Thứ năm 03/09/2026 03:50
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Luật Công nghệ thông tin - Thực trạng thi hành và một số kiến nghị hoàn thiện

Trong bài viết, tác giả giới thiệu tổng quan về Luật Công nghệ thông tin, sau đó phân tích những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực thi Luật Công nghệ thông tin và đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật.

1. Khái quát về Luật Công nghệ thông tin

Luật Công nghệ thông tin được Quốc hội thông qua năm 2006 là văn bản luật đầu tiên về công nghệ thông tin ở Việt Nam. Luật được ra đời trong bối cảnh nước ta đang đẩy mạnh thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập khu vực, quốc tế. Đảng và Nhà nước ta thời điểm đó cũng đã ban hành nhiều nghị quyết, văn bản chỉ đạo, định hướng cho sự phát triển của công nghệ thông tin. Luật Công nghệ thông tin năm 2006 đã góp phần tạo hành lang pháp lý cơ bản để điều chỉnh các hoạt động ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế tri thức, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh. Mặt khác, Luật Công nghệ thông tin năm 2006 ra đời còn tạo ra sự đồng bộ với các luật có liên quan, đáp ứng yêu cầu hội nhập, thực hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam[1].

Luật Công nghệ thông tin năm 2006 bao gồm 6 chương, 79 điều được xây dựng trên cơ sở quán triệt các quan điểm chủ đạo sau của Đảng và Nhà nước ta[2]:

Một là, thể chế hóa quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng về phát triển công nghệ thông tin, phù hợp với thực tiễn ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin của Việt Nam và cập nhật với trình độ phát triển của công nghệ thông tin trên thế giới.

Hai là, bảo đảm phù hợp với Hiến pháp; thống nhất và đồng bộ với các đạo luật liên quan như: Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại, Luật Kế toán, Luật Giáo dục, Luật Doanh nghiệp, Luật Báo chí...; phù hợp với luật pháp quốc tế và các điều ước quốc tế liên quan đến công nghệ thông tin mà Việt Nam là thành viên.

Ba là, tạo lập và hoàn thiện hành lang pháp lý để thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin, coi ứng dụng công nghệ thông tin là một nhiệm vụ ưu tiên trong phát triển kinh tế - xã hội, thúc đẩy quá trình cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, hội nhập kinh tế quốc tế và góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Bốn là, quy định những điều kiện thiết yếu để bảo đảm phát triển công nghiệp công nghệ thông tin thành một ngành kinh tế mũi nhọn, đóng góp đáng kể và ngày càng tăng cho GDP, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Năm là, không tạo ra rào cản cho sự phát triển: Luật Công nghệ thông tin tạo cơ sở pháp lý để đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và phát triển công nghiệp công nghệ thông tin ở Việt Nam. Các quy định về quản lý, cấp phép, đăng ký chỉ quy định ở mức tối thiểu và cần thiết nhằm tạo ra môi trường rõ ràng, minh bạch và lành mạnh cho các hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin và phát triển công nghiệp công nghệ thông tin, theo đúng quan điểm chỉ đạo: “Năng lực quản lý phải theo kịp sự phát triển”.

Sáu là, tích hợp, đồng bộ với các luật, pháp lệnh khác: Tích hợp, bổ sung lẫn nhau với Luật Giao dịch điện tử đã được Quốc hội ban hành để tạo ra một môi trường pháp lý lành mạnh, đồng bộ cho sự phát triển công nghệ thông tin tại Việt nam. Luật Công nghệ thông tin không điều chỉnh các vấn đề đã có trong các luật, pháp lệnh khác.

Trải qua 17 năm đi vào cuộc sống, Luật Công nghệ thông tin năm 2006 đã có những đóng góp tích cực, nâng cao chất lượng, hiệu quả các hoạt động kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Cho tới nay, Luật Công nghệ thông tin năm 2006 vẫn chưa được sửa đổi, bổ sung một cách toàn diện. Luật mới chỉ được sửa đổi, bổ sung một số điều cho phù hợp với các Luật Quy hoạch năm 2017 và Luật Giao dịch điện tử năm 2023[3]. Tuy nhiên, với tốc độ phát triển mạnh mẽ của ngành công nghệ thông tin, những thay đổi lớn về khoa học, công nghệ, cùng với yêu cầu về an toàn, an ninh đòi hỏi pháp luật về công nghệ thông tin cần có những cơ chế điều chỉnh mới phù hợp và hiệu quả hơn.

2. Thực trạng thi hành Luật Công nghệ thông tin

Về cơ bản, Luật Công nghệ thông tin năm 2006 bao gồm 02 phần nội dung chính liên quan đến phát triển công nghệ thông tin, công nghiệp công nghệ thông tin và ứng dụng công nghệ thông tin. Từ khi Luật có hiệu lực cho đến nay đã góp phần phát triển công nghệ thông tin và công nghiệp công nghệ thông tin: Các quy định này trong Luật Công nghệ thông tin năm 2006 đã giúp ngành công nghiệp công nghệ thông tin đạt được nhiều kết quả quan trọng. Tổng doanh thu công nghiệp công nghệ thông tin năm 2020 đạt gấp 20 lần so với năm 2009 và gấp hơn 2 lần so với năm 2015. Tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2015 - 2020 đạt bình quân 15,2%/năm cao hơn 2 lần tốc độ tăng trưởng GDP, trở thành một trong những ngành kinh tế có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất, quy mô lớn nhất cả nước[4]. Các quy định về ứng dụng công nghệ thông tin trong Luật Công nghệ thông tin năm 2006 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã cơ bản thiết lập được hành lang pháp lý cho các hoạt động công nghệ thông tin, phát triển Chính phủ điện tử và đạt được nhiều kết quả tích cực như: Hạ tầng kỹ thuật cơ bản đáp ứng được nhu cầu; cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm đã hoàn thành, đi vào khai thác, sử dụng hiệu quả; việc trao đổi văn bản trên hệ thống văn bản điện tử đã đi vào nền nếp; nhiều dịch vụ công trực tuyến cấp độ 3, 4 đã được triển khai; xếp hạng quốc gia về Chính phủ điện tử được cải thiện rõ rệt[5]…

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được nêu trên, sau 17 năm thi hành, Luật Công nghệ thông tin năm 2006 đã bộc lộ nhiều vướng mắc, bất cập cần được sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện. Cụ thể như sau:

Một là, trong công tác quản lý và thúc đẩy hoạt động công nghiệp công nghệ thông tin thời gian qua đã bộc lộ một số vướng mắc do thiếu đồng bộ trong khái niệm, phân loại các loại hình công nghiệp công nghệ thông tin, đặc biệt là những năm gần đây với sự xuất hiện của công nghệ số chưa được định nghĩa trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật nên khó khăn trong công tác quản lý và thúc đẩy công nghệ số phát triển.

Hai là, các quy định pháp luật liên quan đến công nghiệp công nghệ thông tin còn thiếu, gây khó khăn cho việc phát triển và quản lý các sản phẩm, dịch vụ mới liên quan tới công nghệ số. Các doanh nghiệp nghiên cứu, phát triển các sản phẩm, dịch vụ công nghệ số mới gặp nhiều khó khăn do chưa được đặt tên, phân loại, chưa có chính sách hỗ trợ cũng như chưa có chế tài áp dụng. Mặc dù, chủ trương thúc đẩy sáng tạo, thiết kế, sản xuất, tích hợp, thử nghiệm ứng dụng các sản phẩm, dịch vụ công nghệ số trong nước đã được Bộ Chính trị, Chính phủ quán triệt, chỉ đạo trong các nghị quyết. Tuy nhiên, do chưa được cụ thể hóa trong các văn bản quy phạm pháp luật nên việc thử nghiệm các sản phẩm, dịch vụ công nghệ số mới và đưa sản phẩm ra thị trường của doanh nghiệp có thể sẽ không thực hiện được.

Ba là, mặc dù, trong Luật Công nghệ thông tin năm 2006 đã đưa ra các chính sách về nghiên cứu, phát triển nguồn nhân lực, khu công nghệ thông tin tập trung, đầu tư cho công nghệ thông tin, phát triển thị trường… Tuy nhiên, qua thực tiễn triển khai, có thể thấy, các biện pháp đưa ra trong Luật còn khá chung chung, nhiều nội dung không còn phù hợp với sự phát triển thực tế hiện nay như[6]: (i) Chính sách ưu đãi đầu tư quy định tại Điều 48 chưa thực sự cụ thể, chưa thể hiện được định hướng trọng tâm trong ưu tiên phát triển; (ii) Chính sách phát triển nhân lực công nghệ thông tin quy định từ Điều 42 đến Điều 46 khá chung chung, quy định trách nhiệm giữa các bộ, ngành trong đào tạo và cấp chứng chỉ chưa rõ ràng, gây khó khăn cho công tác quản lý, triển khai. Luật cũng thiếu các chính sách nhằm thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao, chính sách gắn việc đào tạo lý thuyết với thực tiễn…; (iii) Chính sách hỗ trợ phát triển thị trường chưa rõ ràng, cụ thể. Tại khoản 2 Điều 49 quy định cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành quy định và tổ chức thực hiện các hoạt động xúc tiến thương mại, quảng bá, tiếp thị hình ảnh công nghiệp công nghệ thông tin… tuy nhiên không kèm theo các quy định về trách nhiệm, nguồn lực cụ thể để triển khai.

Bốn là, Luật Công nghệ thông tin năm 2006 thiếu những quy định liên quan đến mô hình phát triển mới của khu công nghệ thông tin tập trung như mô hình chuỗi công viên phần mềm, hay mô hình liên kết, hợp tác trên môi trường số, không cùng một ranh giới địa lý; thiếu quy trình thực hiện dự án đầu tư khu công nghệ thông tin tập trung; chính sách về giao đất, cho thuê đất chưa rõ ràng trong Luật Công nghệ thông tin năm 2006 cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành.

Năm là, vẫn còn khoảng trống mà Luật Công nghệ thông tin năm 2006 chưa thể bao trùm được, đặc biệt là các quy định pháp luật về phát triển dữ liệu số, bao gồm: Tiếp cận dữ liệu số; thu thập, sử dụng và kinh doanh dữ liệu số; chính sách ưu tiên phát triển dữ liệu số; sử dụng, khai thác dữ liệu số trong ngành công nghiệp công nghệ số…

Sáu là, thực tiễn về ứng dụng công nghệ thông tin giữa các cơ quan nhà nước với nhau và giữa cơ quan nhà nước với tổ chức, doanh nghiệp, người dân vẫn còn mang tính chất hình thức. Việc kết nối, chia sẻ, mở dữ liệu của các cơ quan nhà nước còn rất hạn chế; các dịch vụ công trực tuyến vẫn do cơ quan nhà nước cung cấp là chủ yếu.

Bảy là, nhiều hoạt động của các cơ quan nhà nước vẫn chưa được đưa lên môi trường số. Các cơ quan chuyên trách công nghệ thông tin chưa phát huy hết vai trò tổ chức, triển khai ứng dụng công nghệ thông tin. Cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan nhà nước vẫn thiếu năng lực, kỹ năng số để nhanh chóng triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong giai đoạn chuyển đổi số. Tại nhiều địa phương, chưa có cán bộ chuyên trách công nghệ thông tin mà chủ yếu là kiêm nhiệm gây khó khăn cho quá trình triển khai. Việc ứng dụng công nghệ thông tin ở một số cơ quan nhà nước chưa thực sự gắn kết chặt chẽ với cải cách hành chính. Các thủ tục hành chính vẫn thiếu chuẩn hóa, thiếu liên thông, chưa tối ưu theo công nghệ số.

Trong quá trình thực thi Luật Công nghệ thông tin năm 2006, ngoài những vướng mắc, bất cập xuất phát từ các quy định của Luật nêu trên thì còn những vướng mắc liên quan đến nguồn nhân lực thực hiện công tác quản lý nhà nước về công nghệ thông tin. Theo đó, nguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc là do: Vai trò của người đứng đầu cơ quan, tổ chức trong công tác ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin chưa thực sự rõ nét; thiếu nhân lực có trình độ kỹ thuật cao cũng như kỹ năng quản lý tốt về công nghệ thông tin ở các cấp trung ương và địa phương đã làm giảm hiệu quả, chất lượng quản lý nhà nước về công nghệ thông tin; cơ quan chuyên trách về công nghệ thông tin tại một số bộ, ngành chưa phát huy được hiệu quả chức năng tham mưu, xây dựng, hướng dẫn kế hoạch về ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin; thiếu đồng bộ, chưa thống nhất trong tổ chức thực thi quản lý nhà nước về lĩnh vực công nghệ thông tin; nhận thức về an toàn thông tin tại các đơn vị chưa cao, bộ phận chuyên trách về an toàn thông tin còn thiếu. Năng lực, trình độ kỹ thuật của cán bộ phụ trách an toàn thông tin còn hạn chế và chưa được đào tạo bài bản, nâng cao kỹ năng thường xuyên gây ảnh hưởng đến việc quản lý vận hành và duy trì các hệ thống thông tin tại đơn vị.

Ngoài ra, các bộ, ngành và địa phương cũng chưa thực sự coi trọng việc cấp kinh phí cho hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin. Cơ cấu phân bổ kinh phí chưa thực sự hợp lý. Kinh phí đầu tư cho công nghệ thông tin thời gian qua chủ yếu tập trung cho hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin. Kính phí cho ngành công nghiệp công nghệ thông tin, một ngành có những đóng góp trực tiếp vào GDP cả nước còn rất thấp. Vì vậy, vai trò của Nhà nước trong việc định hướng phát triển ngành công nghiệp công nghệ thông tin chưa rõ nét, chủ yếu dựa vào hoạt động tự phát của doanh nghiệp. Mặc dù, Đảng và Nhà nước có nhiều chính sách nêu cao tầm quan trọng của ngành công nghiệp công nghệ thông tin nhưng đầu tư cho ngành này so với các lĩnh vực công nghiệp khác còn chưa tương xứng với vai trò và tiềm năng.

3. Một số kiến nghị hoàn thiện

Để nâng cao hơn nữa vai trò của Luật Công nghệ thông tin trong bối cảnh khoa học - công nghệ phát triển như hiện nay, chúng ta cần tiến hành đồng bộ một số giải pháp sau đây:

Thứ nhất, nâng cao nhận thức của các cấp, các bộ, ngành trung ương và địa phương về vai trò, tầm quan trọng của công nghệ thông tin đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước. Đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin. Đề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu các bộ, ngành; cũng như từng cán bộ, công chức, viên chức trong việc ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin. Mỗi cán bộ, công chức, viên chức cần gương mẫu, đi đầu trong việc ứng dụng công nghệ thông tin. Gắn với việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị với việc ứng dụng công nghệ thông tin trong chỉ đạo, điều hành và thực hiện các hoạt động chuyên môn nghiệp vụ.

Thứ hai, Bộ Thông tin và Truyền thông nghiên cứu, cân nhắc xây dựng Đề án sửa đổi toàn diện Luật Công nghệ thông tin năm 2006 để phù hợp hơn với sự phát triển nhanh chóng của ngành công nghệ thông tin cùng với nhiều hình thái phát triển mới trong lĩnh vực công nghệ thông tin; đồng thời có sự thống nhất, đồng bộ với nhiều văn bản luật mới được ban hành, sửa đổi, bổ sung như: Luật Viễn thông, Luật Giao dịch điện tử… làm cơ sở, hành lang pháp lý, tạo điều kiện cho ngành công nghệ thông tin phát triển, góp phần đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.

Thứ ba, tiếp tục rà soát, tháo gỡ các rào cản trong các thể chế, chính sách và pháp luật để đẩy mạnh đầu tư phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin cho chuyển đổi số, gắn liền với phát triển kinh tế số. Hoàn thiện cơ chế giám sát, quản lý và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư đối với từng dự án phát triển kết cấu hạ tầng. Xây dựng thể chế cho việc hình thành, kết nối, chia sẻ và thương mại hóa các cơ sở dữ liệu quốc gia. Xây dựng cơ chế thu phí khai thác dữ liệu để củng cố và mở rộng dữ liệu của cơ quan nhà nước; hoàn thiện cơ chế phối hợp, hợp tác giữa Nhà nước và doanh nghiệp để xây dựng dữ liệu. Xây dựng, hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan về bảo mật dữ liệu người dùng, an ninh, an toàn thông tin nhằm tạo môi trường giao dịch số an toàn, tin cậy. Hoàn thiện cơ chế, chính sách về tài chính, đầu tư đối với doanh nghiệp đầu tư, phát triển, ứng dụng kết cấu hạ tầng công nghệ thông tin cho chuyển đổi số[7].

Thứ tư, cân nhắc, xem xét việc tách phần “Phát triển công nghệ thông tin” ở Chương III để điều chỉnh bởi luật riêng do hiện tại, Bộ Thông tin và Truyền thông đang dự thảo xây dựng Luật Công nghiệp công nghệ số để trình Quốc hội cho ý kiến xem xét, thông qua vào Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh năm 2025.

Thứ năm, cần ưu tiên hoàn thiện, nâng cao chính sách phát triển nguồn lực công nghệ thông tin quy định cụ thể trong Luật Công nghệ thông tin sửa đổi hoặc các văn bản hướng dẫn thi hành. Theo đó, cần đưa ra các cơ chế ưu đãi, chế độ đặc thù nhằm thu hút chuyên gia công nghệ giỏi; nghiên cứu, đề xuất việc áp dụng mức lương, phụ cấp hợp lý đối với đội ngũ chuyên trách công nghệ thông tin nhằm tạo động lực cho nhân lực chất lượng cao yên tâm và nỗ lực cống hiến. Đưa ra cơ chế, chính sách đột phá tăng cường nguồn lực tài chính cho đào tạo nhân lực công nghệ thông tin. Đồng thời, cần đa dạng hóa huy động các nguồn vốn cho đầu tư nhân lực công nghệ thông tin, như: (i) Trực tiếp đầu tư xây dựng cơ sở giáo dục, đào tạo công nghệ thông tin; (ii) Hình thành các quỹ hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin; (iii) Tăng cường đàm phán, vận động và xúc tiến đầu tư để thu hút các nguồn vốn từ nước ngoài.

Công nghệ thông tin được xác định là một phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi số, nhằm cung cấp các công nghệ cơ bản, góp phần thay đổi toàn diện cả về tổ chức, quy trình kinh doanh, văn hóa doanh nghiệp đến sự tham gia của con người trong quá trình thực hiện. Vì vậy, phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin trong chuyển đổi số là hết sức cần thiết trong bối cảnh của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Tuy nhiên, để phát triển ngành công nghệ thông tin thì việc xây dựng hành lang pháp lý vững chắc là việc làm vô cùng cấp bách hiện nay. Luật Công nghệ thông tin sửa đổi và các văn bản hướng dẫn thi hành sẽ giúp đẩy nhanh việc ứng dụng công nghệ thông tin ở Việt Nam chuyển sang mô hình phục vụ lấy người dân, doanh nghiệp là trung tâm, hướng tới nền hành chính hiện đại, minh bạch góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước, thúc đẩy phát triển mạnh mẽ kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng của đất nước./.

TS. Hà Thị Hằng

Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội

[1]. Đề cương giới thiệu Luật Công nghệ thông tin, Vụ Phổ biến giáo dục pháp luật, Bộ Tư pháp.

[2]. Tham khảo 03 văn bản hợp nhất: Văn bản hợp nhất số 10/VBHN-VPQH ngày 12/12/2017 của Văn phòng Quốc hội; Văn bản hợp nhất số 27/VBHN-VPQH ngày 02/8/2023 của Văn phòng Quốc hội.

[3]. Văn bản hợp nhất số 39/VBHN-VPQH ngày 27/12/2023 do Văn phòng Quốc hội ban hành hợp nhất Luật Công nghệ thông tin.

[4]. Đề nghị xây dựng Luật công nghiệp công nghệ số với 10 nhóm chính sách lớn, đăng tải trên trang web: https://vneconomy.vn/de-nghi-xay-dung-luat-cong-nghiep-cong-nghe-so-voi-10-nhom-chinh-sach-lon.htm.

[5]. Phân tích, đánh giá thực trạng thi hành Luật Công nghệ thông tin, đăng tải trên trang web: https://cspl.mic.gov.vn/Pages/TinTuc/tinchitiet.aspx?tintucid=138560.

[6]. Phân tích một số bất cập của Luật Công nghệ thông tin, đăng tải trên trang web: https://cspl.mic.gov.vn/Pages/TinTuc/tinchitiet.aspx?tintucid=138561.

[7]. TS. Võ Thành Phong và TS. Ngô Đình Sáng, Phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong chuyển đổi số, đăng tải trên trang web: https://www.tuyengiao.vn/phat-trien-va-ung-dung-cong-nghe-thong-tin-trong-chuyen-doi-so-150022.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 405), tháng 5/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: