Chủ nhật 14/06/2026 01:08
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính

Tóm tắt: Bài viết nêu lên những hạn chế, bất cập trong quá trình thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, từ đó đưa ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

Tóm tắt: Bài viết nêu lên những hạn chế, bất cập trong quá trình thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, từ đó đưa ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

Abstract: The article highlights the limitations and shortcomings in the implementation of the Law on Handling of Administrative Violations of 2012, and from that makes recommendations to improve the law on handling of administrative violations.

1. Một số hạn chế, vướng mắc trong việc thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012

1.1. Một số quy định trong Luật còn có những cách hiểu khác nhau, mang tính định tính, chưa được giải thích từ ngữ, dẫn đến khó khăn cho cơ quan, tổ chức, người thi hành luật và cơ quan, người có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật hành chính, cụ thể: Trình độ lạc hậu (khoản 7 Điều 9); có quy mô lớn và trị giá hàng hóa lớn (điểm l khoản 1 Điều 10); vi phạm hành chính nghiêm trọng (Điều 26); vụ việc đặc biệt nghiêm trọng, có nhiều tình tiết phức tạp (khoản 1 Điều 66); hành vi “trốn tránh” (khoản 1 Điều 6; điểm k khoản 1 Điều 10; khoản 12 Điều 12; khoản 2 Điều 58; Điều 70; khoản 2 Điều 74; khoản 3 Điều 108; khoản 1 Điều 130); hành vi “trì hoãn” (khoản 12 Điều 12; khoản 2 Điều 74; khoản 3 Điều 129); hành vi “côn đồ hung hãn” (khoản 2 Điều 118); gây hậu quả lớn và gây ảnh hưởng xấu về dư luận xã hội (khoản 1 Điều 72); tài sản khác (khoản 2 Điều 16; khoản 1 Điều 82; khoản 2 Điều 86).

1.2. Về thời hiệu xử lý vi phạm hành chính

Tại điểm b khoản 1 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định “vi phạm hành chính đã kết thúc”; hoặc “vi phạm hành chính đang được thực hiện”, nhưng cách xác định thời điểm kết thúc hành vi vi phạm hành chính để từ đó xác định hành vi nào “đã kết thúc”, hành vi nào “đang được thực hiện” thì chưa có văn bản nào hướng dẫn. Do vậy, đang có nhiều cách hiểu khác nhau về quy định của pháp luật khi áp dụng trên thực tế.

1.3. Về giao quyền cho cấp phó tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả

Chương II Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả, các điều luật trong chương này đều quy định về 03 hình thức xử phạt: Mức tiền phạt; tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả. Theo đó những người được quy định trong Luật có thẩm quyền áp dụng cả 03 hình thức xử phạt này để xử phạt người có vi phạm hành chính. Tuy nhiên, về giao quyền xử phạt giữa cấp trưởng và cấp phó tại khoản 3 Điều 54 quy định: “Cấp phó được giao quyền xử phạt vi phạm hành chính phải chịu trách nhiệm về quyết định xử phạt vi phạm hành chính của mình trước cấp trưởng và trước pháp luật”. Với quy định này, thực tiễn thi hành Luật đã có những cách hiểu khác nhau và áp dụng khác nhau về giao quyền xử phạt cho cấp phó. Có cơ quan đã áp dụng cấp phó chỉ được giao quyền xử phạt vi phạm hành chính, không được giao thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính và áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả; có cơ quan đã áp dụng khi cấp trưởng giao quyền xử phạt hành chính cho cấp phó, thì cấp phó được thực hiện đầy đủ quyền như cấp trưởng.

1.4. Một số quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 cần tiếp tục hướng dẫn thi hành

Khoản 3 Điều 18 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, thủ trưởng cơ quan, đơn vị nếu phát hiện quyết định về xử lý vi phạm hành chính do mình hoặc cấp dưới ban hành có sai sót thì phải sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ, ban hành quyết định mới. Quy định này là cần thiết để khắc phục những quyết định về xử lý vi phạm hành chính có sai sót. Tuy nhiên, việc thực hiện quy định này trong thực tế đang gặp những khó khăn vướng mắc, đó là: (i) Chưa có hướng dẫn cụ thể trình tự, thủ tục sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ quyết định về xử lý vi phạm hành chính có sai sót; (ii) Trường hợp quyết định về xử lý vi phạm hành chính có sai sót đã gây hậu quả, nếu sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ, ban hành quyết định mới thì giải quyết hậu quả này như thế nào; (iii) Về phạm vi xem xét để xử lý quyết định xử phạt vi phạm hành chính có sai sót, trường hợp nội dung quyết định xử phạt đúng nhưng trình tự, thủ tục ban hành có sai sót thì xử lý như thế nào.

1.5. Thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính của người có thẩm quyền xử phạt hành chính

Về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của người có thẩm quyền được quy định từ Điều 38 đến Điều 51 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, trong đó có quy định thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính. Theo quy định của Luật thì trong từng lĩnh vực, một số chức danh thuộc cơ quan cấp dưới bị giới hạn theo thẩm quyền phạt tiền, chỉ có người có chức danh cao nhất trong mỗi lĩnh vực không bị giới hạn theo thẩm quyền phạt tiền. Theo tác giả, quy định thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị giới hạn theo thẩm quyền phạt tiền là không phù hợp. Nhiều vụ việc xử phạt vi phạm hành chính có tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu có giá trị vượt quá mức tiền phạt được quy định, nên đã không thể tịch thu vì vượt quá thẩm quyền xử phạt. Trong trường hợp này có nơi đã chuyển cả vụ việc vi phạm hành chính có tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu có giá trị vượt quá mức tiền phạt lên cơ quan cấp trên có thẩm quyền xử lý, nhưng cũng có nơi cơ quan cấp dưới xử phạt hành chính theo thẩm quyền, còn về tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính lại chuyển lên cấp trên để quyết định tịch thu. Tình trạng chuyển việc vi phạm hành chính của cấp dưới lên cơ quan cấp trên giải quyết sẽ không bảo đảm tính kịp thời, nhanh chóng trong việc xử phạt vi phạm hành chính.

1.6. Về thẩm quyền của Bộ đội biên phòng

Theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 40; điểm đ khoản 4 Điều 40 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 thẩm quyền của Đồn trưởng Đồn biên phòng, Chỉ huy trưởng Bộ đội biên phòng cấp tỉnh được áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả khi xử phạt vi phạm hành chính. Nhưng cả hai chức danh này đều không được áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại điểm d khoản 1 Điều 28 “buộc đưa ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc tái xuất hàng hóa, vật phẩm, phương tiện”. Trên thực tế ở khu vực biên giới thường xảy ra các hành vi vi phạm của người, phương tiện nước ngoài, nhất là phương tiện chở hàng tạm nhập, tái xuất. Khi xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền trên, hai chức danh này không được áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc đưa ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc tái xuất hàng hóa, vật phẩm, phương tiện, đã dẫn đến những khó khăn trong công tác xử phạt vi phạm hành chính của lực lượng Bộ đội biên phòng.

1.7. Về thẩm quyền xử phạt hành chính của Công an nhân dân

Điều 39 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định về thẩm quyền xử phạt hành chính của Công an nhân dân, trong đó có quy định cụ thể thẩm quyền xử phạt hành chính của các chức danh thuộc Bộ Công an. Vừa qua, theo yêu cầu thu gọn đầu mối các cơ quan nhà nước, tổ chức bộ máy của các đơn vị thuộc Bộ Công an đã được tổ chức lại. Do đó, đã có sự thay đổi trong cơ cấu tổ chức nội bộ của các đơn vị thuộc Bộ Công an, một số chức danh quy định trong Điều 39 đã thay đổi. Mặc dù, Điều 53 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định: “Trường hợp chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính quy định tại Luật này có sự thay đổi về tên gọi thì chức danh đó có thẩm quyền xử phạt”. Tuy nhiên, việc thay đổi tổ chức bộ máy của các đơn vị thuộc Bộ Công an không phải đơn thuần chỉ thay đổi tên gọi hiện có, mà thay đổi cả về tổ chức, dẫn đến những khó khăn, vướng mắc về thẩm quyền xử phạt trong thực tiễn áp dụng pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với những đơn vị này.

1.8. Thời gian tạm giữ tang vật để xác định giá trị tang vật vi phạm hành chính

Tại khoản 3 Điều 60 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định, trường hợp không thể áp dụng được căn cứ để xác định giá trị tang vật vi phạm hành chính làm căn cứ xác định khung tiền phạt, thẩm quyền xử phạt thì người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc có thể ra quyết định tạm giữ tang vật vi phạm và thành lập Hội đồng định giá. Thời gian tạm giữ tang vật để xác định giá trị là không quá 24 giờ và nếu cần thiết có thể kéo dài thêm nhưng không được quá 24 giờ (tổng cộng tối đa là 48 giờ). Qua thực tiễn thi hành Luật cho thấy thời gian quy định trên đây để thành lập Hội đồng định giá là không phù hợp, cần quy định dài hơn nữa vì việc tổ chức định giá đối với những vụ vi phạm mà tang vật là hàng hóa nhập lậu có giá trị lớn, đặc biệt ở các khu vực biên giới, biển đảo rất khó khăn. Hơn nữa, có nhiều vụ vi phạm tang vật gồm nhiều chủng loại hàng hóa, khó xác minh giá trị… việc xác định giá trị trong khoảng thời gian 24 giờ (tối đa là 48 giờ) sẽ không đảm bảo tính chính xác, có thể dẫn đến việc ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính không chính xác, không đúng thẩm quyền.

1.9. Quyền giải trình của cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính

Theo quy định tại khoản 1 Điều 61 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 những trường hợp pháp luật quy định áp dụng hình thức xử phạt tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc áp dụng mức phạt tiền tối đa của khung tiền phạt đối với hành vi đó từ 15.000.000 đồng trở lên đối với cá nhân, từ 30.000.000 đồng trở lên đối với tổ chức thì cá nhân, tổ chức vi phạm có quyền giải trình trực tiếp hoặc bằng văn bản với người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. Thực tiễn thi hành Luật cho thấy những trường hợp mà đối tượng vi phạm bị áp dụng biện pháp tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính hoặc phương tiện sử dụng trong vi phạm hành chính lại không được giải trình. Quy định này là không hợp lý, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của đối tượng vi phạm, vì trong nhiều trường hợp, nhiều tang vật, phương tiện vi phạm còn có giá trị lớn hơn nhiều lần mức phạt tiền tối đa là 15.000.000 đồng trở lên đối với cá nhân và từ 30.000.000 đồng trở lên đối với tổ chức.

1.10. Về tạm giữ người theo thủ tục hành chính

Việc quy định tạm giữ người theo thủ tục hành chính (khoản 1 Điều 122 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012) là quá hẹp, gây khó khăn trong quá trình áp dụng, thi hành Luật. Thực tiễn thi hành Luật cho thấy, ngoài những trường hợp được tạm giữ hành chính quy định trong Luật, còn một số trường hợp khác liên quan đến việc quản lý người vi phạm để bảo đảm cho công tác xử phạt vi phạm hành chính, cũng cần được quy định trong luật về tạm giữ hành chính như: (i) Trường hợp đối tượng có nhiều hành vi vi phạm khác nhau như đánh bạc, trộm cắp tài sản… cần có thời gian để xác minh, làm rõ hành vi, hậu quả, thiệt hại cũng cần phải tạm giữ hành chính; (ii) Trường hợp cần xác minh về nhân thân của các đối tượng vi phạm để xử lý theo đúng quy định pháp luật, tránh bỏ lọt tội phạm; (iii) Trường hợp các đối tượng có các hành vi chống lại người thi hành công vụ.

1.11. Xử lý tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề bị tạm giữ theo thủ tục hành chính

Khoản 1 Điều 126 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định, đối với tang vật, phương tiện đang bị tạm giữ do bị chiếm đoạt, sử dụng trái phép để vi phạm hành chính thuộc trường hợp bị tịch thu thì trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp. Trong trường hợp này, cá nhân, tổ chức vi phạm phải nộp một khoản tiền tương đương trị giá tang vật, phương tiện vi phạm vào ngân sách nhà nước. Hiện nay, Luật và các văn bản hướng dẫn thi hành đều chưa có hướng dẫn cụ thể về hình thức nộp tiền; trình tự, thủ tục nộp tiền; thời điểm nộp tiền; thời điểm trả lại tài sản cho chủ sở hữu hợp pháp… Bên cạnh đó, trong trường hợp các phương tiện vi phạm hành chính như xe ô tô, máy xúc, máy ủi, tàu thuyền là những tài sản có giá trị lớn, do những người làm công, làm thuê quản lý, sử dụng và thực hiện hành vi vi phạm hành chính. Trong trường hợp này, các lực lượng chức năng không thể tịch thu các phương tiện mà phải trả lại cho chủ sở hữu, đồng thời yêu cầu người làm công, làm thuê phải nộp một khoản tiền tương đương trị giá phương tiện vi phạm hành chính, trong khi hầu hết những đối tượng này đều thuộc diện nghèo khó, không có điều kiện kinh tế để thi hành quyết định xử phạt.

1.12. Nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính và áp dụng tình tiết tăng nặng trong xử phạt hành chính

Tại điểm d khoản 1 Điều 3 về nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính quy định “một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính hoặc vi phạm hành chính nhiều lần thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm”. Tại điểm b khoản 1 Điều 10 quy định “vi phạm hành chính nhiều lần” là tình tiết tăng nặng. Theo quy định của Luật thì tại điểm d khoản 1 Điều 3 quy định về nguyên tắc xử phạt hành vi vi phạm hành chính, còn tại điểm b khoản 1 Điều 10 quy định về áp dụng tình tiết tăng nặng trong khi xử phạt vi phạm hành chính. Tuy nhiên, thực tiễn vừa qua ở một số địa phương do nhận thức về quy định này không đúng, dẫn đến việc áp dụng Luật chưa thống nhất. Trường hợp một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính hoặc vi phạm hành chính nhiều lần, có nơi xử phạt về từng hành vi vi phạm, có nơi chỉ xử phạt một hành vi còn những hành vi khác là tình tiết tăng nặng nên không xử phạt.

1.13. Chưa có sự thống nhất giữa các nghị định của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong một số lĩnh vực quản lý nhà nước

Tại khoản 5 Điều 2 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ, quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 đã quy định: Hành vi vi phạm hành chính phải được quy định tại các nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước tương ứng, phù hợp với tính chất vi phạm của hành vi đó. Trường hợp hành vi vi phạm hành chính thuộc lĩnh vực này nhưng do tính chất vi phạm đặc thù của hành vi đó, thì có thể quy định và xử phạt trong nghị định xử phạt vi phạm hành chính thuộc lĩnh vực khác. Trong trường hợp này, hình thức, mức xử phạt quy định phải thống nhất với quy định tại nghị định xử phạt vi phạm hành chính của lĩnh vực quản lý nhà nước tương ứng. Tuy nhiên, trên thực tế, quy định về hành vi vi phạm hành chính của các nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong một số lĩnh vực quản lý nhà nước chưa có sự thống nhất, đồng bộ. Chẳng hạn cùng là hành vi xả rác nơi công cộng nhưng giữa các nghị định lại quy định mức xử phạt khác nhau: Theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 12 Nghị định số 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt[1], hành vi xả rác nơi công cộng thì bị phạt tiền từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng. Nhưng theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 20 Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường[2] thì hành vi xả rác nơi công cộng bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng.

2. Những kiến nghị hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính

2.1. Bổ sung vào Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 về giải thích từ ngữ những khái niệm: Trình độ lạc hậu; có quy mô lớn và trị giá hàng hóa lớn; vi phạm hành chính nghiêm trọng; vụ việc đặc biệt nghiêm trọng; nhiều tình tiết phức tạp; hành vi “trốn tránh”; hành vi “trì hoãn”; hành vi “côn đồ hung hãn”; gây hậu quả lớn và gây ảnh hưởng xấu về dư luận xã hội; tài sản khác.

2.2. Sửa đổi, bổ sung quy định tại Điều 6 về thời hiệu xử lý vi phạm hành chính quy định cụ thể về “vi phạm hành chính đã kết thúc”, “vi phạm hành chính đang được thực hiện”.

2.3. Sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 54 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 về giao quyền cho cấp phó, ngoài thẩm quyền xử phạt hành chính cấp phó còn được quyền tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 87 theo hướng bỏ quy định về việc giao quyền cho cấp phó chỉ được thực hiện khi cấp trưởng vắng mặt.

2.4. Hướng dẫn cụ thể trình tự, thủ tục sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ quyết định về xử lý vi phạm hành chính có sai sót; trường hợp quyết định về xử lý vi phạm hành chính có sai sót đã gây hậu quả, nếu sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ, ban hành quyết định mới thì giải quyết hậu quả này như thế nào; trường hợp nội dung quyết định xử phạt đúng nhưng trình tự, thủ tục ban hành có sai sót thì xử lý như thế nào; trường hợp lập biên bản vi phạm hành chính có sai sót thì việc sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ, ban hành mới biên bản vi phạm hành chính như thế nào.

2.5. Sửa đổi, bổ sung quy định từ Điều 38 đến Điều 51 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 theo hướng quy định thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính không bị giới hạn theo thẩm quyền phạt tiền, để tránh một số trường hợp thẩm quyền phạt tiền thuộc cấp dưới nhưng lại không có thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính nên phải chuyển lên cấp trên xử lý tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính.

2.6. Sửa đổi, bổ sung quy định tại điểm d khoản 3 Điều 40; điểm đ khoản 4 Điều 40 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 thẩm quyền của Đồn trưởng Đồn biên phòng, Chỉ huy trưởng Bộ đội biên phòng cấp tỉnh được áp dụng cả điểm d khoản 1 Điều 28 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 “buộc đưa ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc tái xuất hàng hóa, vật phẩm, phương tiện”.

2.7. Sửa đổi, bổ sung quy định tại Điều 39 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định về thẩm quyền xử phạt hành chính của các chức danh thuộc Công an nhân dân cho phù hợp với tổ chức bộ máy của các đơn vị thuộc Bộ Công an vừa mới thay đổi.

2.8. Sửa đổi, bổ sung quy định tại khoản 3 Điều 60 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 theo hướng những vụ vi phạm hành chính mà số lượng hàng hóa nhập lậu có giá trị lớn ở các khu vực biên giới, biển đảo, những vụ vi phạm tang vật gồm nhiều chủng loại hàng hóa, khó xác minh giá trị… thì thời gian tạm giữ tang vật để xác định giá trị có thể kéo dài thêm nhưng không được quá 05 ngày làm việc.

2.9. Sửa đổi, bổ sung quy định tại khoản 1 Điều 61 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 theo hướng những trường hợp bị áp dụng biện pháp tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính hoặc phương tiện sử dụng trong vi phạm hành chính có quyền giải trình trực tiếp hoặc bằng văn bản với người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính.

2.10. Sửa đổi, bổ sung quy định tại khoản 1 Điều 122 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định việc tạm giữ người theo thủ tục hành chính được áp dụng trong cả trường hợp như: Đánh bạc, trộm cắp tài sản…; trường hợp cần xác minh về nhân thân của các đối tượng vi phạm; trường hợp các đối tượng có các hành vi chống lại người thi hành công vụ.

2.11. Cần có hướng dẫn cụ thể việc thi hành quy định tại khoản 1 Điều 126 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định: “Đối với tang vật, phương tiện đang bị tạm giữ do bị chiếm đoạt, sử dụng trái phép để vi phạm hành chính thuộc trường hợp bị tịch thu thì trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp. Trong trường hợp này, cá nhân, tổ chức vi phạm phải nộp một khoản tiền tương đương trị giá tang vật, phương tiện vi phạm vào ngân sách nhà nước”.

2.12. Cần hướng dẫn cụ thể việc thi hành quy định tại điểm d khoản 1 Điều 3 về nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính quy định “một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính hoặc vi phạm hành chính nhiều lần thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm” và tại điểm b khoản 1 Điều 10 quy định “vi phạm hành chính nhiều lần” là tình tiết tăng nặng.

2.13. Thống nhất giữa các nghị định của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong một số lĩnh vực quản lý nhà nước: Sửa đổi, bổ sung quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 12 Nghị định số 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt về hành vi xả rác nơi công cộng và điểm d khoản 1 Điều 20 Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường cho thống nhất về mức xử phạt đối với hành vi xả rác nơi công cộng.

ThS. Phạm Thu Giang
Đại học Giao thông vận tải



[1]. Xem: Điểm đ khoản 2 Điều 12 Nghị định số 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt.

[2]. Xem: Điểm d khoản 1 Điều 20 Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: