Thứ năm 27/08/2026 05:59
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Khó khăn của doanh nghiệp Việt Nam khi đầu tư ra nước ngoài

Trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay, đầu tư ra nước ngoài đang là xu thế chung của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Thông qua hoạt động này, các nhà đầu tư có thể khai thác được những lợi thế so sánh của nước tiếp nhận đầu tư, tiếp cận khoa học kỹ thuật, mở rộng thị trường,

Trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay, đầu tư ra nước ngoài đang là xu thế chung của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Thông qua hoạt động này, các nhà đầu tư có thể khai thác được những lợi thế so sánh của nước tiếp nhận đầu tư, tiếp cận khoa học kỹ thuật, mở rộng thị trường, tránh được các hàng rào thuế quan và phi thuế quan của nước tiếp nhận đầu tư. Bên cạnh đó, đầu tư ra nước ngoài cũng mang về cho đất nước một lượng ngoại tệ đáng kể góp phần vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Nhận thức được tầm quan trọng đó, trong những năm gần đây, các doanh nghiệp Việt Nam đã chú trọng đến việc đầu tư ra nước ngoài. Trên thực tế, khi thực hiện hoạt động đầu tư ra nước ngoài, các doanh nghiệp Việt Nam gặp nhiều thuận lợi như sự gần gũi giữa các quốc gia, quan hệ ngoại giao hữu nghị tốt đẹp giữa Việt Nam và các nước tiếp nhận đầu tư… Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi đó, các doanh nghiệp Việt Nam cũng gặp không ít khó khăn, thách thức khi thực hiện hoạt động đầu tư ra nước ngoài.

1. Khó khăn của doanh nghiệp Việt Nam khi thực hiện hoạt động đầu tư ra nước ngoài

Thứ nhất, tiềm lực và kinh nghiệm của đa số các doanh nghiệp Việt Nam thực hiện hoạt động đầu tư ra nước ngoài còn hạn chế. Trong khi các quốc gia trên thế giới đã chú trọng vào hoạt động đầu tư ra nước ngoài từ rất lâu, thì tại Việt Nam, hoạt động đầu tư ra nước ngoài chỉ mới được bắt đầu từ những năm 90 và trong những năm gần đây mới có xu hướng phát triển mạnh. Các doanh nghiệp Việt Nam gặp khó khăn do bất đồng ngôn ngữ, chưa có sự tìm hiểu kỹ về môi trường đầu tư, văn hóa, phong tục tập quán cũng như pháp luật về đầu tư của nước tiếp nhận đầu tư. Bên cạnh đó, so với các doanh nghiệp đến từ các quốc gia khác thì năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam còn yếu. Đa số các doanh nghiệp Việt Nam còn hạn chế về năng lực tài chính, kỹ thuật công nghệ cũng như năng lực quản lý, đồng thời chưa có nhiều kinh nghiệm hoạt động đầu tư kinh doanh trên thương trường quốc tế. Ngoài ra, các doanh nghiệp Việt Nam khi hoạt động kinh doanh ở nước ngoài còn mang tính riêng lẻ, manh mún, chưa có sự liên kết nhằm giúp đỡ, hỗ trợ nhau cùng phát triển, thậm chí có trường hợp cạnh tranh không lành mạnh.

Thứ hai, quy định của pháp luật Việt Nam về hoạt động đầu tư ra nước ngoài còn tồn tại một số hạn chế, bất cập. Luật Đầu tư năm 2014 được ban hành với mục tiêu tạo cơ sở pháp lý vững chắc, bảo đảm cho hoạt động đầu tư ra nước ngoài đạt hiệu quả. Tuy nhiên, khi triển khai thực hiện các quy định pháp luật về hoạt động đầu tư ra nước ngoài đã nảy sinh một số vướng mắc, bất cập, chưa thực sự tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam. Cụ thể là:

- Chưa có kế hoạch tổng thể xây dựng chiến lược đầu tư ra nước ngoài một cách hợp lý. Khoản 1 Điều 51 Luật Đầu tư năm 2014 quy định: “Nhà nước khuyến khích nhà đầu tư thực hiện hoạt động đầu tư ra nước ngoài nhằm khai thác, phát triển, mở rộng thị trường; tăng khả năng xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ, thu ngoại tệ; tiếp cận công nghệ hiện đại, nâng cao năng lực quản lý và bổ sung nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội đất nước”. Tuy nhiên, đến nay Nhà nước vẫn chưa xây dựng được chiến lược đầu tư ra nước ngoài một cách hợp lý, lâu dài, chưa thực sự khuyến khích được các doanh nghiệp Việt Nam thực hiện hoạt động đầu tư ra nước ngoài. Đến nay, Nhà nước vẫn chưa đưa ra danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh khuyến khích đầu tư ra nước ngoài, địa bàn chiến lược khuyến khích đầu tư ra nước ngoài…

- Việc cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài chưa được phân cấp. Theo quy định tại Điều 59 Luật Đầu tư năm 2014, cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài là Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Hiện nay, Bộ Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan duy nhất thực hiện việc cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài cho tất cả các dự án đầu tư. Quy định này gây khó khăn không chỉ cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư mà còn đối với nhà đầu tư. Đối với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cơ quan này gặp khó khăn trong khâu kiểm tra, xem xét và cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài. Những số liệu trên cho thấy, các dự án đầu tư ra nước ngoài đang có xu hướng gia tăng, năm sau thường cao hơn năm trước. Trong khi đó, chỉ có một cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài. Vì vậy, trên thực tế không tránh khỏi sự quá tải công việc, dẫn đến sự ùn tắc, chậm trễ trong việc giải quyết. Nhà đầu tư, đặc biệt là các doanh nghiệp trên địa bàn các tỉnh miền Nam, miền Trung sẽ tốn kém thời gian, công sức cũng như tiền bạc để có được giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài.

- Thủ tục đầu tư ra nước ngoài còn rườm rà, kéo dài. So với Luật Đầu tư năm 2005, thì Luật Đầu tư năm 2014 và Nghị định số 83/2015/NĐ-CP ngày 25/9/2015 của Chính phủ quy định về đầu tư ra nước ngoài (Nghị định số 83/2015/NĐ-CP) đã có sự thay đổi trong quy định về trình tự, thủ tục đầu tư ra nước ngoài. Cụ thể là, không dựa trên quy mô vốn đầu tư của dự án đầu tư ra nước ngoài như trước đây. Theo pháp luật hiện hành, thủ tục đầu tư ra nước ngoài gồm thủ tục quyết định chủ trương đầu tư ra nước ngoài và thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài. Tất cả các dự án đầu tư ra nước ngoài đều phải thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài. Trong khi đó, chỉ có một số dự án đầu tư ra nước ngoài thuộc diện pháp luật quy định mới phải thực hiện thủ tục quyết định chủ trương đầu tư ra nước ngoài (Điều 54 Luật Đầu tư năm 2014). Thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư ra nước ngoài thuộc về Quốc hội và Thủ tướng Chính phủ. Tuy nhiên, hiện nay, thời hạn quyết định chủ trương đầu tư ra nước ngoài còn kéo dài, cụ thể là 58 ngày đối với các dự án thuộc diện Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư ra nước ngoài[1] và ít nhất 155 ngày đối với các dự án thuộc diện Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư ra nước ngoài (Điều 56 Luật Đầu tư năm 2014).

Bên cạnh đó, theo quy định của pháp luật hiện hành thì thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài có thể thực hiện bằng một trong hai cách, đó là thực hiện trực tiếp tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư hoặc thực hiện thông qua Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài (Điều 18 Nghị định số 83/2015/NĐ-CP). Trong trường hợp thực hiện trực tiếp, thì hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài đối với dự án thuộc diện phải có quyết định chủ trương đầu tư ra nước ngoài hay dự án không thuộc diện phải có quyết định chủ trương đầu tư ra nước ngoài chỉ được tiếp nhận khi đã được đăng ký trên Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài[2]. Tuy nhiên, Cổng thông tin quốc gia về đầu tư nước ngoài (https://dautunuocngoai.gov.vn/fdi) hoạt động còn chưa ổn định, tài liệu hướng dẫn sử dụng hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư nước ngoài không thể truy cập, tình trạng nghẽn mạng, xử lý thông tin chậm gây mất thời gian cho nhà đầu tư trong việc kê khai hồ sơ cũng như tra cứu thông tin.

- Quy định về quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư khi thực hiện hoạt động đầu tư ra nước ngoài còn chung chung, chưa hợp lý. Pháp luật hiện hành không có điều luật quy định trực tiếp quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư khi thực hiện hoạt động đầu tư ra nước ngoài mà được quy định rải rác trong các điều luật tại Mục 4 Chương 5 Luật Đầu tư năm 2014 về triển khai hoạt động đầu tư ở nước ngoài và Nghị định số 83/2015/NĐ-CP. Bên cạnh đó, còn có quy định chưa phù hợp với thực tiễn hiện nay. Chẳng hạn như, quy định về hạn mức chuyển ngoại tệ khi nhà đầu tư thực hiện chuyển ngoại tệ ra nước ngoài trước khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài để đáp ứng các chi phí cho hoạt động hình thành dự án đầu tư. Theo khoản 4 Điều 19 Nghị định số 83/2015/NĐ-CP, hạn mức chuyển ngoại tệ không vượt quá 5% tổng vốn đầu tư ra nước ngoài và không quá 300.000 đô la Mỹ, được tính vào tổng vốn đầu tư ra nước ngoài. Quy định này đang dần trở thành rào cản đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài, bởi dòng vốn đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam có xu hướng ngày càng tăng.

Thứ ba, doanh nghiệp Việt Nam khi đầu tư ra nước ngoài chưa nhận được nhiều sự hỗ trợ từ phía Nhà nước. Hiện nay, vẫn chưa có những biện pháp hỗ trợ cụ thể, thiết thực cho sự phát triển của hoạt động đầu tư ra nước ngoài. Việc thu thập các thông tin về môi trường đầu tư ở nước ngoài chưa được coi trọng, đặc biệt công tác xúc tiến đầu tư ra nước ngoài chưa được quan tâm đúng mức[3]. Theo quy định hiện hành, Cục Đầu tư nước ngoài là đơn vị thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư, giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hoạt động đầu tư trực tiếp của Việt Nam ra nước ngoài; xây dựng chiến lược, kế hoạch, cơ chế, chính sách về đầu tư ra nước ngoài; tổ chức hoạt động xúc tiến đầu tư, hướng dẫn thủ tục đầu tư. Một trong những nhiệm vụ của Cục Đầu tư nước ngoài là hỗ trợ các nhà đầu tư tìm hiểu cơ hội đầu tư[4]. Tuy nhiên, sự hỗ trợ này vẫn chưa thực sự phát huy hiệu quả, chưa đưa ra được danh mục các cơ hội đầu tư ở nước ngoài với những thông tin về môi trường đầu tư, cơ chế pháp lý, đặc điểm môi trường đầu tư…

Bên cạnh đó, mối liên hệ giữa cơ quan đại diện ngoại giao và thương vụ Việt Nam ở nước ngoài với các doanh nghiệp còn lỏng lẻo nên khi gặp khó khăn trong quá trình triển khai dự án không tranh thủ được tối đa sự hỗ trợ của các cơ quan này. Cơ quan thương vụ chưa giúp được nhiều cho các doanh nghiệp trong việc giải quyết các tranh chấp, hướng dẫn các thủ tục về đầu tư của nước tiếp nhận đầu tư, tư vấn thông tin liên quan đến môi trường luật pháp, đối tác đầu tư, lĩnh vực đầu tư[5]. Do đó, các doanh nghiệp Việt Nam thường bị lạ lẫm, thiếu thông tin về thị trường đầu tư, dẫn đến đầu tư chưa hiệu quả.

2. Một số kiến nghị nhằm tháo gỡ những khó khăn cho doanh nghiệp Việt Nam khi đầu tư ra nước ngoài

Từ những khó khăn nêu trên, nhóm tác giả đưa ra một số kiến nghị nhằm tháo gỡ những khó khăn cho doanh nghiệp Việt Nam, qua đó góp phần thúc đẩy hoạt động đầu tư ra nước ngoài.

Thứ nhất, bản thân các doanh nghiệp Việt Nam phải có ý thức trách nhiệm hơn, chủ động hơn trong việc tìm hiểu cơ chế chính sách pháp luật Việt Nam, văn hóa, phong tục, tập quán, pháp luật của nước tiếp nhận đầu tư cũng như các điều ước quốc tế mà Việt Nam và nước tiếp nhận đầu tư đã tham gia. Các doanh nghiệp Việt Nam chỉ nên quyết định đầu tư khi có thông tin đầy đủ, đáng tin cậy về dự án đầu tư. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cần tích cực cải thiện khả năng cạnh tranh bằng đầu tư trung và dài hạn để hoạt động đầu tư ra nước ngoài phát huy hiệu quả hơn. Ngoài ra, cần tăng cường mối liên kết giữa các doanh nghiệp Việt Nam nhằm giúp đỡ, hỗ trợ nhau cùng phát triển.

Thứ hai, hoàn thiện pháp luật Việt Nam về hoạt động đầu tư ra nước ngoài. Cụ thể:

- Cần xây dựng chiến lược cụ thể về hoạt động đầu tư ra nước ngoài bao gồm nhiều nội dung, trong đó chú ý đến mục tiêu và định hướng phát triển đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam theo từng giai đoạn; ngành, nghề đầu tư kinh doanh khuyến khích đầu tư ra nước ngoài; thị trường đầu tư trọng điểm cho các dự án; các biện pháp hỗ trợ nhằm khuyến khích, thúc đẩy hoạt động đầu tư ra nước ngoài.

- Quy định thêm cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài. Cụ thể là, quy định Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cũng có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài và phải phân định rõ thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Quy định như vậy sẽ giải quyết được vấn đề ùn tắc, quá tải, chậm trễ trong việc cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài, đồng thời giảm một số lượng công việc đáng kể cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Qua đó, giúp các doanh nghiệp Việt Nam nhanh chóng được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài để có thể tiến hành hoạt động đầu tư kinh doanh.

- Giảm thời gian cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài đối với các dự án cần quyết định chủ trương đầu tư. Bởi vì, trên thực tế, có trường hợp doanh nghiệp Việt Nam chờ đợi được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài mà lỡ mất cơ hội. Do đó, việc giảm thời gian sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam khi thực hiện đầu tư ra nước ngoài.

- Nâng cấp hệ thống cổng thông tin quốc gia về đầu tư ra nước ngoài. Bởi đây không chỉ là công cụ tiện lợi hỗ trợ việc khai hồ sơ đăng ký đầu tư ra nước ngoài qua mạng mà còn là kênh thông tin hữu ích về đầu tư ra nước ngoài đối với các nhà đầu tư. Việc thường xuyên kiểm tra, nâng cấp, cập nhật hệ thống sao cho hoạt động thông suốt là điều rất cần thiết.

- Cần có điều luật quy định cụ thể về các quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư tham gia hoạt động đầu tư ra nước ngoài. Quy định như vậy sẽ giúp nhà đầu tư nắm rõ được quyền và nghĩa vụ của mình, từ đó các nhà đầu tư sẽ chủ động trong việc thực hiện hoạt động đầu tư ra nước ngoài. Bên cạnh đó, cũng cần sửa đổi một số quy định về các quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư sao cho phù hợp với thực tiễn hiện nay. Chẳng hạn như, quy định về hạn mức chuyển ngoại tệ khi nhà đầu tư thực hiện chuyển ngoại tệ ra nước ngoài trước khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài để đáp ứng các chi phí cho hoạt động hình thành dự án đầu tư. Cần nâng hạn mức chuyển ngoại tệ lên hơn mức 5% tổng vốn đầu tư ra nước ngoài và không quy định số tiền cụ thể nhằm đảm bảo quyền tự do cho nhà đầu tư cũng như đảm bảo cho hoạt động đầu tư ra nước ngoài đạt hiệu quả.

Thứ ba, cần tăng cường các hoạt động hỗ trợ và tư vấn về đầu tư ra nước ngoài cho nhà đầu tư. Cục Đầu tư nước ngoài cần phát huy hơn nữa vai trò của mình trong việc hỗ trợ các nhà đầu tư tìm hiểu cơ hội đầu tư ra nước ngoài. Việt Nam có thể tham khảo kinh nghiệm của Nhật Bản, Hàn Quốc trong việc hình thành một hệ thống các công cụ hỗ trợ nhà đầu tư ra nước ngoài về việc xúc tiến tìm kiếm thị trường, hỗ trợ tài chính để triển khai các dự án đầu tư, hỗ trợ phát triển hạ tầng cho nước tiếp nhận đầu tư, hỗ trợ bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư[6].

Bên cạnh đó, cơ quan đại diện ngoại giao và thương vụ Việt Nam ở nước ngoài phải kết hợp với các hiệp hội giúp doanh nghiệp Việt Nam tìm hiểu thông tin thị trường, đối tác, hướng dẫn các quy định pháp luật về đầu tư của nước tiếp nhận đầu tư… Các cơ quan này cần hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam trong suốt quá trình thực hiện hoạt động đầu tư tại nước tiếp nhận đầu tư.

Trong những năm gần đây, có thể thấy xu hướng đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam ngày càng gia tăng và là yếu tố tích cực giúp các doanh nghiệp Việt Nam phát triển. Tuy nhiên, khi thực hiện hoạt động đầu tư ra nước ngoài, các doanh nghiệp Việt Nam vẫn phải đối diện với nhiều khó khăn. Đây là những rào cản khiến cho hoạt động đầu tư ra nước ngoài chưa đạt được hiệu quả. Vì vậy, việc nhanh chóng thực hiện các giải pháp nhằm tháo gỡ những khó khăn cho doanh nghiệp Việt Nam khi đầu tư ra nước ngoài là điều rất cần thiết.

ThS. Lê Ngọc Anh

ThS. Vũ Thị Hòa Như

Đại học Luật Hà Nội





[1]. Xem Điều 55 Luật Đầu tư năm 2014 và Điều 10 Nghị định số 83/2015/NĐ-CP.

[2]. Xem khoản 2 Điều 10, khoản 2 Điều 15 Nghị định số 83/2015/NĐ-CP.

[3]. Http://www.moit.gov.vn/tin-chi-tiet/-/chi-tiet/%C4%91au-tu-viet-nam-ra-nuoc-ngoai-va-cong-tac-thuong-vu-102586-401.html.

[4]. Xem Quyết định số 1895/QĐ-BKHĐT ngày 22/12/2017 của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Đầu tư nước ngoài.

[5]. Phạm Quang Trung, Bùi Huy Nhượng, “Hai mươi lăm năm đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản, số 873, năm 2015.

[6]. Trần Thanh Hải, “Kinh nghiệm pháp luật về quản lý dòng vốn đầu tư ra nước ngoài của Nhật Bản, Hàn Quốc và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc quản lý doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài”, Tạp chí Nghề luật, số 2, năm 2018.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: