể: Một số địa phương thực hiện việc phân cấp bằng việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật là quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh[1] phân cấp cho Ủy ban nhân dân cấp huyện trong tỉnh. Một số địa phương thực hiện ủy quyền cho Phòng/Trưởng phòng Văn hóa và Thông tin cấp huyện bằng quyết định hành chính của Giám đốc Sở Văn hóa[2].

Nguyên nhân của thực trạng trên là vì trong chính các cơ quan tham mưu đang có cách hiểu khác nhau về cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa cấp huyện và khác nhau trong quy định về thẩm quyền phân cấp, ủy quyền tại Điều 9 Nghị định số 54/2019/NĐ-CP với quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương[3] cũng như Nghị định số 24/2014/NĐ-CP ngày 04/04/2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 107/2020/NĐ-CP ngày 14/9/2020 của Chính phủ (sau đây gọi là Nghị định số 24/2014/NĐ-CP); Thông tư số 08/2021/TT-BVHTTDL ngày 08/9/2021 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Văn hóa và Thể thao, Sở Du lịch thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; Phòng Văn hóa và Thông tin thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện.

Những bất cập trên dẫn tới hậu quả là một số địa phương gặp khó khăn không thực hiện được việc phân cấp, ủy quyền hoặc có triển khai thực hiện thì cũng không phù hợp.

2. Các vấn đề vướng mắc phát sinh

2.1. Chưa rõ quy định về cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa cấp huyện

Đối chiếu quy định tại Điều 9 Nghị định số 54/2019/NĐ-CP với quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật Tổ chức Chính phủ và các nghị định, thông tư quy định về cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện thì thấy rằng:

Theo khoản 1 Điều 9 Nghị định số 54/2019/NĐ-CP thì Sở Văn hóa là cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa ở cấp tỉnh và là cơ quan có thẩm quyền cấp, điều chỉnh và thu hồi giấy phép đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ karaoke. Nếu hiểu theo logic mà văn bản đã thể hiện thì có thể suy luận rằng ở cấp huyện cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa là Phòng Văn hóa và Thông tin vì xét về vị trí và chức năng đều là cơ quan chuyên môn thực hiện chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp thực hiện chức năng quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực ở địa phương theo quy định tại Nghị định số 24/2014/NĐ-CP và Nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 05/5/2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 108/2020/NĐ-CP ngày 14/9/2020 của Chính phủ (sau đây gọi tắt là Nghị định số 37/2014/NĐ-CP).

Tuy nhiên, khác với việc quy định về thẩm quyền của cơ quan cấp tỉnh tại khoản 1 Điều 9 Nghị định số 54/2019/NĐ-CP, mặc dù ở cấp huyện chỉ có Phòng Văn hóa và Thông tin được tổ chức thống nhất ở các huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nhưng tại khoản 2 Điều 9 Nghị định số 54/2019/NĐ-CP lại không quy định rõ là phân cấp, ủy quyền cho Phòng Văn hóa và Thông tin cấp huyện mà lại quy định là “phân cấp, ủy quyền cho cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa cấp huyện”. Đồng thời, tại khoản 2 Điều 19 Nghị định số 54/2019/NĐ-CP lại quy định Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm: “Chỉ đạo cơ quan cấp giấy phép đủ điều kiện kinh doanh, Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Sở Công Thương, Sở Tài chính, các cơ quan, ban, ngành khác và Ủy ban nhân dân các cấp ở địa phương thực hiện quản lý nhà nước về kinh doanh dịch vụ karaoke, dịch vụ vũ trường trên địa bàn”. Chính vì vậy, hiện nay đang không có cách hiểu thống nhất về cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa cấp huyện là Ủy ban nhân dân cấp huyện hay là Phòng Văn hóa và Thông tin.

Tuy nhiên, trên cơ sở các quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương và quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện quy định tại Nghị định số 24/2014/NĐ-CP và Nghị định số 37/2014/NĐ-CP thì phải hiểu rằng cơ quan quản lý nhà nước ở cấp tỉnh là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cơ quan quản lý nhà nước ở cấp huyện là Ủy ban nhân dân cấp huyện và các các cơ quan chuyên môn chỉ là cơ quan được giao thực hiện nhiệm vụ tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp thực hiện chức năng quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực mà mình phụ trách về mặt chuyên môn.

2.2. Quy định về thẩm quyền “phân cấp, ủy quyền” không phù hợp với Luật Tổ chức chính quyền địa phương và các quy định có liên quan

Sở Văn hóa là cơ quan có thẩm quyền cấp, điều chỉnh và thu hồi giấy phép đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ karaoke theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Nghị định số 54/2019/NĐ-CP nên có thẩm quyền thực hiện phân cấp, ủy quyền cho cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa cấp huyện được cấp, điều chỉnh và thu hồi giấy phép đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ karaoke tại khoản 2 Điều 9 Nghị định số 54/2019/NĐ-CP theo quy định của pháp luật về tổ chức chính quyền địa phương.

- Đối với việc phân cấp, Điều 13 Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định như sau:

Điều 13. Phân cấp cho chính quyền địa phương

1. Căn cứ vào yêu cầu công tác, khả năng thực hiện và điều kiện, tình hình cụ thể của địa phương, cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương được quyền phân cấp cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan nhà nước cấp dưới thực hiện một cách liên tục, thường xuyên một hoặc một số nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền của mình, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Việc phân cấp phải bảo đảm các nguyên tắc quy định tại khoản 2 Điều 11 của Luật này và phải được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước phân cấp, trong đó xác định rõ nhiệm vụ, quyền hạn phân cấp cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan nhà nước cấp dưới, trách nhiệm của cơ quan nhà nước phân cấp và cơ quan nhà nước được phân cấp.

3. Cơ quan nhà nước cấp trên khi phân cấp nhiệm vụ, quyền hạn cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan nhà nước cấp dưới phải bảo đảm điều kiện về tài chính, nguồn nhân lực và điều kiện cần thiết khác để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn mà mình phân cấp; hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đã phân cấp và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn mà mình phân cấp.

4. Cơ quan nhà nước được phân cấp chịu trách nhiệm trước cơ quan nhà nước đã phân cấp về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân cấp. Căn cứ tình hình cụ thể ở địa phương, cơ quan nhà nước ở địa phương có thể phân cấp tiếp cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan nhà nước cấp dưới thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn đã được cơ quan nhà nước cấp trên phân cấp nhưng phải được sự đồng ý của cơ quan nhà nước đã phân cấp”.

Như vây, mặc dù có thẩm quyền cấp, điều chỉnh và thu hồi giấy phép đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ karaoke nhưng Sở Văn hóa không thể thực hiện được việc phân cấp cho cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa cấp huyện cấp, điều chỉnh và thu hồi giấy phép đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ karaoke vì Sở Văn hóa là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh không đáp ứng các quy định về phân quyền và đặc biệt không có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 63/2020/QH14 ngày 18/6/2020 của Quốc hội).

- Đối với việc ủy quyền, Điều 14 Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định như sau:

Điều 14. Ủy quyền cho cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương

1. Trong trường hợp cần thiết, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 12 của Luật này, cơ quan hành chính nhà nước cấp trên có thể ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp dưới trực tiếp, Ủy ban nhân dân có thể ủy quyền cho cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cùng cấp hoặc đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc, Chủ tịch Ủy ban nhân dân có thể ủy quyền cho Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp, người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cùng cấp, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp dưới trực tiếp thực hiện một hoặc một số nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong khoảng thời gian xác định kèm theo các điều kiện cụ thể. Việc ủy quyền phải được thể hiện bằng văn bản.

2. Việc ủy quyền quy định tại khoản 1 Điều này phải bảo đảm điều kiện về tài chính, nguồn nhân lực và các điều kiện cần thiết khác để thực hiện. Cơ quan, tổ chức, cá nhân ủy quyền có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đã ủy quyền và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn mà mình đã ủy quyền.

3. Cơ quan, tổ chức được ủy quyền phải thực hiện đúng nội dung và chịu trách nhiệm trước cơ quan hành chính nhà nước cấp trên về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn mà mình được ủy quyền. Cơ quan, tổ chức nhận ủy quyền không được ủy quyền tiếp cho cơ quan, tổ chức khác thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn đã được cơ quan hành chính nhà nước cấp trên ủy quyền”.

Căn cứ vào quy định trên đây có thể thấy, không có quy định về việc cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (trong trường hợp này cụ thể là Sở Văn hóa) được ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp huyện hoặc cơ quan chuyên môn cùng ngành, lĩnh vực (Phòng Văn hóa và Thông tin) thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện.

Điều này cũng phù hợp với quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định tại Điều 4 Nghị định số 24/2014/NĐ-CP, cụ thể trong 15 nhiệm vụ và quyền hạn của cấp Sở, không có quyền hạn liên quan đến việc ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp huyện hay cơ quan chuyên môn cấp huyện thực hiện nhiệm vụ thuộc thẩm quyền của mình và Điều 2 về nhiệm vụ và quyền hạn của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tại Thông tư số 08/2021/TT-BVHTTDL ngày 08/9/2021 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

3. Kiến nghị, đề xuất

Việc phân cấp, ủy quyền trong hoạt động của cơ quan nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước, đề cao trách nhiệm quản lý của từng cấp, ngành nhưng phải đảm bảo tuân thủ quy định của pháp luật.

Tuy nhiên, trên cơ sở các quy định trong Luật Tổ chức chính quyền địa phương, các quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật khác đã viện dẫn, đối chiếu với quá trình triển khai thực hiện phân cấp, ủy quyền, việc cấp, điều chỉnh và thu hồi giấy phép đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ karaoke của các địa phương, có thể thấy: Nếu thực hiện việc phân cấp cho Ủy ban nhân dân cấp huyện bằng văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cho Ủy ban nhân dân cấp huyện thì không đúng về chủ thể có thẩm quyền phân cấp được quy định tại Nghị định số 54/2019/NĐ-CP; nếu thực hiện việc ủy quyền cho Phòng/Trưởng phòng Văn hóa và Thông tin cấp huyện bằng quyết định hành chính của Giám đốc Sở Văn hóa thì cũng không đúng vì không có căn cứ để ủy quyền theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương và Nghị định số 24/2014/NĐ-CP.

Để kịp thời giải quyết vấn đề vướng mắc trong quá trình thực hiện quy định về thẩm quyền phân cấp, ủy quyền thực hiện việc cấp, điều chỉnh và thu hồi giấy phép đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ karaoke cần sớm sửa đổi quy định tại Điều 9 Nghị định số 54/2019/NĐ-CP để thể hiện rõ về cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa. Theo tác giả, thẩm quyền ban hành văn bản phân cấp, ủy quyền nên được quy định như sau:

“Điều 9. Thẩm quyền cấp, điều chỉnh và thu hồi giấy phép đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ karaoke hoặc dịch vụ vũ trường

1. Cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (sau đây gọi là cơ quan cấp giấy phép đủ điều kiện kinh doanh) giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện cấp, điều chỉnh và thu hồi giấy phép đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ karaoke hoặc dịch vụ vũ trường (sau đây gọi là giấy phép đủ điều kiện kinh doanh).

2. Cơ quan cấp giấy phép đủ điều kiện kinh doanh tham mưu Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện phân cấp, ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp huyện được cấp, điều chỉnh và thu hồi giấy phép đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ karaoke theo quy định của pháp luật về tổ chức chính quyền địa phương”.

Việc sửa đổi như vậy là phù hợp với quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và quy định về phân cấp, ủy quyền theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương và quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tại điểm a, c khoản 1 Điều 4 Nghị định số 24/2014/NĐ-CP./.

Thiều Hữu Minh

Hội Luật gia tỉnh Gia Lai

Ảnh: internet


[1] Quyết định số 04/2020/QĐ-UBND ngày 28/02/2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng; Quyết định số 20/2020/QĐ-UBND ngày 26/3/2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng; Quyết định số 17/2020/QĐ-UBND ngày 05/6/2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai; Quyết định số 13/2020/QĐ-UBND ngày 18/5/2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An…

[2] Quyết định 683/QĐ-SVHTTDL ngày 29/11/2019 của Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Dương về việc ủy quyền cho Trưởng phòng Văn hóa và Thông tin cấp huyện thực hiện cấp, điều chỉnh, thu hồi giấy phép đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ karaoke; Quyết định số 371/QĐ-SVHTTDL ngày 26/12/2021 của Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lạng Sơn về việc ủy quyền cho Phòng Văn hóa và Thông tin các huyện, thành phố thực hiện cấp, điều chỉnh và thu hồi giấy phép đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ karaoke…

[3] Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 77/2015/QH13 ngày 19/6/2015 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2016, được sửa đổi, bổ sung bởi: Luật Quy hoạch số 21/2017/QH14 ngày 24/11/2017 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2019; Luật số 47/2019/QH14 ngày 22/11/2019 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương, có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2020. Đã được hợp nhất tại Văn bản số 22/VBHN-VPQH ngày 16/12/2019.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.

Theo dõi chúng tôi trên: