Thứ ba 18/08/2026 09:57
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật ở tỉnh Thái Bình

Tóm tắt: Bài viết này nêu lên thực trạng công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật ở Thái Bình, từ đó đưa ra một số tồn tại, hạn chế và đề xuất những giải pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật ở tỉnh Thái Bình.


Abstract: The article raises the real situation of examining, handling legal documents in Thai Binh and some shortcomings, limitations and puts forward specific solutions for improving effect of examining, handling legal documents in Thai Binh Province.

Kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với việc xây dựng, hoàn thiện và nâng cao chất lượng hệ thống pháp luật. Bởi, kiểm tra và xử lý văn bản QPPL không chỉ phát hiện, hủy bỏ những quy định mâu thuẫn, chồng chéo, trái pháp luật, thiếu tính hợp lý; xử lý nghiêm những hành vi trái pháp luật trong xây dựng, ban hành văn bản QPPL mà còn bảo đảm tính hợp pháp, hợp lý, đồng bộ, minh bạch của các văn bản QPPL. Do đó, các địa phương nói chung và tỉnh Thái Bình nói riêng cần quan tâm hơn nữa tới hoạt động kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật.

Trước hết, cần làm rõ khái niệm kiểm tra và xử lý văn bản QPPL. Theo khoản 4 Điều 2 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, kiểm tra văn bản QPPL được hiểu là việc xem xét, đánh giá, kết luận về tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất của văn bản QPPL được kiểm tra và xử lý văn bản trái pháp luật. Trên cơ sở đó xem xét thẩm quyền ban hành văn bản QPPL, nội dung của văn bản phù hợp với quy định của pháp luật, căn cứ pháp lý, thể thức, kỹ thuật trình bày, trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản. Hoạt động kiểm tra văn bản QPPL có các hình thức: Tự kiểm tra, kiểm tra theo thẩm quyền, kiểm tra khi nhận được yêu cầu, kiến nghị của các cơ quan, tổ chức, cá nhân phát hiện văn bản có dấu hiệu trái pháp luật, kiểm tra đột xuất.

Xử lý văn bản QPPL là việc các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền xem xét, đánh giá, quyết định các hình thức xử lý đối với văn bản QPPL trái pháp luật theo đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục và hình thức do pháp luật quy định. Hoạt động xử lý văn bản quy phạm pháp luật có các hình thức: Đình chỉ việc thi hành một phần hoặc toàn bộ văn bản, bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản, đính chính văn bản và xử lý trách nhiệm đối với cơ quan, người đã ban hành văn bản trái pháp luật. Như vậy, xử lý văn bản QPPL là hệ quả của quá trình kiểm tra văn bản QPPL. Thực hiện tốt việc xử lý văn bản QPPL cũng chính là nâng cao vai trò, tầm quan trọng của hoạt động kiểm tra văn bản QPPL. Hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản QPPL là hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với quản lý nhà nước, góp phần phát hiện, loại bỏ những văn bản trái pháp luật, từ đó đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho cơ quan, tổ chức, cá nhân; đồng thời nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Vì thế, khi tiến hành kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật cần tuân thủ các nguyên tắc, trình tự, thủ tục do pháp luật quy định.

Trong những năm qua, công tác xây dựng, ban hành văn bản QPPL ở tỉnh Thái Bình luôn được các cấp, các ngành quan tâm. Đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác văn bản đang được củng cố và kiện toàn ở các cấp; công tác đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ, công chức được chú trọng và thực hiện hàng năm. Nội dung văn bản QPPL đa dạng, đề cập đến nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh tế - xã hội, góp phần thể chế hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Đồng thời, văn bản QPPL là cơ sở để thực hiện hoạt động chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức thực hiện các quy định trên địa bàn tỉnh. Hầu hết các văn bản QPPL ở tỉnh Thái Bình khi được ban hành đều được kiểm tra và xử lý theo đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền. Tình hình kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật ở tỉnh Thái Bình được thể hiện trên hai mặt hoạt động đó là hoạt động tự kiểm tra của Hội đồng nhân dân (HĐND), Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp và hoạt động kiểm tra theo thẩm quyền của UBND cấp tỉnh và UBND cấp huyện. Hiện nay, theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, Ban Pháp chế của HĐND các cấp thực hiện hoạt động tự kiểm tra Nghị quyết QPPL do HĐND ban hành. Đối với UBND các cấp, Sở Tư pháp là cơ quan chuyên môn tham mưu giúp UBND tỉnh tự kiểm tra văn bản QPPL do UBND tỉnh ban hành. Phòng Tư pháp là cơ quan chuyên môn giúp UBND cấp huyện tự kiểm tra văn bản QPPL do UBND cấp huyện ban hành. Cán bộ tư pháp - hộ tịch cấp xã giúp UBND cấp xã tự kiểm tra văn bản QPPL do UBND cấp xã ban hành. Công tác tự kiểm tra văn bản được tiến hành thường xuyên, UBND tỉnh chỉ đạo các Sở, ban, ngành thuộc UBND tỉnh phối hợp chặt chẽ với Sở Tư pháp là cơ quan chủ trì thực hiện tham mưu giúp UBND tỉnh tự kiểm tra văn bản do UBND tỉnh ban hành. Đồng thời, UBND tỉnh cũng chỉ đạo UBND cấp huyện, cấp xã chủ động tự kiểm tra văn bản QPPL do cấp mình ban hành.

Tổng số văn bản QPPL tự kiểm tra là 1.258 văn bản. Qua hoạt động tự kiểm tra đã phát hiện 315 văn bản trái với quy định của pháp luật với những lỗi thường gặp là: Văn bản sai sót về thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản chiếm số lượng nhiều nhất – 187 văn bản, các lỗi như: Viết hoa tùy tiện, vị trí các thành phần thể thức không đúng, các thành phần thể thức không cân đối… Nhiều văn bản ghi số không đúng quy định: Văn bản quy phạm pháp luật ghi số theo thứ tự ban hành của văn bản áp dụng pháp luật (164 văn bản). Một số văn bản chưa phù hợp với quy định của cấp trên như: Quyết định số 13/2015/QĐ-UBND ngày 13/11/2015 của UBND tỉnh Thái Bình ban hành Quy định về trách nhiệm của các Sở, ban, ngành, Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã về bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh (01 văn bản). Ở cấp xã, công tác tự kiểm tra văn bản QPPL được quan tâm thực hiện, kết quả kiểm tra không phát hiện văn bản nào vi phạm pháp luật nghiêm trọng, gây ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trên địa bàn.

Về công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền, hàng năm, UBND tỉnh đều ban hành Kế hoạch kiểm tra văn bản QPPL, chỉ đạo Sở Tư pháp, UBND các huyện, thành phố triển khai thực hiện nghiêm túc công tác này. Sở Tư pháp đã tiếp nhận văn bản để kiểm tra và thành lập Đoàn Kiểm tra để kiểm tra công tác văn bản theo địa bàn ở UBND thành phố và UBND các huyện và kiểm tra theo chuyên đề trong một số lĩnh vực có nhiều bức xúc như: Đất đai, lao động thương binh xã hội,... Phòng Tư pháp kiểm tra văn bản do UBND cấp xã gửi lên, đồng thời tổ chức Đoàn Kiểm tra theo địa bàn ở các xã, phường, thị trấn. Do cơ quan ban hành văn bản chưa thực hiện việc gửi văn bản đến cơ quan kiểm tra theo quy định nên số lượng văn bản được kiểm tra không nhiều. Tuy nhiên, sau khi tăng cường kiểm tra theo địa bàn tại các địa phương khác nhau thì việc gửi văn bản lên cơ quan có thẩm quyền kiểm tra được thực hiện tốt hơn. Từ năm 2011 đến nay, Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp thành phố và các huyện đã tiếp nhận 2.920 văn bản để kiểm tra.

Qua kiểm tra, đã phát hiện 983 văn bản trái pháp luật. Nhiều văn bản QPPL do các cấp, các ngành ban hành từ năm 2011 đến năm 2016 chưa tuân thủ đúng thể thức văn bản theo quy định của Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2008, Luật Ban hành văn bản QPPL của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2004 và Thông tư liên tịch số 55/2005/TTLT-BNV-VPCP ngày 06/5/2005 của Bộ Nội vụ và Văn phòng Chính phủ hướng dẫn về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản, Thông tư số 01/2011/TT-BNV ngày 19/01/2011 của Bộ Nội vụ hướng dẫn thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản hành chính… Một số địa phương còn chưa phân biệt được văn bản QPPL với văn bản hành chính nên còn nhầm lẫn trong việc đánh số, ký hiệu văn bản, dẫn đến sai về hình thức văn bản, văn bản QPPL ghi số theo thứ tự ban hành của văn bản áp dụng pháp luật; số thứ tự không đúng theo trật tự; không ghi năm ban hành ở giữa số và ký hiệu văn bản QPPL. Việc ghi chức vụ, quyền hạn trong phần thể thức ký còn nhầm lẫn giữa văn bản thuộc thẩm quyền của UBND ban hành với văn bản thuộc thẩm quyền của chủ tịch UBND ban hành. Phần “Nơi nhận” không ghi đầy đủ tên cơ quan, tổ chức và cá nhân nhận văn bản. Ví dụ: Văn bản QPPL không gửi về cơ quan có thẩm quyền kiểm tra văn bản để kiểm tra theo quy định. Ngoài ra, còn một số văn bản sai sót về chính tả, không đúng văn phong hành chính – công vụ.

Ở một số xã do trình độ, năng lực soạn thảo, ban hành văn bản QPPL còn hạn chế nên có văn bản được ban hành dưới hình thức là văn bản áp dụng pháp luật; Nghị quyết của Hội đồng nhân dân thì hầu như nhắc lại nội dung đã được nêu ra ở Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp trên. Ngoài ra, còn tồn tại một số văn bản viện dẫn làm căn cứ pháp lý cho việc ban hành văn bản là văn bản hết hiệu lực, viện dẫn không đầy đủ, chính xác. Tồn tại không ít văn bản hành chính nhưng lại được ban hành dưới hình thức văn bản QPPL, chưa phân biệt được thẩm quyền về nội dung và hình thức văn bản cũng như các yếu tố cấu thành của một văn bản QPPL. Ví dụ như Quyết định số 1993/2015/QĐ-UBND ngày 03/4/2015 của Ủy ban nhân dân huyện Đông Hưng phê duyệt Đề án thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông hiện đại huyện Đông Hưng, giai đoạn 2015-2020. Đây là văn bản áp dụng pháp luật được ban hành dưới hình thức văn bản QPPL. Văn bản này viện dẫn văn bản đã hết hiệu lực thi hành để làm căn cứ ban hành văn bản, đó là Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg ngày 22/6/2007 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương hết hiệu lực kể từ ngày 15/5/2015; Quyết định số 746/QĐ-UBND ngày 23/4/2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình về việc phê duyệt Đề án thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông hiện đại các huyện thuộc tỉnh Thái Bình giai đoạn 2013-2014 hết hiệu lực từ ngày 01/01/2015.

Bên cạnh việc kiểm tra, việc xử lý văn bản trái pháp luật cũng được thực hiện nghiêm túc theo quy định của pháp luật. Đối với các văn bản sai sót về thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản hoặc căn cứ pháp lý mà không gây ảnh hưởng đến nội dung của văn bản thì cơ quan kiểm tra trao đổi cụ thể để cơ quan ban hành văn bản sửa đổi, rút kinh nghiệm trong quá trình soạn thảo văn bản. Đối với văn bản sai về nội dung hoặc ban hành không đúng thẩm quyền thì cơ quan kiểm tra có thông báo yêu cầu cơ quan ban hành văn bản tự kiểm tra, xử lý theo quy định hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật. Các văn bản QPPL có nội dung trái pháp luật cơ bản được xử lý kịp thời nên không gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân; không gây tình trạng mất ổn định tình hình kinh tế - xã hội cũng như sự phát triển chung của tỉnh. Tuy nhiên, việc xử lý trách nhiệm của cá nhân, tập thể liên quan trong việc ban hành văn bản trái pháp luật vẫn chưa quyết liệt và triệt để. Hình thức xử lý chủ yếu vẫn chỉ là kiểm điểm cá nhân; yêu cầu sửa đổi, bổ sung nội dung, hình thức văn bản cho phù hợp với quy định của pháp luật hoặc bãi bỏ, ban hành văn bản mới thay thế.

Mặc dù đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận, song trên thực tế công tác kiểm tra, xử lý văn bản QPPL vẫn còn tồn tại một số hạn chế:

Một là, hoạt động kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật chưa được tiến hành thường xuyên và kịp thời, số lượng văn bản được kiểm tra còn hạn chế. Trên thực tế vẫn còn tình trạng các cơ quan có thẩm quyền kiểm tra văn bản không tiến hành hoạt động kiểm tra một cách thường xuyên, đôi khi còn chậm trễ gây ảnh hưởng đến kết quả kiểm tra nhất là ở cấp huyện và cấp xã. Cơ quan kiểm tra văn bản QPPL theo thẩm quyền thường bị động trong việc xem xét, phát hiện những văn bản có chứa QPPL bởi theo quy định những văn bản này không phải là văn bản QPPL, người ban hành những văn bản này không có nghĩa vụ phải gửi văn bản đến cơ quan có thẩm quyền kiểm tra văn bản sau khi văn bản được ban hành. Vì vậy, chỉ khi có thông tin phản ánh, kiến nghị từ nhiều nguồn khác nhau thì hoạt động kiểm tra văn bản lúc này mới được thực hiện.

Hai là, nội dung kiểm tra văn bản chưa được tiến hành đầy đủ. Một số đơn vị khi tiến hành kiểm tra văn bản còn qua loa, sơ sài, chưa bám sát vào các nội dung kiểm tra. Việc kiểm tra chủ yếu là xem xét về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản mà chưa đi sâu vào việc nghiên cứu, đánh giá nội dung văn bản hoặc chỉ xem xét tính hợp pháp mà không quan tâm kiểm tra tính hợp lý của văn bản QPPL.

Ba là, công tác báo cáo chưa đúng quy định. Một số đơn vị, địa phương đã không báo cáo hoặc báo cáo chậm trễ, báo cáo không đúng theo yêu cầu. Điều này đã làm ảnh hưởng đến công tác quản lý, nắm bắt tình hình để kịp thời đề xuất các biện pháp nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong việc triển khai công tác kiểm tra văn bản QPPL tại các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh cũng như trong việc tổng hợp, báo cáo lên cơ quan hành chính cấp trên.

Bốn là, việc xử lý đối với văn bản trái pháp luật của các cơ quan, người có thẩm quyền chưa kiên quyết, triệt để. Một số cơ quan có văn bản vi phạm vẫn chưa thực hiện nghiêm túc việc thông báo kết quả xử lý văn bản trái pháp luật theo đúng quy định về thời gian, chất lượng xử lý chưa đạt yêu cầu. Việc xử lý văn bản trái pháp luật chưa được công bố theo quy định. Việc lưu trữ hồ sơ kiểm tra văn bản chưa được thực hiện ở nhiều đơn vị.

Từ thực trạng nêu trên, để nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản QPPL ở tỉnh Thái Bình cần thực hiện một số giải pháp sau:

Thứ nhất, hoàn thiện quy định pháp luật về kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật. Hiện nay, việc tổ chức và thực hiện công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn bám sát vào các quy định cụ thể trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, các cơ quan trung ương cần sửa đổi, ban hành thêm một số văn bản hướng dẫn chi tiết việc tổ chức thực hiện kiểm tra, xử lý văn bản QPPL để việc thực hiện công tác này được thuận lợi, hiệu quả hơn như: Ban hành văn bản QPPL về việc xem xét, xử lý trách nhiệm đối với người, cơ quan ban hành văn bản trái pháp luật và cơ quan thực hiện kiểm tra, xử lý văn bản QPPL; sửa đổi Thông tư liên tịch số 122/2011/TTLT-BTC-BTP ngày 17/8/2011 của Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp quy định việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí bảo đảm cho công tác kiểm tra, xử lý, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật theo hướng quy định cụ thể các mục chi và mức chi cho tương xứng với nhu cầu thực tế của công việc… Hơn nữa, để triển khai đồng bộ, phù hợp với tình hình thực tế của địa phương thì cần tiếp tục hoàn thiện và ban hành các văn bản QPPL về kiểm tra, xử lý văn bản QPPL theo hướng: Ban hành văn bản hướng dẫn triển khai công tác kiểm tra, xử lý văn bản QPPL trên địa bàn tỉnh theo một số nội dung thay đổi trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015; xây dựng văn bản hướng dẫn về vấn đề tổ chức và quản lý đội ngũ cộng tác viên, tạo cơ sở pháp lý cho các cơ quan kiểm tra tiến hành đồng bộ trên phạm vi toàn tỉnh.

Thứ hai, tăng cường cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị có liên quan trong công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật. Mặc dù cơ quan kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật là độc lập nhưng quá trình thực hiện việc kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan ban hành văn bản và cơ quan kiểm tra, giữa các cơ quan nhà nước có liên quan đến quy trình kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật. Sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan chức năng trong quá trình xây dựng cũng như kiểm tra, xử lý văn bản QPPL thể hiện tinh thần, trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong hoạt động xây dựng và ban hành văn bản QPPL đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước. Cơ chế phối hợp này giúp tổng hợp được trí tuệ của các cá nhân, tập thể trong cơ quan, đồng thời tăng cường năng lực đánh giá về chất lượng văn bản, giúp nâng cao hiệu quả kiểm tra, xử lý văn bản, nhất là khi tiến hành việc tự kiểm tra văn bản.

Thứ ba, nâng cao chất lượng, năng lực cán bộ, công chức làm công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật. Nghiên cứu, đề xuất việc xây dựng các chức danh chuyên trách làm công tác kiểm tra văn bản (kiểm tra viên) nhằm đảm bảo tính chuyên nghiệp của đội ngũ làm công tác này. Ngoài ra, cũng cần tạo cơ chế thu hút các cộng tác viên giỏi, các công chức có năng lực tham gia vào hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật. Muốn tuyển chọn được những cán bộ, công chức có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao thì khâu thi tuyển, xét tuyển phải được tổ chức nghiêm túc. Vấn đề tuyển dụng ở nước ta nói chung và tỉnh Thái Bình nói riêng còn nặng về hình thức, nặng về bằng cấp nên đôi khi không thu hút được nhân tài thực sự. Lựa chọn và xem xét cẩn thận các hình thức thi tuyển cũng như các tiêu chí đặt ra cho phù hợp để lựa chọn được người có năng lực thực sự có thể đảm nhận công việc. Sau tuyển dụng cũng cần quan tâm đến việc đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ, công chức làm công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật.

Đồng thời xây dựng các chức trách, nhiệm vụ của từng loại công chức và chế độ chính sách đối với mỗi loại công chức, phụ cấp chức vụ, đãi ngộ đặc thù. Thực tế hiện nay cho thấy đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác kiểm tra, xử lý văn bản QPPL khá phức tạp song chế độ đãi ngộ rất hạn chế, thậm chí có đơn vị còn chưa có (đặc biệt là cấp xã) dẫn tới không có động lực làm việc. Nếu cơ chế đãi ngộ hợp lý sẽ khuyến khích được tinh thần, trách nhiệm làm việc của các cán bộ, công chức, từ đó kết quả công việc cũng tốt hơn.

Thứ tư, bảo đảm các điều kiện kỹ thuật cần thiết cho kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật. Ngoài việc quan tâm đến việc xây dựng thể chế, tổ chức bộ máy, con người, tài chính thì việc bảo đảm các điều kiện kỹ thuật là nhiệm vụ quan trọng để phát huy được hiệu quả công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật. Các cấp, các ngành cần chủ động hơn nữa trong việc cung cấp, bố trí các thiết bị máy móc phục vụ cho công việc: Máy tính, máy in, máy fax, hệ thống đường truyền mạng và các công cụ, dụng cụ văn phòng cần thiết khác. Thêm vào đó, cần xây dựng hệ cơ sở dữ liệu điện tử bảo đảm cập nhật, lưu trữ thông tin về văn bản QPPL một cách khoa học, rõ ràng, dễ tra cứu khi cần; hệ thống văn bản QPPL phải thường xuyên được rà soát, hệ thống hóa và chính xác, đáng tin cậy.

Có thể nói, hoạt động kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật ở tỉnh Thái Bình thời gian qua đã được các cấp, các ngành quan tâm. Mặc dù còn nhiều hạn chế trong công tác này, song cũng có nhiều kết quả tích cực. Từ việc nghiên cứu thực trạng kiểm tra và xử lý văn bản QPPL ở tỉnh Thái Bình, bài viết đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng của hoạt động này trong thời gian tới nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung.

Lại Thị Giang

Trường Chính trị tỉnh Thái Bình

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Tóm tắt: Pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập là một bộ phận của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật, có vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên cơ sở làm rõ khái niệm, đặc trưng và các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện, nghiên cứu phân tích thực trạng pháp luật hiện hành, chỉ ra những kết quả đạt được và các hạn chế. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số cho người cao tuổi

Hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số cho người cao tuổi

Tóm tắt: Chuyển đổi số đặt ra yêu cầu cấp thiết cần đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, nhất là đối với các nhóm đối tượng đặc thù có năng lực số hạn chế. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số trên cơ sở chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và yêu cầu của chuyển đổi số; đánh giá thực trạng quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Thông qua trường hợp cảnh báo về “hợp đồng kỳ nghỉ”, nghiên cứu làm rõ những hạn chế trong việc tiếp cận thông tin pháp luật của người cao tuổi trên môi trường số, từ đó, chỉ ra những bất cập của pháp luật hiện hành. Trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các quy định pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số.

Theo dõi chúng tôi trên: