Thứ ba 10/03/2026 00:36
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính

Tóm tắt: Bài viết nêu lên những hạn chế, bất cập trong quá trình thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, từ đó đưa ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

Tóm tắt: Bài viết nêu lên những hạn chế, bất cập trong quá trình thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, từ đó đưa ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

Abstract: The article highlights the limitations and shortcomings in the implementation of the Law on Handling of Administrative Violations of 2012, and from that makes recommendations to improve the law on handling of administrative violations.

1. Một số hạn chế, vướng mắc trong việc thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012

1.1. Một số quy định trong Luật còn có những cách hiểu khác nhau, mang tính định tính, chưa được giải thích từ ngữ, dẫn đến khó khăn cho cơ quan, tổ chức, người thi hành luật và cơ quan, người có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật hành chính, cụ thể: Trình độ lạc hậu (khoản 7 Điều 9); có quy mô lớn và trị giá hàng hóa lớn (điểm l khoản 1 Điều 10); vi phạm hành chính nghiêm trọng (Điều 26); vụ việc đặc biệt nghiêm trọng, có nhiều tình tiết phức tạp (khoản 1 Điều 66); hành vi “trốn tránh” (khoản 1 Điều 6; điểm k khoản 1 Điều 10; khoản 12 Điều 12; khoản 2 Điều 58; Điều 70; khoản 2 Điều 74; khoản 3 Điều 108; khoản 1 Điều 130); hành vi “trì hoãn” (khoản 12 Điều 12; khoản 2 Điều 74; khoản 3 Điều 129); hành vi “côn đồ hung hãn” (khoản 2 Điều 118); gây hậu quả lớn và gây ảnh hưởng xấu về dư luận xã hội (khoản 1 Điều 72); tài sản khác (khoản 2 Điều 16; khoản 1 Điều 82; khoản 2 Điều 86).

1.2. Về thời hiệu xử lý vi phạm hành chính

Tại điểm b khoản 1 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định “vi phạm hành chính đã kết thúc”; hoặc “vi phạm hành chính đang được thực hiện”, nhưng cách xác định thời điểm kết thúc hành vi vi phạm hành chính để từ đó xác định hành vi nào “đã kết thúc”, hành vi nào “đang được thực hiện” thì chưa có văn bản nào hướng dẫn. Do vậy, đang có nhiều cách hiểu khác nhau về quy định của pháp luật khi áp dụng trên thực tế.

1.3. Về giao quyền cho cấp phó tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả

Chương II Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả, các điều luật trong chương này đều quy định về 03 hình thức xử phạt: Mức tiền phạt; tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả. Theo đó những người được quy định trong Luật có thẩm quyền áp dụng cả 03 hình thức xử phạt này để xử phạt người có vi phạm hành chính. Tuy nhiên, về giao quyền xử phạt giữa cấp trưởng và cấp phó tại khoản 3 Điều 54 quy định: “Cấp phó được giao quyền xử phạt vi phạm hành chính phải chịu trách nhiệm về quyết định xử phạt vi phạm hành chính của mình trước cấp trưởng và trước pháp luật”. Với quy định này, thực tiễn thi hành Luật đã có những cách hiểu khác nhau và áp dụng khác nhau về giao quyền xử phạt cho cấp phó. Có cơ quan đã áp dụng cấp phó chỉ được giao quyền xử phạt vi phạm hành chính, không được giao thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính và áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả; có cơ quan đã áp dụng khi cấp trưởng giao quyền xử phạt hành chính cho cấp phó, thì cấp phó được thực hiện đầy đủ quyền như cấp trưởng.

1.4. Một số quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 cần tiếp tục hướng dẫn thi hành

Khoản 3 Điều 18 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, thủ trưởng cơ quan, đơn vị nếu phát hiện quyết định về xử lý vi phạm hành chính do mình hoặc cấp dưới ban hành có sai sót thì phải sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ, ban hành quyết định mới. Quy định này là cần thiết để khắc phục những quyết định về xử lý vi phạm hành chính có sai sót. Tuy nhiên, việc thực hiện quy định này trong thực tế đang gặp những khó khăn vướng mắc, đó là: (i) Chưa có hướng dẫn cụ thể trình tự, thủ tục sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ quyết định về xử lý vi phạm hành chính có sai sót; (ii) Trường hợp quyết định về xử lý vi phạm hành chính có sai sót đã gây hậu quả, nếu sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ, ban hành quyết định mới thì giải quyết hậu quả này như thế nào; (iii) Về phạm vi xem xét để xử lý quyết định xử phạt vi phạm hành chính có sai sót, trường hợp nội dung quyết định xử phạt đúng nhưng trình tự, thủ tục ban hành có sai sót thì xử lý như thế nào.

1.5. Thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính của người có thẩm quyền xử phạt hành chính

Về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của người có thẩm quyền được quy định từ Điều 38 đến Điều 51 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, trong đó có quy định thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính. Theo quy định của Luật thì trong từng lĩnh vực, một số chức danh thuộc cơ quan cấp dưới bị giới hạn theo thẩm quyền phạt tiền, chỉ có người có chức danh cao nhất trong mỗi lĩnh vực không bị giới hạn theo thẩm quyền phạt tiền. Theo tác giả, quy định thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị giới hạn theo thẩm quyền phạt tiền là không phù hợp. Nhiều vụ việc xử phạt vi phạm hành chính có tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu có giá trị vượt quá mức tiền phạt được quy định, nên đã không thể tịch thu vì vượt quá thẩm quyền xử phạt. Trong trường hợp này có nơi đã chuyển cả vụ việc vi phạm hành chính có tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu có giá trị vượt quá mức tiền phạt lên cơ quan cấp trên có thẩm quyền xử lý, nhưng cũng có nơi cơ quan cấp dưới xử phạt hành chính theo thẩm quyền, còn về tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính lại chuyển lên cấp trên để quyết định tịch thu. Tình trạng chuyển việc vi phạm hành chính của cấp dưới lên cơ quan cấp trên giải quyết sẽ không bảo đảm tính kịp thời, nhanh chóng trong việc xử phạt vi phạm hành chính.

1.6. Về thẩm quyền của Bộ đội biên phòng

Theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 40; điểm đ khoản 4 Điều 40 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 thẩm quyền của Đồn trưởng Đồn biên phòng, Chỉ huy trưởng Bộ đội biên phòng cấp tỉnh được áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả khi xử phạt vi phạm hành chính. Nhưng cả hai chức danh này đều không được áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại điểm d khoản 1 Điều 28 “buộc đưa ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc tái xuất hàng hóa, vật phẩm, phương tiện”. Trên thực tế ở khu vực biên giới thường xảy ra các hành vi vi phạm của người, phương tiện nước ngoài, nhất là phương tiện chở hàng tạm nhập, tái xuất. Khi xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền trên, hai chức danh này không được áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc đưa ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc tái xuất hàng hóa, vật phẩm, phương tiện, đã dẫn đến những khó khăn trong công tác xử phạt vi phạm hành chính của lực lượng Bộ đội biên phòng.

1.7. Về thẩm quyền xử phạt hành chính của Công an nhân dân

Điều 39 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định về thẩm quyền xử phạt hành chính của Công an nhân dân, trong đó có quy định cụ thể thẩm quyền xử phạt hành chính của các chức danh thuộc Bộ Công an. Vừa qua, theo yêu cầu thu gọn đầu mối các cơ quan nhà nước, tổ chức bộ máy của các đơn vị thuộc Bộ Công an đã được tổ chức lại. Do đó, đã có sự thay đổi trong cơ cấu tổ chức nội bộ của các đơn vị thuộc Bộ Công an, một số chức danh quy định trong Điều 39 đã thay đổi. Mặc dù, Điều 53 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định: “Trường hợp chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính quy định tại Luật này có sự thay đổi về tên gọi thì chức danh đó có thẩm quyền xử phạt”. Tuy nhiên, việc thay đổi tổ chức bộ máy của các đơn vị thuộc Bộ Công an không phải đơn thuần chỉ thay đổi tên gọi hiện có, mà thay đổi cả về tổ chức, dẫn đến những khó khăn, vướng mắc về thẩm quyền xử phạt trong thực tiễn áp dụng pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với những đơn vị này.

1.8. Thời gian tạm giữ tang vật để xác định giá trị tang vật vi phạm hành chính

Tại khoản 3 Điều 60 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định, trường hợp không thể áp dụng được căn cứ để xác định giá trị tang vật vi phạm hành chính làm căn cứ xác định khung tiền phạt, thẩm quyền xử phạt thì người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc có thể ra quyết định tạm giữ tang vật vi phạm và thành lập Hội đồng định giá. Thời gian tạm giữ tang vật để xác định giá trị là không quá 24 giờ và nếu cần thiết có thể kéo dài thêm nhưng không được quá 24 giờ (tổng cộng tối đa là 48 giờ). Qua thực tiễn thi hành Luật cho thấy thời gian quy định trên đây để thành lập Hội đồng định giá là không phù hợp, cần quy định dài hơn nữa vì việc tổ chức định giá đối với những vụ vi phạm mà tang vật là hàng hóa nhập lậu có giá trị lớn, đặc biệt ở các khu vực biên giới, biển đảo rất khó khăn. Hơn nữa, có nhiều vụ vi phạm tang vật gồm nhiều chủng loại hàng hóa, khó xác minh giá trị… việc xác định giá trị trong khoảng thời gian 24 giờ (tối đa là 48 giờ) sẽ không đảm bảo tính chính xác, có thể dẫn đến việc ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính không chính xác, không đúng thẩm quyền.

1.9. Quyền giải trình của cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính

Theo quy định tại khoản 1 Điều 61 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 những trường hợp pháp luật quy định áp dụng hình thức xử phạt tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc áp dụng mức phạt tiền tối đa của khung tiền phạt đối với hành vi đó từ 15.000.000 đồng trở lên đối với cá nhân, từ 30.000.000 đồng trở lên đối với tổ chức thì cá nhân, tổ chức vi phạm có quyền giải trình trực tiếp hoặc bằng văn bản với người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. Thực tiễn thi hành Luật cho thấy những trường hợp mà đối tượng vi phạm bị áp dụng biện pháp tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính hoặc phương tiện sử dụng trong vi phạm hành chính lại không được giải trình. Quy định này là không hợp lý, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của đối tượng vi phạm, vì trong nhiều trường hợp, nhiều tang vật, phương tiện vi phạm còn có giá trị lớn hơn nhiều lần mức phạt tiền tối đa là 15.000.000 đồng trở lên đối với cá nhân và từ 30.000.000 đồng trở lên đối với tổ chức.

1.10. Về tạm giữ người theo thủ tục hành chính

Việc quy định tạm giữ người theo thủ tục hành chính (khoản 1 Điều 122 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012) là quá hẹp, gây khó khăn trong quá trình áp dụng, thi hành Luật. Thực tiễn thi hành Luật cho thấy, ngoài những trường hợp được tạm giữ hành chính quy định trong Luật, còn một số trường hợp khác liên quan đến việc quản lý người vi phạm để bảo đảm cho công tác xử phạt vi phạm hành chính, cũng cần được quy định trong luật về tạm giữ hành chính như: (i) Trường hợp đối tượng có nhiều hành vi vi phạm khác nhau như đánh bạc, trộm cắp tài sản… cần có thời gian để xác minh, làm rõ hành vi, hậu quả, thiệt hại cũng cần phải tạm giữ hành chính; (ii) Trường hợp cần xác minh về nhân thân của các đối tượng vi phạm để xử lý theo đúng quy định pháp luật, tránh bỏ lọt tội phạm; (iii) Trường hợp các đối tượng có các hành vi chống lại người thi hành công vụ.

1.11. Xử lý tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề bị tạm giữ theo thủ tục hành chính

Khoản 1 Điều 126 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định, đối với tang vật, phương tiện đang bị tạm giữ do bị chiếm đoạt, sử dụng trái phép để vi phạm hành chính thuộc trường hợp bị tịch thu thì trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp. Trong trường hợp này, cá nhân, tổ chức vi phạm phải nộp một khoản tiền tương đương trị giá tang vật, phương tiện vi phạm vào ngân sách nhà nước. Hiện nay, Luật và các văn bản hướng dẫn thi hành đều chưa có hướng dẫn cụ thể về hình thức nộp tiền; trình tự, thủ tục nộp tiền; thời điểm nộp tiền; thời điểm trả lại tài sản cho chủ sở hữu hợp pháp… Bên cạnh đó, trong trường hợp các phương tiện vi phạm hành chính như xe ô tô, máy xúc, máy ủi, tàu thuyền là những tài sản có giá trị lớn, do những người làm công, làm thuê quản lý, sử dụng và thực hiện hành vi vi phạm hành chính. Trong trường hợp này, các lực lượng chức năng không thể tịch thu các phương tiện mà phải trả lại cho chủ sở hữu, đồng thời yêu cầu người làm công, làm thuê phải nộp một khoản tiền tương đương trị giá phương tiện vi phạm hành chính, trong khi hầu hết những đối tượng này đều thuộc diện nghèo khó, không có điều kiện kinh tế để thi hành quyết định xử phạt.

1.12. Nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính và áp dụng tình tiết tăng nặng trong xử phạt hành chính

Tại điểm d khoản 1 Điều 3 về nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính quy định “một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính hoặc vi phạm hành chính nhiều lần thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm”. Tại điểm b khoản 1 Điều 10 quy định “vi phạm hành chính nhiều lần” là tình tiết tăng nặng. Theo quy định của Luật thì tại điểm d khoản 1 Điều 3 quy định về nguyên tắc xử phạt hành vi vi phạm hành chính, còn tại điểm b khoản 1 Điều 10 quy định về áp dụng tình tiết tăng nặng trong khi xử phạt vi phạm hành chính. Tuy nhiên, thực tiễn vừa qua ở một số địa phương do nhận thức về quy định này không đúng, dẫn đến việc áp dụng Luật chưa thống nhất. Trường hợp một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính hoặc vi phạm hành chính nhiều lần, có nơi xử phạt về từng hành vi vi phạm, có nơi chỉ xử phạt một hành vi còn những hành vi khác là tình tiết tăng nặng nên không xử phạt.

1.13. Chưa có sự thống nhất giữa các nghị định của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong một số lĩnh vực quản lý nhà nước

Tại khoản 5 Điều 2 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ, quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 đã quy định: Hành vi vi phạm hành chính phải được quy định tại các nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước tương ứng, phù hợp với tính chất vi phạm của hành vi đó. Trường hợp hành vi vi phạm hành chính thuộc lĩnh vực này nhưng do tính chất vi phạm đặc thù của hành vi đó, thì có thể quy định và xử phạt trong nghị định xử phạt vi phạm hành chính thuộc lĩnh vực khác. Trong trường hợp này, hình thức, mức xử phạt quy định phải thống nhất với quy định tại nghị định xử phạt vi phạm hành chính của lĩnh vực quản lý nhà nước tương ứng. Tuy nhiên, trên thực tế, quy định về hành vi vi phạm hành chính của các nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong một số lĩnh vực quản lý nhà nước chưa có sự thống nhất, đồng bộ. Chẳng hạn cùng là hành vi xả rác nơi công cộng nhưng giữa các nghị định lại quy định mức xử phạt khác nhau: Theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 12 Nghị định số 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt[1], hành vi xả rác nơi công cộng thì bị phạt tiền từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng. Nhưng theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 20 Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường[2] thì hành vi xả rác nơi công cộng bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng.

2. Những kiến nghị hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính

2.1. Bổ sung vào Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 về giải thích từ ngữ những khái niệm: Trình độ lạc hậu; có quy mô lớn và trị giá hàng hóa lớn; vi phạm hành chính nghiêm trọng; vụ việc đặc biệt nghiêm trọng; nhiều tình tiết phức tạp; hành vi “trốn tránh”; hành vi “trì hoãn”; hành vi “côn đồ hung hãn”; gây hậu quả lớn và gây ảnh hưởng xấu về dư luận xã hội; tài sản khác.

2.2. Sửa đổi, bổ sung quy định tại Điều 6 về thời hiệu xử lý vi phạm hành chính quy định cụ thể về “vi phạm hành chính đã kết thúc”, “vi phạm hành chính đang được thực hiện”.

2.3. Sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 54 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 về giao quyền cho cấp phó, ngoài thẩm quyền xử phạt hành chính cấp phó còn được quyền tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 87 theo hướng bỏ quy định về việc giao quyền cho cấp phó chỉ được thực hiện khi cấp trưởng vắng mặt.

2.4. Hướng dẫn cụ thể trình tự, thủ tục sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ quyết định về xử lý vi phạm hành chính có sai sót; trường hợp quyết định về xử lý vi phạm hành chính có sai sót đã gây hậu quả, nếu sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ, ban hành quyết định mới thì giải quyết hậu quả này như thế nào; trường hợp nội dung quyết định xử phạt đúng nhưng trình tự, thủ tục ban hành có sai sót thì xử lý như thế nào; trường hợp lập biên bản vi phạm hành chính có sai sót thì việc sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ, ban hành mới biên bản vi phạm hành chính như thế nào.

2.5. Sửa đổi, bổ sung quy định từ Điều 38 đến Điều 51 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 theo hướng quy định thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính không bị giới hạn theo thẩm quyền phạt tiền, để tránh một số trường hợp thẩm quyền phạt tiền thuộc cấp dưới nhưng lại không có thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính nên phải chuyển lên cấp trên xử lý tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính.

2.6. Sửa đổi, bổ sung quy định tại điểm d khoản 3 Điều 40; điểm đ khoản 4 Điều 40 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 thẩm quyền của Đồn trưởng Đồn biên phòng, Chỉ huy trưởng Bộ đội biên phòng cấp tỉnh được áp dụng cả điểm d khoản 1 Điều 28 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 “buộc đưa ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc tái xuất hàng hóa, vật phẩm, phương tiện”.

2.7. Sửa đổi, bổ sung quy định tại Điều 39 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định về thẩm quyền xử phạt hành chính của các chức danh thuộc Công an nhân dân cho phù hợp với tổ chức bộ máy của các đơn vị thuộc Bộ Công an vừa mới thay đổi.

2.8. Sửa đổi, bổ sung quy định tại khoản 3 Điều 60 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 theo hướng những vụ vi phạm hành chính mà số lượng hàng hóa nhập lậu có giá trị lớn ở các khu vực biên giới, biển đảo, những vụ vi phạm tang vật gồm nhiều chủng loại hàng hóa, khó xác minh giá trị… thì thời gian tạm giữ tang vật để xác định giá trị có thể kéo dài thêm nhưng không được quá 05 ngày làm việc.

2.9. Sửa đổi, bổ sung quy định tại khoản 1 Điều 61 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 theo hướng những trường hợp bị áp dụng biện pháp tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính hoặc phương tiện sử dụng trong vi phạm hành chính có quyền giải trình trực tiếp hoặc bằng văn bản với người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính.

2.10. Sửa đổi, bổ sung quy định tại khoản 1 Điều 122 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định việc tạm giữ người theo thủ tục hành chính được áp dụng trong cả trường hợp như: Đánh bạc, trộm cắp tài sản…; trường hợp cần xác minh về nhân thân của các đối tượng vi phạm; trường hợp các đối tượng có các hành vi chống lại người thi hành công vụ.

2.11. Cần có hướng dẫn cụ thể việc thi hành quy định tại khoản 1 Điều 126 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định: “Đối với tang vật, phương tiện đang bị tạm giữ do bị chiếm đoạt, sử dụng trái phép để vi phạm hành chính thuộc trường hợp bị tịch thu thì trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp. Trong trường hợp này, cá nhân, tổ chức vi phạm phải nộp một khoản tiền tương đương trị giá tang vật, phương tiện vi phạm vào ngân sách nhà nước”.

2.12. Cần hướng dẫn cụ thể việc thi hành quy định tại điểm d khoản 1 Điều 3 về nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính quy định “một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính hoặc vi phạm hành chính nhiều lần thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm” và tại điểm b khoản 1 Điều 10 quy định “vi phạm hành chính nhiều lần” là tình tiết tăng nặng.

2.13. Thống nhất giữa các nghị định của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong một số lĩnh vực quản lý nhà nước: Sửa đổi, bổ sung quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 12 Nghị định số 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt về hành vi xả rác nơi công cộng và điểm d khoản 1 Điều 20 Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường cho thống nhất về mức xử phạt đối với hành vi xả rác nơi công cộng.

ThS. Phạm Thu Giang
Đại học Giao thông vận tải



[1]. Xem: Điểm đ khoản 2 Điều 12 Nghị định số 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt.

[2]. Xem: Điểm d khoản 1 Điều 20 Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.

Theo dõi chúng tôi trên: