Thứ tư 22/04/2026 21:59
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Khó khăn của doanh nghiệp Việt Nam khi đầu tư ra nước ngoài

Trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay, đầu tư ra nước ngoài đang là xu thế chung của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Thông qua hoạt động này, các nhà đầu tư có thể khai thác được những lợi thế so sánh của nước tiếp nhận đầu tư, tiếp cận khoa học kỹ thuật, mở rộng thị trường,

Trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay, đầu tư ra nước ngoài đang là xu thế chung của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Thông qua hoạt động này, các nhà đầu tư có thể khai thác được những lợi thế so sánh của nước tiếp nhận đầu tư, tiếp cận khoa học kỹ thuật, mở rộng thị trường, tránh được các hàng rào thuế quan và phi thuế quan của nước tiếp nhận đầu tư. Bên cạnh đó, đầu tư ra nước ngoài cũng mang về cho đất nước một lượng ngoại tệ đáng kể góp phần vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Nhận thức được tầm quan trọng đó, trong những năm gần đây, các doanh nghiệp Việt Nam đã chú trọng đến việc đầu tư ra nước ngoài. Trên thực tế, khi thực hiện hoạt động đầu tư ra nước ngoài, các doanh nghiệp Việt Nam gặp nhiều thuận lợi như sự gần gũi giữa các quốc gia, quan hệ ngoại giao hữu nghị tốt đẹp giữa Việt Nam và các nước tiếp nhận đầu tư… Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi đó, các doanh nghiệp Việt Nam cũng gặp không ít khó khăn, thách thức khi thực hiện hoạt động đầu tư ra nước ngoài.

1. Khó khăn của doanh nghiệp Việt Nam khi thực hiện hoạt động đầu tư ra nước ngoài

Thứ nhất, tiềm lực và kinh nghiệm của đa số các doanh nghiệp Việt Nam thực hiện hoạt động đầu tư ra nước ngoài còn hạn chế. Trong khi các quốc gia trên thế giới đã chú trọng vào hoạt động đầu tư ra nước ngoài từ rất lâu, thì tại Việt Nam, hoạt động đầu tư ra nước ngoài chỉ mới được bắt đầu từ những năm 90 và trong những năm gần đây mới có xu hướng phát triển mạnh. Các doanh nghiệp Việt Nam gặp khó khăn do bất đồng ngôn ngữ, chưa có sự tìm hiểu kỹ về môi trường đầu tư, văn hóa, phong tục tập quán cũng như pháp luật về đầu tư của nước tiếp nhận đầu tư. Bên cạnh đó, so với các doanh nghiệp đến từ các quốc gia khác thì năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam còn yếu. Đa số các doanh nghiệp Việt Nam còn hạn chế về năng lực tài chính, kỹ thuật công nghệ cũng như năng lực quản lý, đồng thời chưa có nhiều kinh nghiệm hoạt động đầu tư kinh doanh trên thương trường quốc tế. Ngoài ra, các doanh nghiệp Việt Nam khi hoạt động kinh doanh ở nước ngoài còn mang tính riêng lẻ, manh mún, chưa có sự liên kết nhằm giúp đỡ, hỗ trợ nhau cùng phát triển, thậm chí có trường hợp cạnh tranh không lành mạnh.

Thứ hai, quy định của pháp luật Việt Nam về hoạt động đầu tư ra nước ngoài còn tồn tại một số hạn chế, bất cập. Luật Đầu tư năm 2014 được ban hành với mục tiêu tạo cơ sở pháp lý vững chắc, bảo đảm cho hoạt động đầu tư ra nước ngoài đạt hiệu quả. Tuy nhiên, khi triển khai thực hiện các quy định pháp luật về hoạt động đầu tư ra nước ngoài đã nảy sinh một số vướng mắc, bất cập, chưa thực sự tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam. Cụ thể là:

- Chưa có kế hoạch tổng thể xây dựng chiến lược đầu tư ra nước ngoài một cách hợp lý. Khoản 1 Điều 51 Luật Đầu tư năm 2014 quy định: “Nhà nước khuyến khích nhà đầu tư thực hiện hoạt động đầu tư ra nước ngoài nhằm khai thác, phát triển, mở rộng thị trường; tăng khả năng xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ, thu ngoại tệ; tiếp cận công nghệ hiện đại, nâng cao năng lực quản lý và bổ sung nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội đất nước”. Tuy nhiên, đến nay Nhà nước vẫn chưa xây dựng được chiến lược đầu tư ra nước ngoài một cách hợp lý, lâu dài, chưa thực sự khuyến khích được các doanh nghiệp Việt Nam thực hiện hoạt động đầu tư ra nước ngoài. Đến nay, Nhà nước vẫn chưa đưa ra danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh khuyến khích đầu tư ra nước ngoài, địa bàn chiến lược khuyến khích đầu tư ra nước ngoài…

- Việc cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài chưa được phân cấp. Theo quy định tại Điều 59 Luật Đầu tư năm 2014, cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài là Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Hiện nay, Bộ Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan duy nhất thực hiện việc cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài cho tất cả các dự án đầu tư. Quy định này gây khó khăn không chỉ cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư mà còn đối với nhà đầu tư. Đối với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cơ quan này gặp khó khăn trong khâu kiểm tra, xem xét và cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài. Những số liệu trên cho thấy, các dự án đầu tư ra nước ngoài đang có xu hướng gia tăng, năm sau thường cao hơn năm trước. Trong khi đó, chỉ có một cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài. Vì vậy, trên thực tế không tránh khỏi sự quá tải công việc, dẫn đến sự ùn tắc, chậm trễ trong việc giải quyết. Nhà đầu tư, đặc biệt là các doanh nghiệp trên địa bàn các tỉnh miền Nam, miền Trung sẽ tốn kém thời gian, công sức cũng như tiền bạc để có được giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài.

- Thủ tục đầu tư ra nước ngoài còn rườm rà, kéo dài. So với Luật Đầu tư năm 2005, thì Luật Đầu tư năm 2014 và Nghị định số 83/2015/NĐ-CP ngày 25/9/2015 của Chính phủ quy định về đầu tư ra nước ngoài (Nghị định số 83/2015/NĐ-CP) đã có sự thay đổi trong quy định về trình tự, thủ tục đầu tư ra nước ngoài. Cụ thể là, không dựa trên quy mô vốn đầu tư của dự án đầu tư ra nước ngoài như trước đây. Theo pháp luật hiện hành, thủ tục đầu tư ra nước ngoài gồm thủ tục quyết định chủ trương đầu tư ra nước ngoài và thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài. Tất cả các dự án đầu tư ra nước ngoài đều phải thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài. Trong khi đó, chỉ có một số dự án đầu tư ra nước ngoài thuộc diện pháp luật quy định mới phải thực hiện thủ tục quyết định chủ trương đầu tư ra nước ngoài (Điều 54 Luật Đầu tư năm 2014). Thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư ra nước ngoài thuộc về Quốc hội và Thủ tướng Chính phủ. Tuy nhiên, hiện nay, thời hạn quyết định chủ trương đầu tư ra nước ngoài còn kéo dài, cụ thể là 58 ngày đối với các dự án thuộc diện Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư ra nước ngoài[1] và ít nhất 155 ngày đối với các dự án thuộc diện Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư ra nước ngoài (Điều 56 Luật Đầu tư năm 2014).

Bên cạnh đó, theo quy định của pháp luật hiện hành thì thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài có thể thực hiện bằng một trong hai cách, đó là thực hiện trực tiếp tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư hoặc thực hiện thông qua Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài (Điều 18 Nghị định số 83/2015/NĐ-CP). Trong trường hợp thực hiện trực tiếp, thì hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài đối với dự án thuộc diện phải có quyết định chủ trương đầu tư ra nước ngoài hay dự án không thuộc diện phải có quyết định chủ trương đầu tư ra nước ngoài chỉ được tiếp nhận khi đã được đăng ký trên Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài[2]. Tuy nhiên, Cổng thông tin quốc gia về đầu tư nước ngoài (https://dautunuocngoai.gov.vn/fdi) hoạt động còn chưa ổn định, tài liệu hướng dẫn sử dụng hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư nước ngoài không thể truy cập, tình trạng nghẽn mạng, xử lý thông tin chậm gây mất thời gian cho nhà đầu tư trong việc kê khai hồ sơ cũng như tra cứu thông tin.

- Quy định về quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư khi thực hiện hoạt động đầu tư ra nước ngoài còn chung chung, chưa hợp lý. Pháp luật hiện hành không có điều luật quy định trực tiếp quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư khi thực hiện hoạt động đầu tư ra nước ngoài mà được quy định rải rác trong các điều luật tại Mục 4 Chương 5 Luật Đầu tư năm 2014 về triển khai hoạt động đầu tư ở nước ngoài và Nghị định số 83/2015/NĐ-CP. Bên cạnh đó, còn có quy định chưa phù hợp với thực tiễn hiện nay. Chẳng hạn như, quy định về hạn mức chuyển ngoại tệ khi nhà đầu tư thực hiện chuyển ngoại tệ ra nước ngoài trước khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài để đáp ứng các chi phí cho hoạt động hình thành dự án đầu tư. Theo khoản 4 Điều 19 Nghị định số 83/2015/NĐ-CP, hạn mức chuyển ngoại tệ không vượt quá 5% tổng vốn đầu tư ra nước ngoài và không quá 300.000 đô la Mỹ, được tính vào tổng vốn đầu tư ra nước ngoài. Quy định này đang dần trở thành rào cản đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài, bởi dòng vốn đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam có xu hướng ngày càng tăng.

Thứ ba, doanh nghiệp Việt Nam khi đầu tư ra nước ngoài chưa nhận được nhiều sự hỗ trợ từ phía Nhà nước. Hiện nay, vẫn chưa có những biện pháp hỗ trợ cụ thể, thiết thực cho sự phát triển của hoạt động đầu tư ra nước ngoài. Việc thu thập các thông tin về môi trường đầu tư ở nước ngoài chưa được coi trọng, đặc biệt công tác xúc tiến đầu tư ra nước ngoài chưa được quan tâm đúng mức[3]. Theo quy định hiện hành, Cục Đầu tư nước ngoài là đơn vị thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư, giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hoạt động đầu tư trực tiếp của Việt Nam ra nước ngoài; xây dựng chiến lược, kế hoạch, cơ chế, chính sách về đầu tư ra nước ngoài; tổ chức hoạt động xúc tiến đầu tư, hướng dẫn thủ tục đầu tư. Một trong những nhiệm vụ của Cục Đầu tư nước ngoài là hỗ trợ các nhà đầu tư tìm hiểu cơ hội đầu tư[4]. Tuy nhiên, sự hỗ trợ này vẫn chưa thực sự phát huy hiệu quả, chưa đưa ra được danh mục các cơ hội đầu tư ở nước ngoài với những thông tin về môi trường đầu tư, cơ chế pháp lý, đặc điểm môi trường đầu tư…

Bên cạnh đó, mối liên hệ giữa cơ quan đại diện ngoại giao và thương vụ Việt Nam ở nước ngoài với các doanh nghiệp còn lỏng lẻo nên khi gặp khó khăn trong quá trình triển khai dự án không tranh thủ được tối đa sự hỗ trợ của các cơ quan này. Cơ quan thương vụ chưa giúp được nhiều cho các doanh nghiệp trong việc giải quyết các tranh chấp, hướng dẫn các thủ tục về đầu tư của nước tiếp nhận đầu tư, tư vấn thông tin liên quan đến môi trường luật pháp, đối tác đầu tư, lĩnh vực đầu tư[5]. Do đó, các doanh nghiệp Việt Nam thường bị lạ lẫm, thiếu thông tin về thị trường đầu tư, dẫn đến đầu tư chưa hiệu quả.

2. Một số kiến nghị nhằm tháo gỡ những khó khăn cho doanh nghiệp Việt Nam khi đầu tư ra nước ngoài

Từ những khó khăn nêu trên, nhóm tác giả đưa ra một số kiến nghị nhằm tháo gỡ những khó khăn cho doanh nghiệp Việt Nam, qua đó góp phần thúc đẩy hoạt động đầu tư ra nước ngoài.

Thứ nhất, bản thân các doanh nghiệp Việt Nam phải có ý thức trách nhiệm hơn, chủ động hơn trong việc tìm hiểu cơ chế chính sách pháp luật Việt Nam, văn hóa, phong tục, tập quán, pháp luật của nước tiếp nhận đầu tư cũng như các điều ước quốc tế mà Việt Nam và nước tiếp nhận đầu tư đã tham gia. Các doanh nghiệp Việt Nam chỉ nên quyết định đầu tư khi có thông tin đầy đủ, đáng tin cậy về dự án đầu tư. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cần tích cực cải thiện khả năng cạnh tranh bằng đầu tư trung và dài hạn để hoạt động đầu tư ra nước ngoài phát huy hiệu quả hơn. Ngoài ra, cần tăng cường mối liên kết giữa các doanh nghiệp Việt Nam nhằm giúp đỡ, hỗ trợ nhau cùng phát triển.

Thứ hai, hoàn thiện pháp luật Việt Nam về hoạt động đầu tư ra nước ngoài. Cụ thể:

- Cần xây dựng chiến lược cụ thể về hoạt động đầu tư ra nước ngoài bao gồm nhiều nội dung, trong đó chú ý đến mục tiêu và định hướng phát triển đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam theo từng giai đoạn; ngành, nghề đầu tư kinh doanh khuyến khích đầu tư ra nước ngoài; thị trường đầu tư trọng điểm cho các dự án; các biện pháp hỗ trợ nhằm khuyến khích, thúc đẩy hoạt động đầu tư ra nước ngoài.

- Quy định thêm cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài. Cụ thể là, quy định Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cũng có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài và phải phân định rõ thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Quy định như vậy sẽ giải quyết được vấn đề ùn tắc, quá tải, chậm trễ trong việc cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài, đồng thời giảm một số lượng công việc đáng kể cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Qua đó, giúp các doanh nghiệp Việt Nam nhanh chóng được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài để có thể tiến hành hoạt động đầu tư kinh doanh.

- Giảm thời gian cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài đối với các dự án cần quyết định chủ trương đầu tư. Bởi vì, trên thực tế, có trường hợp doanh nghiệp Việt Nam chờ đợi được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài mà lỡ mất cơ hội. Do đó, việc giảm thời gian sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam khi thực hiện đầu tư ra nước ngoài.

- Nâng cấp hệ thống cổng thông tin quốc gia về đầu tư ra nước ngoài. Bởi đây không chỉ là công cụ tiện lợi hỗ trợ việc khai hồ sơ đăng ký đầu tư ra nước ngoài qua mạng mà còn là kênh thông tin hữu ích về đầu tư ra nước ngoài đối với các nhà đầu tư. Việc thường xuyên kiểm tra, nâng cấp, cập nhật hệ thống sao cho hoạt động thông suốt là điều rất cần thiết.

- Cần có điều luật quy định cụ thể về các quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư tham gia hoạt động đầu tư ra nước ngoài. Quy định như vậy sẽ giúp nhà đầu tư nắm rõ được quyền và nghĩa vụ của mình, từ đó các nhà đầu tư sẽ chủ động trong việc thực hiện hoạt động đầu tư ra nước ngoài. Bên cạnh đó, cũng cần sửa đổi một số quy định về các quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư sao cho phù hợp với thực tiễn hiện nay. Chẳng hạn như, quy định về hạn mức chuyển ngoại tệ khi nhà đầu tư thực hiện chuyển ngoại tệ ra nước ngoài trước khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài để đáp ứng các chi phí cho hoạt động hình thành dự án đầu tư. Cần nâng hạn mức chuyển ngoại tệ lên hơn mức 5% tổng vốn đầu tư ra nước ngoài và không quy định số tiền cụ thể nhằm đảm bảo quyền tự do cho nhà đầu tư cũng như đảm bảo cho hoạt động đầu tư ra nước ngoài đạt hiệu quả.

Thứ ba, cần tăng cường các hoạt động hỗ trợ và tư vấn về đầu tư ra nước ngoài cho nhà đầu tư. Cục Đầu tư nước ngoài cần phát huy hơn nữa vai trò của mình trong việc hỗ trợ các nhà đầu tư tìm hiểu cơ hội đầu tư ra nước ngoài. Việt Nam có thể tham khảo kinh nghiệm của Nhật Bản, Hàn Quốc trong việc hình thành một hệ thống các công cụ hỗ trợ nhà đầu tư ra nước ngoài về việc xúc tiến tìm kiếm thị trường, hỗ trợ tài chính để triển khai các dự án đầu tư, hỗ trợ phát triển hạ tầng cho nước tiếp nhận đầu tư, hỗ trợ bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư[6].

Bên cạnh đó, cơ quan đại diện ngoại giao và thương vụ Việt Nam ở nước ngoài phải kết hợp với các hiệp hội giúp doanh nghiệp Việt Nam tìm hiểu thông tin thị trường, đối tác, hướng dẫn các quy định pháp luật về đầu tư của nước tiếp nhận đầu tư… Các cơ quan này cần hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam trong suốt quá trình thực hiện hoạt động đầu tư tại nước tiếp nhận đầu tư.

Trong những năm gần đây, có thể thấy xu hướng đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam ngày càng gia tăng và là yếu tố tích cực giúp các doanh nghiệp Việt Nam phát triển. Tuy nhiên, khi thực hiện hoạt động đầu tư ra nước ngoài, các doanh nghiệp Việt Nam vẫn phải đối diện với nhiều khó khăn. Đây là những rào cản khiến cho hoạt động đầu tư ra nước ngoài chưa đạt được hiệu quả. Vì vậy, việc nhanh chóng thực hiện các giải pháp nhằm tháo gỡ những khó khăn cho doanh nghiệp Việt Nam khi đầu tư ra nước ngoài là điều rất cần thiết.

ThS. Lê Ngọc Anh

ThS. Vũ Thị Hòa Như

Đại học Luật Hà Nội





[1]. Xem Điều 55 Luật Đầu tư năm 2014 và Điều 10 Nghị định số 83/2015/NĐ-CP.

[2]. Xem khoản 2 Điều 10, khoản 2 Điều 15 Nghị định số 83/2015/NĐ-CP.

[3]. Http://www.moit.gov.vn/tin-chi-tiet/-/chi-tiet/%C4%91au-tu-viet-nam-ra-nuoc-ngoai-va-cong-tac-thuong-vu-102586-401.html.

[4]. Xem Quyết định số 1895/QĐ-BKHĐT ngày 22/12/2017 của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Đầu tư nước ngoài.

[5]. Phạm Quang Trung, Bùi Huy Nhượng, “Hai mươi lăm năm đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản, số 873, năm 2015.

[6]. Trần Thanh Hải, “Kinh nghiệm pháp luật về quản lý dòng vốn đầu tư ra nước ngoài của Nhật Bản, Hàn Quốc và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc quản lý doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài”, Tạp chí Nghề luật, số 2, năm 2018.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.

Theo dõi chúng tôi trên: