Thứ tư 26/08/2026 08:09
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 - Cơ sở pháp lý thúc đẩy sự phát triển của Ngành Ngân hàng

Trong bài viết, tác giả nêu ra những điểm mới nổi bật của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 (có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2024) và đánh giá một số khía cạnh pháp lý được quy định trong Luật sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển của ngành ngân hàng trong thời gian tới.

1. Một số điểm mới nổi bật của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024

Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 được Quốc hội khóa XV thông qua ngày 18/01/2024 thay thế cho Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017). Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 gồm 15 chương, 210 điều, quy định về việc thành lập, tổ chức, hoạt động, can thiệp sớm, kiểm soát đặc biệt, tổ chức lại, giải thể, chấm dứt hoạt động của chi nhánh ngân hàng nước ngoài; việc thành lập, hoạt động của văn phòng đại diện tại Việt Nam của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng; việc xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mà Nhà nước sở hữu 100% vốn đều lệ có chức năng mua, bán, xử lý nợ. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2024, trừ khoản 3 Điều 200 và khoản 15 Điều 210 của Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2025. Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 có những điểm mới cơ bản nổi bật như sau[1]:

Thứ nhất, sửa đổi, bổ sung các quy định về tổ chức, quản trị, điều hành, quản lý rủi ro tiệm cận với thông lệ tốt về quản trị công ty; tăng cường hơn nữa việc tự kiểm tra, kiểm soát nội bộ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, như: Quy định tiêu chuẩn, điều kiện chặt chẽ hơn đối với người quản lý, người điều hành tổ chức tín dụng; tăng cường nhiệm vụ, quyền hạn đối với Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; tăng số lượng thành viên Ban kiểm soát của ngân hàng thương mại; hoàn thiện các quy định về những trường hợp không được đảm nhiệm chức vụ, không cùng đảm nhiệm chức vụ, việc xây dựng các quy định nội bộ và hoạt động kiểm soát nội bộ, kiểm toán nội bộ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

Thứ hai, sửa đổi một số quy định nhằm hạn chế tình trạng thao túng, chi phối tổ chức tín dụng bên cạnh yêu cầu về quản trị, điều hành, như: Mở rộng quy định người có liên quan của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, giảm tỷ lệ sở hữu của cổ đông là tổ chức của tổ chức tín dụng là công ty cổ phần, giảm giới hạn cấp tín dụng; bên cạnh đó, bổ sung quy định về công bố công khai thông tin của cổ đông sở hữu từ 1% vốn điều lệ trở lên của tổ chức tín dụng nhằm tăng cường tính minh bạch. Để tránh những tác động đột ngột đến thị trường, Luật quy định chuyển tiếp đối với tổ chức, cá nhân đang sở hữu cổ phần vượt tỷ lệ theo Luật này tại tổ chức tín dụng, các hợp đồng, giao dịch, thỏa thuận đã ký với tổ chức tín dụng; không áp dụng một số quy định mới về người có liên quan đối với quỹ tín dụng nhân dân; quy định lộ trình cụ thể giảm giới hạn cấp tín dụng theo từng năm để tổ chức tín dụng có kế hoạch giảm dần một cách phù hợp.

Thứ ba, hoàn thiện các quy định về hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài vừa đáp ứng yêu cầu về bảo đảm an toàn hoạt động vừa tạo điều kiện để tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cung ứng các sản phẩm, dịch vụ đa dạng, bao gồm cả cung ứng qua phương tiện điện tử; bổ sung quy định về cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực ngân hàng, tạo điều kiện tiếp cận sớm với các công nghệ mới trong lĩnh vực ngân hàng, nâng cao khả năng cạnh tranh của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

Thứ tư, bổ sung 01 chương về ngân hàng chính sách trên cơ sở luật hóa các quy định đã được áp dụng ổn định trong thực tiễn của 02 ngân hàng chính sách hiện nay là Ngân hàng Chính sách xã hội và Ngân hàng Phát triển Việt Nam nhằm khẳng định địa vị pháp lý của ngân hàng chính sách, tạo điều kiện cho sự phát triển của các ngân hàng này vì mục tiêu thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội của Nhà nước.

Thứ năm, hoàn thiện quy định về tài chính, hạch toán, báo cáo trên cơ sở luật hóa các quy định đã áp dụng ổn định trong thực tiễn, như quy định về vốn, doanh thu, chi phí, lãi phải thu, dự phòng rủi ro, phân phối lợi nhuận và các quỹ… nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cũng như đáp ứng các yêu cầu về tài chính, hạch toán, kế toán theo chuẩn mực quốc tế, bảo đảm tính minh bạch, hiệu quả, tạo cơ sở pháp lý trong triển khai thực hiện cũng như quản lý, giám sát đối với hoạt đồng của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

Thứ sáu, tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để xử lý tổ chức tín dụng yếu kém như quy định về can thiệp sớm, kiểm soát đặc biệt, cho vay đặc biệt tổ chức tín dụng trên cơ sở nâng cao tính tự chịu trách nhiệm của tổ chức tín dụng, bảo đảm sự an toàn, lành mạnh của hệ thống tổ chức tín dụng; trong đó, bổ sung quy định ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải xây dựng phương án khắc phục dự kiến trong trường hợp can thiệp sớm nhằm để tổ chức tín dụng chủ động và xử lý kịp thời khi xảy ra vấn đề phải can thiệp sớm; bổ sung quy định xử lý trường hợp tổ chức tín dụng bị rút tiền hàng loạt.

Thứ bảy, bổ sung một số quy định về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm trên cơ sở luật hóa một số nội dung phù hợp tại Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng, tạo điều kiện để thị trường mua bán nợ phát triển, như quy định về bán nợ xấu và tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu; mua, bán nợ xấu của tổ chức mua bán, xử lý nợ; mua, bán khoản nợ xấu có tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất, tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai, thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu, chuyển nhượng tài sản bảo đảm. Những quy định này giúp thị trường mua, bán nợ phát triển và hỗ trợ tốt hơn cho quá trình xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng, mặt khác, vẫn nêu cao tính tự chịu trách nhiệm của tổ chức tín dụng trong việc xử lý nợ xấu, xử lý tài sản bảo đảm.

Thứ tám, hoàn thiện quy định về cơ quan quản lý nhà nước, trong đó, tăng cường trách nhiệm thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước; quy định sự phối hợp giữa Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan, nhất là Bộ Tài chính trong công tác quản lý nhà nước và kiểm tra, thanh tra, giám sát trong mối quan hệ liên thông giữa ngân hàng - chứng khoán - bảo hiểm nhằm nâng cao tính hiệu quả trong quản lý, giám sát và kịp thời phát hiện, xử lý vi phạm.

Ngoài ra, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 đã bổ sung 01 điều về hành vi bị nghiêm cấm; quy định giấy phép hoạt đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, giấy chứng nhận đăng ký hợp tác xã, giấy chứng nhận đăng ký hoạt động để giảm thiểu thủ tục hành chính cho tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; bổ sung trách nhiệm của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài trong việc bảo vệ quyền lợi khách hàng…

2. Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 là cơ sở pháp lý để phát triển hoạt động của các ngân hàng

Với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số, ngành ngân hàng đang đứng trước nhiều cơ hội để tăng trưởng, phát triển nhờ tăng tốc chuyển đổi kỹ thuật số, nâng cao khả năng quản trị dữ liệu và năng lực bán hàng thông qua hệ sinh thái ngày càng phát triển. Tuy nhiên, bên cạnh những triển vọng này thì các ngân hàng tại Việt Nam vẫn đang phải đối mặt với những thách thức như: Việc gia tăng nợ xấu dẫn tới tiềm ẩn rủi ro an toàn hệ thống; khủng hoảng kênh phân phối bảo hiểm qua ngân hàng làm “xói mòn” niềm tin của khách hàng; thu hẹp thị trường vốn do sự suy giảm của thị trường chứng khoán…

Trong bối cảnh đó, với những quy định chặt chẽ, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 hứa hẹn mở ra cánh cửa mới cho sự phát triển và hợp tác quốc tế trong ngành ngân hàng, cụ thể như sau[2]:

Một là, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 tạo hành lang pháp lý triển khai hoạt động ngân hàng qua phương tiện điện tử. Luật đã hoàn thiện các quy định về dịch vụ ngân hàng qua phương tiện điện tử và xây dựng khung pháp lý cho việc thử nghiệm ứng dụng công nghệ và triển khai các sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh mới trong hoạt động ngân hàng, tạo nền tảng cho việc ứng dụng các công nghệ chủ chốt của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0. Cụ thể, Luật đã bổ sung các quy định như: Quy định về trách nhiệm xây dựng, ban hành quy định nội bộ đối với hoạt động nghiệp vụ của tổ chức tín dụng, bao gồm cả việc thực hiện hoạt động nghiệp vụ bằng phương tiện điện tử; quy định về giao dịch trong hoạt động ngân hàng; có quy định riêng cho hoạt động cấp tín dụng bằng phương tiện điện tử như quy định về xét duyệt cấp tín dụng, lưu trữ hồ sơ tín dụng; quy trình trách nhiệm niêm yết thông tin của tổ chức tín dụng trong trường hợp ngừng giao dịch bằng phương tiện điện tử. Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 cũng giao Chính phủ quy định cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực ngân hàng, tạo cơ sở để Chính phủ ban hành văn bản hướng dẫn việc ứng dụng công nghệ và triển khai sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh mới trong lĩnh vực ngân hàng[3].

Hai là, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 quy định về yêu cầu công khai thông tin cổ đông sở hữu trên 1% vốn điều lệ. Quy định này không chỉ góp phần nâng cao sự minh bạch, mà còn tạo dựng niềm tin trong lòng các nhà đầu tư và khách hàng. Các ngân hàng cũng đứng trước cơ hội tiếp cận được với các nguồn vốn đa dạng trên thị trường, tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng kinh doanh và nâng cao tỷ lệ an toàn vốn.

Ba là, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 chính thức nghiêm cấm việc bán các sản phẩm bảo hiểm không bắt buộc đi kèm theo các dịch vụ ngân hàng. Sau khi các ngân hàng gặp phải khủng hoảng về niềm tin của khách hàng đối với dịch vụ phân phối bảo hiểm qua ngân hàng thì quy định này là nguồn động lực để các ngân hàng nâng cao chuẩn mực kinh doanh, giảm thiểu tổn hại đến uy tín của ngân hàng và mở ra cơ hội kinh doanh mới.

Bốn là, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 đã có những quy định nhằm giảm bớt quyền lực của các cổ đông lớn. Theo đó, cổ phần của cá nhân được nhận sở hữu tại một ngân hàng sẽ giảm xuống 5% vốn điều lệ, trong khi tổ chức sẽ được phép nắm giữ tối đa 10% vốn điều lệ và cổ đông cũng như những người có liên quan có thể sở hữu tối đa 15% vốn điều lệ. Việc giảm bớt quyền lực của các cổ đông lớn, nâng cao nền tảng quản trị vững chắc không chỉ giúp giảm thiểu rủi ro về xung đột lợi ích nhóm và hạn chế thao túng trong các ngân hàng mà còn mở ra cánh cửa cho những nhà đầu tư nhỏ, tạo ra một “bức tranh” đầu tư sôi động và phong phú hơn.

Nhiều chuyên gia cho rằng: Việc giảm tỷ lệ cho vay đối với một khách hàng và người có liên quan giúp đa dạng hóa danh mục tín dụng, giảm thiểu rủi ro đạo đức từ phía khách hàng và rủi ro quá hạn cho tổ chức tín dụng. Những ngân hàng đang có tỷ lệ cho vay nhóm khách hàng liên quan vượt tỷ lệ theo quy định mới sẽ gặp áp lực cơ cấu lại khoản vay cho tệp khách hàng này, đồng thời dư nợ tín dụng có thể bị sụt giảm do nhóm khách hàng này phải tìm nguồn vốn khác để tất toán bớt khoản vay hiện hữu nhằm đáp ứng tỷ lệ theo quy định mới.

Năm là, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 giúp hoàn thiện hơn khung khổ pháp lý về những biện pháp can thiệp mà Ngân hàng Nhà nước đã tiến hành đối với những ngân hàng yếu kém trong những năm qua. Việc can thiệp sớm đối với các ngân hàng không đáp ứng các yêu cầu quy định đưa ra một thông điệp mạnh mẽ về sự cam kết của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước trong việc bảo vệ sự ổn định và tin cậy của hệ thống ngân hàng. Điều này giúp tăng cường lòng tin của cả khách hàng và các nhà đầu tư, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các ngân hàng trong việc huy động vốn và mở rộng hoạt động kinh doanh, góp phần vào sự phát triển bền vững của nền kinh tế.

Sáu là, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 cho phép các ngân hàng được chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần dự án bất động sản là tài sản bảo đảm đáp ứng các quy định nghiêm ngặt của Luật Kinh doanh bất động sản để thu hồi nợ, bao gồm: Có kế hoạch chi tiết được phê duyệt, hoàn thành việc giải tỏa mặt bằng, có quyết định về phân bổ đất hoặc cho thuê đất từ cơ quan có thẩm quyền, cùng với việc thực hiện đúng nghĩa vụ tài chính. Quy định mới này góp phần khai thông dòng vốn đổ vào lĩnh vực bất động sản, ngăn chặn việc định giá “khống” các dự án bất động sản, nâng cao tính thanh khoản của thị trường bất động sản, hỗ trợ công tác thu hồi nợ và giảm thiểu rủi ro về nợ xấu cho ngân hàng.

Bảy là, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 đã có quy định nhằm giới hạn mức cho vay. Theo đó, các ngân hàng sẽ phải tuân thủ một kế hoạch 05 năm giảm dần hạn mức cho vay đối với một khách hàng (từ 15% xuống còn 10% vỗn sở hữu), nhóm khách hàng và các bên liên quan (từ 25% xuống còn 15% vốn sở hữu) nhằm giảm thiểu rủi ro tín dụng tập trung có thể dẫn đến rủi ro hệ thống tiềm ẩn.

Tám là, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 đã nâng cao tiêu chuẩn xét duyệt cấp tín dụng tiêu dùng. Trong bối cảnh tài chính tiêu dùng ngày càng trở thành lĩnh vực kinh doanh trọng điểm đối với các ngân hàng bán lẻ, song lại phải đối mặt với những thách thức lớn về nợ xấu, việc tăng cường thu thập thông tin khách hàng, đặc biệt là thông tin chi tiết về khả năng tài chính, phương án và mục đích sử dụng vốn theo quy định mới của Luật đề ra một chuẩn mực mới cho việc phê duyệt tín dụng tiêu dùng. Cùng với việc áp dụng các giải pháp công nghệ tiên tiến trong phê duyệt tín dụng, các ngân hàng có thể bảo đảm rằng, các khoản vay tiêu dùng được cấp đã thông qua một quy trình thẩm định tín dụng đáng tin cậy. Điều này không chỉ giảm thiểu rủi ro tín dụng, mà còn tăng cường sự tiện lợi và hiệu quả trong quá trình phê duyệt khoản vay tiêu dùng, góp phần vào sự phát triển bền vững của nhóm ngành ngân hàng nói riêng và của nền kinh tế nói chung.

Tóm lại, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 mở ra một bước ngoặt mới cho ngành ngân hàng Việt Nam. Luật đã đặt nền móng cho sự minh bạch, quản trị rủi ro hiệu quả và tiệm cận hơn với các chuẩn mực quốc tế. Để thích ứng và phát triển trong bối cảnh mới, các ngân hàng cần tiếp cận các quy định ban hành một cách sáng tạo, tập trung vào chuyển đổi số, xây dựng ngân hàng số giúp quản trị rủi ro, tối ưu hóa quy trình. Sự linh hoạt và đổi mới kết hợp cùng công nghệ số sẽ là nền tảng vững chắc để ngành ngân hàng bứt phá trong tương lai./.

TS. Nguyễn Tuấn Hải

Học viện Tư pháp

[1]. Bổ sung nhiều quy định về hoạt động ngân hàng, đăng tải trên trang web https://nhandan.vn/luat-cac-to-chuc-tin-dung-2024-bo-sung-nhieu-quy-dinh-ve-hoat-dong-ngan-hang-post793347.html, truy cập ngày 01/7/2024.

[2]. Luật Các tổ chức tín dụng: Bước ngoặt cho ngành ngân hàng, đăng tải trên trang web https://www.tinnhanhchungkhoan.vn/luat-cac-to-chuc-tin-dung-2024-buoc-ngoat-cho-nganh-ngan-hang-post346955.html, truy cập ngày 01/7/2024.

[3]. Điểm mới của Luật Các tổ chức tín dụng: Quy định rõ các biện pháp sẽ áp dụng khi một tố chức tín dụng bị rút tiền hàng loạt, đăng tải trên trang web https://quochoi.vn/tintuc/Pages/tin-hoat-dong-cua-quoc-hoi.aspx?ItemID=84732, truy cập ngày 01/7/2024.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 408), tháng 7/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: