Thứ tư 18/03/2026 07:13
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Khó khăn, bất cập trong quy định về phân cấp, ủy quyền cấp, điều chỉnh, thu hồi giấy phép đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ karaoke

Việc phân cấp, ủy quyền trong hoạt động của cơ quan nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước, đề cao trách nhiệm quản lý của từng cấp, ngành nhưng phải đảm bảo tuân thủ quy định của pháp luật.

1. Đặt vấn đề

Hiện nay, quy định về kinh doanh dịch vụ karaoke được điều chỉnh bởi Nghị định số 54/2019/NĐ-CP ngày 19/6/2019 của Chính phủ, có hiệu lực từ ngày 01/9/2019 (Nghị định số 54/2019/NĐ-CP). Điều 9 Nghị định số 54/2019/NĐ-CP quy định:

Điều 9. Thẩm quyền cấp, điều chỉnh và thu hồi giấy phép đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ karaoke hoặc dịch vụ vũ trường

1. Cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (sau đây gọi là cơ quan cấp giấy phép đủ điều kiện kinh doanh) có thẩm quyền cấp, điều chỉnh và thu hồi giấy phép đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ karaoke hoặc dịch vụ vũ trường (sau đây gọi là giấy phép đủ điều kiện kinh doanh).

2. Cơ quan cấp giấy phép đủ điều kiện kinh doanh thực hiện phân cấp, ủy quyền cho cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa cấp huyện được cấp, điều chỉnh và thu hồi giấy phép đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ karaoke theo quy định của pháp luật về tổ chức chính quyền địa phương”.

Như vậy, theo quy định tại khoản 1 trên đây thì thẩm quyền cấp, điều chỉnh và thu hồi giấy phép đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ karaoke thuộc cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (cơ quan này có thể là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch hoặc Sở Văn hóa và Thể thao, tùy thuộc việc ở cấp tỉnh có được tách và thành lập riêng một Sở Du lịch độc lập hay không). Đối với việc thực hiện nhiệm vụ này hoàn toàn diễn ra bình thường theo Quyết định số 3506/QĐ-BVHTTDL ngày 29/12/2021 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc công bố thủ tục hành chính chuẩn hóa năm 2021 thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và các quyết định công bố Danh mục thủ tục hành chính của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Tuy nhiên, tại khoản 2 quy định cơ quan cấp giấy phép đủ điều kiện kinh doanh (sau đây trong bài viết này viết tắt là Sở Văn hóa) thực hiện phân cấp, ủy quyền cho cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa cấp huyện được cấp, điều chỉnh và thu hồi giấy phép đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ karaoke theo quy định của pháp luật về tổ chức chính quyền địa phương.

Từ khi Nghị định số 54/2019/NĐ-CP có hiệu lực đến nay, trong việc triển khai quy định về việc phân cấp, ủy quyền cho cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa cấp huyện ở các địa phương không đồng bộ và có sự khác nhau:

Nhiều địa phương vẫn đang thực hiện theo văn bản phân cấp, ủy quyền đã ban hành trước đây theo Nghị định số 103/2009/NĐ-CP ngày 06/11/2009 của Chính phủ mà chưa triển khai việc phân cấp, ủy quyền cho cấp huyện theo quy định của Nghị định số 54/2019/NĐ-CP, trong khi đó các quy định chuyên ngành để làm căn cứ ban hành các văn bản phân cấp, ủy quyền trước đây đến nay đã hết hiệu lực vì đã được Nghị định số 54/2019/NĐ-CP bãi bỏ.

Một số địa phương đã triển khai quy định về việc phân cấp, ủy quyền cho cấp huyện thì cũng triển khai không giống nhau, cụ thể: Một số địa phương thực hiện việc phân cấp bằng việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật là quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh[1] phân cấp cho Ủy ban nhân dân cấp huyện trong tỉnh. Một số địa phương thực hiện ủy quyền cho Phòng/Trưởng phòng Văn hóa và Thông tin cấp huyện bằng quyết định hành chính của Giám đốc Sở Văn hóa[2].

Nguyên nhân của thực trạng trên là vì trong chính các cơ quan tham mưu đang có cách hiểu khác nhau về cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa cấp huyện và khác nhau trong quy định về thẩm quyền phân cấp, ủy quyền tại Điều 9 Nghị định số 54/2019/NĐ-CP với quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương[3] cũng như Nghị định số 24/2014/NĐ-CP ngày 04/04/2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 107/2020/NĐ-CP ngày 14/9/2020 của Chính phủ (sau đây gọi là Nghị định số 24/2014/NĐ-CP); Thông tư số 08/2021/TT-BVHTTDL ngày 08/9/2021 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Văn hóa và Thể thao, Sở Du lịch thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; Phòng Văn hóa và Thông tin thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện.

Những bất cập trên dẫn tới hậu quả là một số địa phương gặp khó khăn không thực hiện được việc phân cấp, ủy quyền hoặc có triển khai thực hiện thì cũng không phù hợp.

2. Các vấn đề vướng mắc phát sinh

2.1. Chưa rõ quy định về cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa cấp huyện

Đối chiếu quy định tại Điều 9 Nghị định số 54/2019/NĐ-CP với quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật Tổ chức Chính phủ và các nghị định, thông tư quy định về cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện thì thấy rằng:

Theo khoản 1 Điều 9 Nghị định số 54/2019/NĐ-CP thì Sở Văn hóa là cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa ở cấp tỉnh và là cơ quan có thẩm quyền cấp, điều chỉnh và thu hồi giấy phép đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ karaoke. Nếu hiểu theo logic mà văn bản đã thể hiện thì có thể suy luận rằng ở cấp huyện cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa là Phòng Văn hóa và Thông tin vì xét về vị trí và chức năng đều là cơ quan chuyên môn thực hiện chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp thực hiện chức năng quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực ở địa phương theo quy định tại Nghị định số 24/2014/NĐ-CP và Nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 05/5/2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 108/2020/NĐ-CP ngày 14/9/2020 của Chính phủ (sau đây gọi tắt là Nghị định số 37/2014/NĐ-CP).

Tuy nhiên, khác với việc quy định về thẩm quyền của cơ quan cấp tỉnh tại khoản 1 Điều 9 Nghị định số 54/2019/NĐ-CP, mặc dù ở cấp huyện chỉ có Phòng Văn hóa và Thông tin được tổ chức thống nhất ở các huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nhưng tại khoản 2 Điều 9 Nghị định số 54/2019/NĐ-CP lại không quy định rõ là phân cấp, ủy quyền cho Phòng Văn hóa và Thông tin cấp huyện mà lại quy định là “phân cấp, ủy quyền cho cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa cấp huyện”. Đồng thời, tại khoản 2 Điều 19 Nghị định số 54/2019/NĐ-CP lại quy định Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm: “Chỉ đạo cơ quan cấp giấy phép đủ điều kiện kinh doanh, Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Sở Công Thương, Sở Tài chính, các cơ quan, ban, ngành khác và Ủy ban nhân dân các cấp ở địa phương thực hiện quản lý nhà nước về kinh doanh dịch vụ karaoke, dịch vụ vũ trường trên địa bàn”. Chính vì vậy, hiện nay đang không có cách hiểu thống nhất về cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa cấp huyện là Ủy ban nhân dân cấp huyện hay là Phòng Văn hóa và Thông tin.

Tuy nhiên, trên cơ sở các quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương và quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện quy định tại Nghị định số 24/2014/NĐ-CP và Nghị định số 37/2014/NĐ-CP thì phải hiểu rằng cơ quan quản lý nhà nước ở cấp tỉnh là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cơ quan quản lý nhà nước ở cấp huyện là Ủy ban nhân dân cấp huyện và các các cơ quan chuyên môn chỉ là cơ quan được giao thực hiện nhiệm vụ tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp thực hiện chức năng quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực mà mình phụ trách về mặt chuyên môn.

2.2. Quy định về thẩm quyền “phân cấp, ủy quyền” không phù hợp với Luật Tổ chức chính quyền địa phương và các quy định có liên quan

Sở Văn hóa là cơ quan có thẩm quyền cấp, điều chỉnh và thu hồi giấy phép đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ karaoke theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Nghị định số 54/2019/NĐ-CP nên có thẩm quyền thực hiện phân cấp, ủy quyền cho cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa cấp huyện được cấp, điều chỉnh và thu hồi giấy phép đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ karaoke tại khoản 2 Điều 9 Nghị định số 54/2019/NĐ-CP theo quy định của pháp luật về tổ chức chính quyền địa phương.

- Đối với việc phân cấp, Điều 13 Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định như sau:

Điều 13. Phân cấp cho chính quyền địa phương

1. Căn cứ vào yêu cầu công tác, khả năng thực hiện và điều kiện, tình hình cụ thể của địa phương, cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương được quyền phân cấp cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan nhà nước cấp dưới thực hiện một cách liên tục, thường xuyên một hoặc một số nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền của mình, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Việc phân cấp phải bảo đảm các nguyên tắc quy định tại khoản 2 Điều 11 của Luật này và phải được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước phân cấp, trong đó xác định rõ nhiệm vụ, quyền hạn phân cấp cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan nhà nước cấp dưới, trách nhiệm của cơ quan nhà nước phân cấp và cơ quan nhà nước được phân cấp.

3. Cơ quan nhà nước cấp trên khi phân cấp nhiệm vụ, quyền hạn cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan nhà nước cấp dưới phải bảo đảm điều kiện về tài chính, nguồn nhân lực và điều kiện cần thiết khác để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn mà mình phân cấp; hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đã phân cấp và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn mà mình phân cấp.

4. Cơ quan nhà nước được phân cấp chịu trách nhiệm trước cơ quan nhà nước đã phân cấp về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân cấp. Căn cứ tình hình cụ thể ở địa phương, cơ quan nhà nước ở địa phương có thể phân cấp tiếp cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan nhà nước cấp dưới thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn đã được cơ quan nhà nước cấp trên phân cấp nhưng phải được sự đồng ý của cơ quan nhà nước đã phân cấp”.

Như vây, mặc dù có thẩm quyền cấp, điều chỉnh và thu hồi giấy phép đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ karaoke nhưng Sở Văn hóa không thể thực hiện được việc phân cấp cho cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa cấp huyện cấp, điều chỉnh và thu hồi giấy phép đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ karaoke vì Sở Văn hóa là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh không đáp ứng các quy định về phân quyền và đặc biệt không có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 63/2020/QH14 ngày 18/6/2020 của Quốc hội).

- Đối với việc ủy quyền, Điều 14 Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định như sau:

Điều 14. Ủy quyền cho cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương

1. Trong trường hợp cần thiết, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 12 của Luật này, cơ quan hành chính nhà nước cấp trên có thể ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp dưới trực tiếp, Ủy ban nhân dân có thể ủy quyền cho cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cùng cấp hoặc đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc, Chủ tịch Ủy ban nhân dân có thể ủy quyền cho Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp, người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cùng cấp, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp dưới trực tiếp thực hiện một hoặc một số nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong khoảng thời gian xác định kèm theo các điều kiện cụ thể. Việc ủy quyền phải được thể hiện bằng văn bản.

2. Việc ủy quyền quy định tại khoản 1 Điều này phải bảo đảm điều kiện về tài chính, nguồn nhân lực và các điều kiện cần thiết khác để thực hiện. Cơ quan, tổ chức, cá nhân ủy quyền có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đã ủy quyền và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn mà mình đã ủy quyền.

3. Cơ quan, tổ chức được ủy quyền phải thực hiện đúng nội dung và chịu trách nhiệm trước cơ quan hành chính nhà nước cấp trên về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn mà mình được ủy quyền. Cơ quan, tổ chức nhận ủy quyền không được ủy quyền tiếp cho cơ quan, tổ chức khác thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn đã được cơ quan hành chính nhà nước cấp trên ủy quyền”.

Căn cứ vào quy định trên đây có thể thấy, không có quy định về việc cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (trong trường hợp này cụ thể là Sở Văn hóa) được ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp huyện hoặc cơ quan chuyên môn cùng ngành, lĩnh vực (Phòng Văn hóa và Thông tin) thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện.

Điều này cũng phù hợp với quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định tại Điều 4 Nghị định số 24/2014/NĐ-CP, cụ thể trong 15 nhiệm vụ và quyền hạn của cấp Sở, không có quyền hạn liên quan đến việc ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp huyện hay cơ quan chuyên môn cấp huyện thực hiện nhiệm vụ thuộc thẩm quyền của mình và Điều 2 về nhiệm vụ và quyền hạn của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tại Thông tư số 08/2021/TT-BVHTTDL ngày 08/9/2021 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

3. Kiến nghị, đề xuất

Việc phân cấp, ủy quyền trong hoạt động của cơ quan nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước, đề cao trách nhiệm quản lý của từng cấp, ngành nhưng phải đảm bảo tuân thủ quy định của pháp luật.

Tuy nhiên, trên cơ sở các quy định trong Luật Tổ chức chính quyền địa phương, các quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật khác đã viện dẫn, đối chiếu với quá trình triển khai thực hiện phân cấp, ủy quyền, việc cấp, điều chỉnh và thu hồi giấy phép đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ karaoke của các địa phương, có thể thấy: Nếu thực hiện việc phân cấp cho Ủy ban nhân dân cấp huyện bằng văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cho Ủy ban nhân dân cấp huyện thì không đúng về chủ thể có thẩm quyền phân cấp được quy định tại Nghị định số 54/2019/NĐ-CP; nếu thực hiện việc ủy quyền cho Phòng/Trưởng phòng Văn hóa và Thông tin cấp huyện bằng quyết định hành chính của Giám đốc Sở Văn hóa thì cũng không đúng vì không có căn cứ để ủy quyền theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương và Nghị định số 24/2014/NĐ-CP.

Để kịp thời giải quyết vấn đề vướng mắc trong quá trình thực hiện quy định về thẩm quyền phân cấp, ủy quyền thực hiện việc cấp, điều chỉnh và thu hồi giấy phép đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ karaoke cần sớm sửa đổi quy định tại Điều 9 Nghị định số 54/2019/NĐ-CP để thể hiện rõ về cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa. Theo tác giả, thẩm quyền ban hành văn bản phân cấp, ủy quyền nên được quy định như sau:

“Điều 9. Thẩm quyền cấp, điều chỉnh và thu hồi giấy phép đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ karaoke hoặc dịch vụ vũ trường

1. Cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (sau đây gọi là cơ quan cấp giấy phép đủ điều kiện kinh doanh) giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện cấp, điều chỉnh và thu hồi giấy phép đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ karaoke hoặc dịch vụ vũ trường (sau đây gọi là giấy phép đủ điều kiện kinh doanh).

2. Cơ quan cấp giấy phép đủ điều kiện kinh doanh tham mưu Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện phân cấp, ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp huyện được cấp, điều chỉnh và thu hồi giấy phép đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ karaoke theo quy định của pháp luật về tổ chức chính quyền địa phương”.

Việc sửa đổi như vậy là phù hợp với quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và quy định về phân cấp, ủy quyền theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương và quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tại điểm a, c khoản 1 Điều 4 Nghị định số 24/2014/NĐ-CP./.

Thiều Hữu Minh

Hội Luật gia tỉnh Gia Lai

Ảnh: internet


[1] Quyết định số 04/2020/QĐ-UBND ngày 28/02/2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng; Quyết định số 20/2020/QĐ-UBND ngày 26/3/2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng; Quyết định số 17/2020/QĐ-UBND ngày 05/6/2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai; Quyết định số 13/2020/QĐ-UBND ngày 18/5/2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An…

[2] Quyết định 683/QĐ-SVHTTDL ngày 29/11/2019 của Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Dương về việc ủy quyền cho Trưởng phòng Văn hóa và Thông tin cấp huyện thực hiện cấp, điều chỉnh, thu hồi giấy phép đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ karaoke; Quyết định số 371/QĐ-SVHTTDL ngày 26/12/2021 của Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lạng Sơn về việc ủy quyền cho Phòng Văn hóa và Thông tin các huyện, thành phố thực hiện cấp, điều chỉnh và thu hồi giấy phép đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ karaoke…

[3] Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 77/2015/QH13 ngày 19/6/2015 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2016, được sửa đổi, bổ sung bởi: Luật Quy hoạch số 21/2017/QH14 ngày 24/11/2017 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2019; Luật số 47/2019/QH14 ngày 22/11/2019 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương, có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2020. Đã được hợp nhất tại Văn bản số 22/VBHN-VPQH ngày 16/12/2019.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Theo dõi chúng tôi trên: