Thứ sáu 23/10/2026 04:47
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính

Tóm tắt: Bài viết nêu lên những hạn chế, bất cập trong quá trình thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, từ đó đưa ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

Tóm tắt: Bài viết nêu lên những hạn chế, bất cập trong quá trình thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, từ đó đưa ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

Abstract: The article highlights the limitations and shortcomings in the implementation of the Law on Handling of Administrative Violations of 2012, and from that makes recommendations to improve the law on handling of administrative violations.

1. Một số hạn chế, vướng mắc trong việc thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012

1.1. Một số quy định trong Luật còn có những cách hiểu khác nhau, mang tính định tính, chưa được giải thích từ ngữ, dẫn đến khó khăn cho cơ quan, tổ chức, người thi hành luật và cơ quan, người có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật hành chính, cụ thể: Trình độ lạc hậu (khoản 7 Điều 9); có quy mô lớn và trị giá hàng hóa lớn (điểm l khoản 1 Điều 10); vi phạm hành chính nghiêm trọng (Điều 26); vụ việc đặc biệt nghiêm trọng, có nhiều tình tiết phức tạp (khoản 1 Điều 66); hành vi “trốn tránh” (khoản 1 Điều 6; điểm k khoản 1 Điều 10; khoản 12 Điều 12; khoản 2 Điều 58; Điều 70; khoản 2 Điều 74; khoản 3 Điều 108; khoản 1 Điều 130); hành vi “trì hoãn” (khoản 12 Điều 12; khoản 2 Điều 74; khoản 3 Điều 129); hành vi “côn đồ hung hãn” (khoản 2 Điều 118); gây hậu quả lớn và gây ảnh hưởng xấu về dư luận xã hội (khoản 1 Điều 72); tài sản khác (khoản 2 Điều 16; khoản 1 Điều 82; khoản 2 Điều 86).

1.2. Về thời hiệu xử lý vi phạm hành chính

Tại điểm b khoản 1 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định “vi phạm hành chính đã kết thúc”; hoặc “vi phạm hành chính đang được thực hiện”, nhưng cách xác định thời điểm kết thúc hành vi vi phạm hành chính để từ đó xác định hành vi nào “đã kết thúc”, hành vi nào “đang được thực hiện” thì chưa có văn bản nào hướng dẫn. Do vậy, đang có nhiều cách hiểu khác nhau về quy định của pháp luật khi áp dụng trên thực tế.

1.3. Về giao quyền cho cấp phó tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả

Chương II Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả, các điều luật trong chương này đều quy định về 03 hình thức xử phạt: Mức tiền phạt; tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả. Theo đó những người được quy định trong Luật có thẩm quyền áp dụng cả 03 hình thức xử phạt này để xử phạt người có vi phạm hành chính. Tuy nhiên, về giao quyền xử phạt giữa cấp trưởng và cấp phó tại khoản 3 Điều 54 quy định: “Cấp phó được giao quyền xử phạt vi phạm hành chính phải chịu trách nhiệm về quyết định xử phạt vi phạm hành chính của mình trước cấp trưởng và trước pháp luật”. Với quy định này, thực tiễn thi hành Luật đã có những cách hiểu khác nhau và áp dụng khác nhau về giao quyền xử phạt cho cấp phó. Có cơ quan đã áp dụng cấp phó chỉ được giao quyền xử phạt vi phạm hành chính, không được giao thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính và áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả; có cơ quan đã áp dụng khi cấp trưởng giao quyền xử phạt hành chính cho cấp phó, thì cấp phó được thực hiện đầy đủ quyền như cấp trưởng.

1.4. Một số quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 cần tiếp tục hướng dẫn thi hành

Khoản 3 Điều 18 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, thủ trưởng cơ quan, đơn vị nếu phát hiện quyết định về xử lý vi phạm hành chính do mình hoặc cấp dưới ban hành có sai sót thì phải sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ, ban hành quyết định mới. Quy định này là cần thiết để khắc phục những quyết định về xử lý vi phạm hành chính có sai sót. Tuy nhiên, việc thực hiện quy định này trong thực tế đang gặp những khó khăn vướng mắc, đó là: (i) Chưa có hướng dẫn cụ thể trình tự, thủ tục sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ quyết định về xử lý vi phạm hành chính có sai sót; (ii) Trường hợp quyết định về xử lý vi phạm hành chính có sai sót đã gây hậu quả, nếu sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ, ban hành quyết định mới thì giải quyết hậu quả này như thế nào; (iii) Về phạm vi xem xét để xử lý quyết định xử phạt vi phạm hành chính có sai sót, trường hợp nội dung quyết định xử phạt đúng nhưng trình tự, thủ tục ban hành có sai sót thì xử lý như thế nào.

1.5. Thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính của người có thẩm quyền xử phạt hành chính

Về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của người có thẩm quyền được quy định từ Điều 38 đến Điều 51 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, trong đó có quy định thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính. Theo quy định của Luật thì trong từng lĩnh vực, một số chức danh thuộc cơ quan cấp dưới bị giới hạn theo thẩm quyền phạt tiền, chỉ có người có chức danh cao nhất trong mỗi lĩnh vực không bị giới hạn theo thẩm quyền phạt tiền. Theo tác giả, quy định thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị giới hạn theo thẩm quyền phạt tiền là không phù hợp. Nhiều vụ việc xử phạt vi phạm hành chính có tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu có giá trị vượt quá mức tiền phạt được quy định, nên đã không thể tịch thu vì vượt quá thẩm quyền xử phạt. Trong trường hợp này có nơi đã chuyển cả vụ việc vi phạm hành chính có tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu có giá trị vượt quá mức tiền phạt lên cơ quan cấp trên có thẩm quyền xử lý, nhưng cũng có nơi cơ quan cấp dưới xử phạt hành chính theo thẩm quyền, còn về tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính lại chuyển lên cấp trên để quyết định tịch thu. Tình trạng chuyển việc vi phạm hành chính của cấp dưới lên cơ quan cấp trên giải quyết sẽ không bảo đảm tính kịp thời, nhanh chóng trong việc xử phạt vi phạm hành chính.

1.6. Về thẩm quyền của Bộ đội biên phòng

Theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 40; điểm đ khoản 4 Điều 40 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 thẩm quyền của Đồn trưởng Đồn biên phòng, Chỉ huy trưởng Bộ đội biên phòng cấp tỉnh được áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả khi xử phạt vi phạm hành chính. Nhưng cả hai chức danh này đều không được áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại điểm d khoản 1 Điều 28 “buộc đưa ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc tái xuất hàng hóa, vật phẩm, phương tiện”. Trên thực tế ở khu vực biên giới thường xảy ra các hành vi vi phạm của người, phương tiện nước ngoài, nhất là phương tiện chở hàng tạm nhập, tái xuất. Khi xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền trên, hai chức danh này không được áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc đưa ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc tái xuất hàng hóa, vật phẩm, phương tiện, đã dẫn đến những khó khăn trong công tác xử phạt vi phạm hành chính của lực lượng Bộ đội biên phòng.

1.7. Về thẩm quyền xử phạt hành chính của Công an nhân dân

Điều 39 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định về thẩm quyền xử phạt hành chính của Công an nhân dân, trong đó có quy định cụ thể thẩm quyền xử phạt hành chính của các chức danh thuộc Bộ Công an. Vừa qua, theo yêu cầu thu gọn đầu mối các cơ quan nhà nước, tổ chức bộ máy của các đơn vị thuộc Bộ Công an đã được tổ chức lại. Do đó, đã có sự thay đổi trong cơ cấu tổ chức nội bộ của các đơn vị thuộc Bộ Công an, một số chức danh quy định trong Điều 39 đã thay đổi. Mặc dù, Điều 53 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định: “Trường hợp chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính quy định tại Luật này có sự thay đổi về tên gọi thì chức danh đó có thẩm quyền xử phạt”. Tuy nhiên, việc thay đổi tổ chức bộ máy của các đơn vị thuộc Bộ Công an không phải đơn thuần chỉ thay đổi tên gọi hiện có, mà thay đổi cả về tổ chức, dẫn đến những khó khăn, vướng mắc về thẩm quyền xử phạt trong thực tiễn áp dụng pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với những đơn vị này.

1.8. Thời gian tạm giữ tang vật để xác định giá trị tang vật vi phạm hành chính

Tại khoản 3 Điều 60 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định, trường hợp không thể áp dụng được căn cứ để xác định giá trị tang vật vi phạm hành chính làm căn cứ xác định khung tiền phạt, thẩm quyền xử phạt thì người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc có thể ra quyết định tạm giữ tang vật vi phạm và thành lập Hội đồng định giá. Thời gian tạm giữ tang vật để xác định giá trị là không quá 24 giờ và nếu cần thiết có thể kéo dài thêm nhưng không được quá 24 giờ (tổng cộng tối đa là 48 giờ). Qua thực tiễn thi hành Luật cho thấy thời gian quy định trên đây để thành lập Hội đồng định giá là không phù hợp, cần quy định dài hơn nữa vì việc tổ chức định giá đối với những vụ vi phạm mà tang vật là hàng hóa nhập lậu có giá trị lớn, đặc biệt ở các khu vực biên giới, biển đảo rất khó khăn. Hơn nữa, có nhiều vụ vi phạm tang vật gồm nhiều chủng loại hàng hóa, khó xác minh giá trị… việc xác định giá trị trong khoảng thời gian 24 giờ (tối đa là 48 giờ) sẽ không đảm bảo tính chính xác, có thể dẫn đến việc ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính không chính xác, không đúng thẩm quyền.

1.9. Quyền giải trình của cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính

Theo quy định tại khoản 1 Điều 61 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 những trường hợp pháp luật quy định áp dụng hình thức xử phạt tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc áp dụng mức phạt tiền tối đa của khung tiền phạt đối với hành vi đó từ 15.000.000 đồng trở lên đối với cá nhân, từ 30.000.000 đồng trở lên đối với tổ chức thì cá nhân, tổ chức vi phạm có quyền giải trình trực tiếp hoặc bằng văn bản với người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. Thực tiễn thi hành Luật cho thấy những trường hợp mà đối tượng vi phạm bị áp dụng biện pháp tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính hoặc phương tiện sử dụng trong vi phạm hành chính lại không được giải trình. Quy định này là không hợp lý, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của đối tượng vi phạm, vì trong nhiều trường hợp, nhiều tang vật, phương tiện vi phạm còn có giá trị lớn hơn nhiều lần mức phạt tiền tối đa là 15.000.000 đồng trở lên đối với cá nhân và từ 30.000.000 đồng trở lên đối với tổ chức.

1.10. Về tạm giữ người theo thủ tục hành chính

Việc quy định tạm giữ người theo thủ tục hành chính (khoản 1 Điều 122 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012) là quá hẹp, gây khó khăn trong quá trình áp dụng, thi hành Luật. Thực tiễn thi hành Luật cho thấy, ngoài những trường hợp được tạm giữ hành chính quy định trong Luật, còn một số trường hợp khác liên quan đến việc quản lý người vi phạm để bảo đảm cho công tác xử phạt vi phạm hành chính, cũng cần được quy định trong luật về tạm giữ hành chính như: (i) Trường hợp đối tượng có nhiều hành vi vi phạm khác nhau như đánh bạc, trộm cắp tài sản… cần có thời gian để xác minh, làm rõ hành vi, hậu quả, thiệt hại cũng cần phải tạm giữ hành chính; (ii) Trường hợp cần xác minh về nhân thân của các đối tượng vi phạm để xử lý theo đúng quy định pháp luật, tránh bỏ lọt tội phạm; (iii) Trường hợp các đối tượng có các hành vi chống lại người thi hành công vụ.

1.11. Xử lý tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề bị tạm giữ theo thủ tục hành chính

Khoản 1 Điều 126 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định, đối với tang vật, phương tiện đang bị tạm giữ do bị chiếm đoạt, sử dụng trái phép để vi phạm hành chính thuộc trường hợp bị tịch thu thì trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp. Trong trường hợp này, cá nhân, tổ chức vi phạm phải nộp một khoản tiền tương đương trị giá tang vật, phương tiện vi phạm vào ngân sách nhà nước. Hiện nay, Luật và các văn bản hướng dẫn thi hành đều chưa có hướng dẫn cụ thể về hình thức nộp tiền; trình tự, thủ tục nộp tiền; thời điểm nộp tiền; thời điểm trả lại tài sản cho chủ sở hữu hợp pháp… Bên cạnh đó, trong trường hợp các phương tiện vi phạm hành chính như xe ô tô, máy xúc, máy ủi, tàu thuyền là những tài sản có giá trị lớn, do những người làm công, làm thuê quản lý, sử dụng và thực hiện hành vi vi phạm hành chính. Trong trường hợp này, các lực lượng chức năng không thể tịch thu các phương tiện mà phải trả lại cho chủ sở hữu, đồng thời yêu cầu người làm công, làm thuê phải nộp một khoản tiền tương đương trị giá phương tiện vi phạm hành chính, trong khi hầu hết những đối tượng này đều thuộc diện nghèo khó, không có điều kiện kinh tế để thi hành quyết định xử phạt.

1.12. Nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính và áp dụng tình tiết tăng nặng trong xử phạt hành chính

Tại điểm d khoản 1 Điều 3 về nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính quy định “một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính hoặc vi phạm hành chính nhiều lần thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm”. Tại điểm b khoản 1 Điều 10 quy định “vi phạm hành chính nhiều lần” là tình tiết tăng nặng. Theo quy định của Luật thì tại điểm d khoản 1 Điều 3 quy định về nguyên tắc xử phạt hành vi vi phạm hành chính, còn tại điểm b khoản 1 Điều 10 quy định về áp dụng tình tiết tăng nặng trong khi xử phạt vi phạm hành chính. Tuy nhiên, thực tiễn vừa qua ở một số địa phương do nhận thức về quy định này không đúng, dẫn đến việc áp dụng Luật chưa thống nhất. Trường hợp một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính hoặc vi phạm hành chính nhiều lần, có nơi xử phạt về từng hành vi vi phạm, có nơi chỉ xử phạt một hành vi còn những hành vi khác là tình tiết tăng nặng nên không xử phạt.

1.13. Chưa có sự thống nhất giữa các nghị định của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong một số lĩnh vực quản lý nhà nước

Tại khoản 5 Điều 2 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ, quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 đã quy định: Hành vi vi phạm hành chính phải được quy định tại các nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước tương ứng, phù hợp với tính chất vi phạm của hành vi đó. Trường hợp hành vi vi phạm hành chính thuộc lĩnh vực này nhưng do tính chất vi phạm đặc thù của hành vi đó, thì có thể quy định và xử phạt trong nghị định xử phạt vi phạm hành chính thuộc lĩnh vực khác. Trong trường hợp này, hình thức, mức xử phạt quy định phải thống nhất với quy định tại nghị định xử phạt vi phạm hành chính của lĩnh vực quản lý nhà nước tương ứng. Tuy nhiên, trên thực tế, quy định về hành vi vi phạm hành chính của các nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong một số lĩnh vực quản lý nhà nước chưa có sự thống nhất, đồng bộ. Chẳng hạn cùng là hành vi xả rác nơi công cộng nhưng giữa các nghị định lại quy định mức xử phạt khác nhau: Theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 12 Nghị định số 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt[1], hành vi xả rác nơi công cộng thì bị phạt tiền từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng. Nhưng theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 20 Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường[2] thì hành vi xả rác nơi công cộng bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng.

2. Những kiến nghị hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính

2.1. Bổ sung vào Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 về giải thích từ ngữ những khái niệm: Trình độ lạc hậu; có quy mô lớn và trị giá hàng hóa lớn; vi phạm hành chính nghiêm trọng; vụ việc đặc biệt nghiêm trọng; nhiều tình tiết phức tạp; hành vi “trốn tránh”; hành vi “trì hoãn”; hành vi “côn đồ hung hãn”; gây hậu quả lớn và gây ảnh hưởng xấu về dư luận xã hội; tài sản khác.

2.2. Sửa đổi, bổ sung quy định tại Điều 6 về thời hiệu xử lý vi phạm hành chính quy định cụ thể về “vi phạm hành chính đã kết thúc”, “vi phạm hành chính đang được thực hiện”.

2.3. Sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 54 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 về giao quyền cho cấp phó, ngoài thẩm quyền xử phạt hành chính cấp phó còn được quyền tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 87 theo hướng bỏ quy định về việc giao quyền cho cấp phó chỉ được thực hiện khi cấp trưởng vắng mặt.

2.4. Hướng dẫn cụ thể trình tự, thủ tục sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ quyết định về xử lý vi phạm hành chính có sai sót; trường hợp quyết định về xử lý vi phạm hành chính có sai sót đã gây hậu quả, nếu sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ, ban hành quyết định mới thì giải quyết hậu quả này như thế nào; trường hợp nội dung quyết định xử phạt đúng nhưng trình tự, thủ tục ban hành có sai sót thì xử lý như thế nào; trường hợp lập biên bản vi phạm hành chính có sai sót thì việc sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ, ban hành mới biên bản vi phạm hành chính như thế nào.

2.5. Sửa đổi, bổ sung quy định từ Điều 38 đến Điều 51 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 theo hướng quy định thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính không bị giới hạn theo thẩm quyền phạt tiền, để tránh một số trường hợp thẩm quyền phạt tiền thuộc cấp dưới nhưng lại không có thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính nên phải chuyển lên cấp trên xử lý tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính.

2.6. Sửa đổi, bổ sung quy định tại điểm d khoản 3 Điều 40; điểm đ khoản 4 Điều 40 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 thẩm quyền của Đồn trưởng Đồn biên phòng, Chỉ huy trưởng Bộ đội biên phòng cấp tỉnh được áp dụng cả điểm d khoản 1 Điều 28 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 “buộc đưa ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc tái xuất hàng hóa, vật phẩm, phương tiện”.

2.7. Sửa đổi, bổ sung quy định tại Điều 39 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định về thẩm quyền xử phạt hành chính của các chức danh thuộc Công an nhân dân cho phù hợp với tổ chức bộ máy của các đơn vị thuộc Bộ Công an vừa mới thay đổi.

2.8. Sửa đổi, bổ sung quy định tại khoản 3 Điều 60 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 theo hướng những vụ vi phạm hành chính mà số lượng hàng hóa nhập lậu có giá trị lớn ở các khu vực biên giới, biển đảo, những vụ vi phạm tang vật gồm nhiều chủng loại hàng hóa, khó xác minh giá trị… thì thời gian tạm giữ tang vật để xác định giá trị có thể kéo dài thêm nhưng không được quá 05 ngày làm việc.

2.9. Sửa đổi, bổ sung quy định tại khoản 1 Điều 61 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 theo hướng những trường hợp bị áp dụng biện pháp tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính hoặc phương tiện sử dụng trong vi phạm hành chính có quyền giải trình trực tiếp hoặc bằng văn bản với người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính.

2.10. Sửa đổi, bổ sung quy định tại khoản 1 Điều 122 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định việc tạm giữ người theo thủ tục hành chính được áp dụng trong cả trường hợp như: Đánh bạc, trộm cắp tài sản…; trường hợp cần xác minh về nhân thân của các đối tượng vi phạm; trường hợp các đối tượng có các hành vi chống lại người thi hành công vụ.

2.11. Cần có hướng dẫn cụ thể việc thi hành quy định tại khoản 1 Điều 126 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định: “Đối với tang vật, phương tiện đang bị tạm giữ do bị chiếm đoạt, sử dụng trái phép để vi phạm hành chính thuộc trường hợp bị tịch thu thì trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp. Trong trường hợp này, cá nhân, tổ chức vi phạm phải nộp một khoản tiền tương đương trị giá tang vật, phương tiện vi phạm vào ngân sách nhà nước”.

2.12. Cần hướng dẫn cụ thể việc thi hành quy định tại điểm d khoản 1 Điều 3 về nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính quy định “một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính hoặc vi phạm hành chính nhiều lần thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm” và tại điểm b khoản 1 Điều 10 quy định “vi phạm hành chính nhiều lần” là tình tiết tăng nặng.

2.13. Thống nhất giữa các nghị định của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong một số lĩnh vực quản lý nhà nước: Sửa đổi, bổ sung quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 12 Nghị định số 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt về hành vi xả rác nơi công cộng và điểm d khoản 1 Điều 20 Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường cho thống nhất về mức xử phạt đối với hành vi xả rác nơi công cộng.

ThS. Phạm Thu Giang
Đại học Giao thông vận tải



[1]. Xem: Điểm đ khoản 2 Điều 12 Nghị định số 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt.

[2]. Xem: Điểm d khoản 1 Điều 20 Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số và yêu cầu hiện đại hóa công tác quản lý đất đai, việc hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai cần được đặt trong mối quan hệ với hoạt động công chứng, cơ sở dữ liệu đất đai và cơ chế xác lập quyền đối với bất động sản (BĐS). Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận, phân tích các mô hình đăng ký đất đai và tham khảo kinh nghiệm pháp luật của Pháp, Đức, Trung Quốc…, nghiên cứu làm rõ vai trò của hoạt động công chứng trong giao dịch về quyền sử dụng đất (QSDĐ), từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản lý đất đai.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI) ngày càng đóng vai trò quan trọng, được ứng dụng rộng rãi trong quản trị công và hoạt động lập pháp tại nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở chính trị, pháp lý, nguyên tắc và phạm vi ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, AI có thể hỗ trợ hiệu quả nhiều công đoạn như xử lý dữ liệu, phân tích chính sách, rà soát văn bản, tổng hợp ý kiến và hỗ trợ kỹ thuật lập pháp. Tuy nhiên, AI chỉ nên được sử dụng như công cụ hỗ trợ dưới sự kiểm soát của con người, không thay thế thẩm quyền, trách nhiệm chính trị, pháp lý và trách nhiệm giải trình của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động lập pháp. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam.
Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Tóm tắt: Pháp quyền xã hội chủ nghĩa là khái niệm được sử dụng rộng rãi ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa, nhưng có nội hàm và cách tiếp cận khác nhau, trong khi các nghiên cứu so sánh về vấn đề này còn tương đối hạn chế. Nghiên cứu so sánh quá trình hình thành và phát triển mô hình pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và Trung Quốc cho thấy, Việt Nam chủ yếu tiếp thu mô hình Xô Viết và chịu ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa, thể hiện xu hướng phổ quát pháp lý; ngược lại, Trung Quốc chủ động “Trung Quốc hóa” các học thuyết phương Tây theo hướng đặc thù pháp lý. Trên cở sở đó, nghiên cứu đề xuất Việt Nam có thể tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Trung Quốc trong xây dựng và hoàn thiện nền pháp quyền xã hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn đất nước.
Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

Một bài giảng hôm nay có thể được truyền từ một lớp học nhỏ tới hàng nghìn người học ở nhiều không gian khác nhau; một học sinh chỉ cần vài giây để nhận câu trả lời từ trí tuệ nhân tạo (AI) cho vấn đề từng đòi hỏi hàng giờ tra cứu. Công nghệ đang làm cho lớp học vượt khỏi bốn bức tường. Tuy nhiên, khi những giới hạn vật lý dần biến mất, những giới hạn pháp lý về quyền sáng tạo, dữ liệu, liêm chính học thuật và trách nhiệm của con người càng phải được xác lập rõ hơn. Bởi lớp học có thể không còn biên giới, nhưng quyền và trách nhiệm phải luôn được xác định rõ.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.

Theo dõi chúng tôi trên: