Thứ tư 26/08/2026 23:52
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Luật về phòng, chống tài trợ tài chính cho khủng bố của Thái Lan và kinh nghiệm cho Việt Nam

hời gian qua, Việt Nam cũng đã ban hành nhiều văn bản pháp luật về phòng, chống khủng bố, tích cực tham gia các điều ước quốc tế của Liên Hợp quốc về chống khủng bố và là thành viên của Công ước ASEAN về chống khủng bố.

Thời gian qua, Việt Nam cũng đã ban hành nhiều văn bản pháp luật về phòng, chống khủng bố, tích cực tham gia các điều ước quốc tế của Liên Hợp quốc về chống khủng bố và là thành viên của Công ước ASEAN về chống khủng bố. Cùng với việc tăng cường hợp tác đa phương, Việt Nam đã ký kết nhiều Hiệp định song phương với các nước về tương trợ tư pháp hình sự, dẫn độ và hợp tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, trong đó có khủng bố quốc tế. Ở Thái Lan, Quốc hội Thái Lan đã thông qua Luật Phòng, chống tài trợ tài chính cho khủng bố, Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 02/02/2013. Bài viết này giới thiệu về Luật Phòng, chống tài trợ tài chính cho khủng bố của Thái Lan từ đó rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này./.

1. Một số nội dung của Luật Phòng, chống tài trợ tài chính cho khủng bố của Thái Lan

Trong những năm qua, tình hình thế giới, khu vực có nhiều diễn biến phức tạp; vấn đề xung đột sắc tộc, tôn giáo, hoạt động can thiệp lật đổ, khủng bố đe dọa nghiêm trọng đến độc lập, chủ quyền, an ninh chính trị của nhiều quốc gia, dân tộc. Hoạt động khủng bố, bắt cóc và giết hại nhiều con tin ngày càng gia tăng và lan rộng ra nhiều quốc gia trên thế giới. Khu vực Đông Nam Á là trung tâm Hồi giáo lớn thứ hai thế giới (sau Trung Đông) với gần 300 triệu tín đồ Hồi giáo, đã và đang trở thành “vành đai khủng bố” và có thể là “trung tâm đầu não” mới của tổ chức “Nhà nước Hồi giáo tự xưng” (IS).

Thái Lan là một quốc gia nằm trong khu vực Đông Nam Á, thường xuyên xảy ra khủng bố, bạo loạn tại 03 tỉnh miền Nam có đường biên giới giáp Malaysia, đó là các tỉnh Yala, Pattani và Narathiwat. Các vụ khủng bố chủ yếu do các nhóm Hồi giáo cực đoan, đối tượng quá khích theo chủ nghĩa ly khai muốn đưa ra yêu sách với chính phủ Thái Lan đòi chia tách 03 tỉnh miền Nam nước này thành lãnh thổ tự trị. Các cuộc tấn công khủng bố, xung đột xảy ra giữa các phiến quân chống lại lực lượng quân đội, cảnh sát đã đi đến con số báo động; kể từ năm 2012 đến năm 2017, tổng số người bị chết ước tính lên đến gần 2.500 người, số người bị thương là gần 5.000 người. Trước diễn biến trên, Chính phủ Thái Lan đã nhiều lần ban bố tình trạng khẩn cấp tại 03 tỉnh biên giới miền Nam, đồng thời ban hành nhiều đạo luật liên quan để ổn định tình hình. Tội khủng bố đã được đưa vào Bộ luật Hình sự của Thái Lan kể từ năm 2003 và là cơ sở pháp lý quan trọng nhằm răn đe các đối tượng có hành vi khủng bố chống chính quyền. Sau hơn 10 năm đưa tội khủng bố vào trong Bộ luật Hình sự, Thái Lan gặp phải nhiều khó khăn trong việc ngăn chặn nguồn tiền tài trợ cho khủng bố quốc tế, ngoài ra quốc gia này cũng là nơi trung chuyển tiền và là nơi rửa tiền lý tưởng của các tổ chức khủng bố quốc tế. Để đối phó với nguy cơ trên, năm 2013, Thái Lan đã ban hành Luật Phòng, chống tài trợ tài chính cho khủng bố nhằm thắt chặt các quy định về lưu thông tiền tệ có liên quan tới khủng bố, góp phần hoàn thiện pháp luật về phòng chống khủng bố của quốc gia này.

Luật Phòng, chống tài trợ tài chính cho khủng bố của Thái Lan được Quốc hội Thái Lan thông qua ngày 01/02/2013, có hiệu lực từ ngày 02/02/2013. Luật không chia thành các chương mà quy định thành 17 điều, tập trung vào các nội dung chính như sau:

Tại Điều 3 của Luật có giải thích các từ ngữ liên quan như “tài sản”, “khủng bố”, “đối tượng báo cáo”, “danh sách đen”, “phong tỏa tài sản”… Trong đó, thuật ngữ “khủng bố” được định nghĩa là các hành vi phạm tội về khủng bố được quy định trong Bộ luật Hình sự Thái Lan hoặc các hành vi theo các công ước quốc tế về phòng, chống khủng bố mà Thái Lan là thành viên, bất kể là phạm tội trong hay ngoài lãnh thổ Thái Lan. Đó là các hành vi xâm hại tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, tự do thân thể của cá nhân hoặc xâm hại tài sản của nhà nước, tổ chức… nhằm mục đích bắt buộc chính quyền, tổ chức quốc tế làm theo hoặc không làm theo yêu cầu nào đó gây ra hậu quả nghiêm trọng. Thuật ngữ “danh sách đen” được định nghĩa là cá nhân, tổ chức, pháp nhân hoặc tổ chức thương mại mà Hội đồng An ninh Liên Hợp Quốc quy định cụ thể liên quan đến hoạt động khủng bố và tài trợ khủng bố hoặc cá nhân, tổ chức, pháp nhân bị Tòa án Thái Lan công bố nằm trong danh sách này.

Tại Điều 4, Điều 5 và Điều 6 quy định về quy trình xử lý tài sản có liên quan đến hoạt động tài trợ khủng bố hoặc bị nghi ngờ có tài trợ cho hoạt động khủng bố. Điều 7 và Điều 8 quy định về biện pháp xử lý đối với tài sản bị phong tỏa trong các trường hợp phát hiện có dấu hiệu tài trợ cho khủng bố. Từ Điều 9 đến Điều 11 quy định về các trường hợp được phép khiếu nại, kháng cáo lên Tòa án khi chứng minh được nguồn gốc tài sản hoặc không cố ý tài trợ cho khủng bố.

Về trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong phòng, chống tài trợ tài chính cho khủng bố, cụ thể ở đây là Văn phòng Ủy ban phòng, chống rửa tiền quốc gia (được quy định trong Luật Phòng, chống rửa tiền Thái Lan) quy định cụ thể tại Điều 13. Trong đó, Văn phòng Ủy ban phòng, chống rửa tiền quốc gia có nhiệm vụ tư vấn, hướng dẫn cho các cơ quan có liên quan về quy trình, cách thức tiến hành theo trình tự của Luật; theo dõi, đánh giá, kiểm tra, giám sát hoặc tiến hành truy tố trước pháp luật các hành vi không thực hiện theo quy định của Luật. Văn phòng trên có nhiệm vụ tiếp nhận các đơn tố giác, báo cáo giải trình liên quan đến tài trợ khủng bố theo luật định. Thực hiện nhiệm vụ thống kê, tập hợp các tin tức hoặc bằng chứng phạm tội để tiến hành tịch thu, di lý, hoặc bổ sung công quỹ tài sản dùng cho hoạt động khủng bố theo Luật Phòng, chống tài trợ tài chính cho khủng bố hoặc các đạo luật khác có liên quan.

Ngoài việc quy định về các biện pháp phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, xử lý tổ chức, cá nhân có hành vi tài trợ khủng bố; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phòng, chống tài trợ khủng bố, thì Luật này còn quy định hình phạt đối với cá nhân, tổ chức vi phạm. Hình phạt được quy định tại các Điều 14 đến Điều 16, trong đó, cá nhân có thể bị phạt tù lên đến 10 năm và bị phạt tiền cao nhất đến một triệu bạt (hơn 700 triệu đồng). Đối với các pháp nhân, nếu làm trái quy định của Luật sẽ bị phạt tiền từ năm trăm nghìn bạt (350 triệu đồng) đến hai triệu bạt (1 tỷ 400 triệu đồng). Đây là một trong những điểm khác biệt của luật pháp Thái Lan với Việt Nam khi có nhiều đạo luật quy định hình phạt kèm theo, ngoài các hình phạt theo tội danh được quy định tại Bộ luật Hình sự. Điều 17 của Luật quy định giao cho Thủ tướng Chính phủ ban hành các văn bản dưới luật theo thẩm quyền để phối hợp với các cơ quan, đơn vị, tổ chức triển khai Luật theo đúng trình tự.

2. Một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Tại Việt Nam, Luật Phòng, chống rửa tiền quy định khung pháp lý cơ bản, cần thiết cho việc phòng, chống hành vi rửa tiền. Những biện pháp phòng ngừa hoạt động rửa tiền được thực hiện bởi các tổ chức tài chính cũng như các tổ chức kinh doanh ngành nghề phi tài chính có liên quan cũng chính là những biện pháp phòng ngừa được sử dụng để phòng, chống tài trợ cho khủng bố. Điều 34 Luật Phòng, chống khủng bố quy định: “Tổ chức tài chính, tổ chức, cá nhân kinh doanh ngành nghề phi tài chính có liên quan có nghĩa vụ áp dụng các biện pháp nhận biết, cập nhật thông tin khách hàng; khi có nghi ngờ khách hàng hoặc giao dịch của khách hàng liên quan đến tài trợ khủng bố hoặc khách hàng nằm trong danh sách đen thì báo cáo cho lực lượng chống khủng bố của Bộ Công an, đơn vị chức năng thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và phải áp dụng các biện pháp tạm thời theo quy định của pháp luật về phòng, chống rửa tiền”.

Luật Phòng, chống rửa tiền quy định đối tượng báo cáo có nghĩa vụ báo cáo kịp thời cho cơ quan phòng, chống khủng bố có thẩm quyền, đồng thời, gửi báo cáo cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam khi phát hiện tổ chức, cá nhân thực hiện giao dịch nằm trong danh sách đen hoặc khi có căn cứ cho rằng, tổ chức, cá nhân khác thực hiện hành vi có liên quan đến tội phạm rửa tiền nhằm tài trợ khủng bố. Theo Luật Phòng, chống rửa tiền của Việt Nam thì danh sách đen là danh sách tổ chức, cá nhân có liên quan tới khủng bố và tài trợ khủng bố do Bộ Công an chủ trì lập theo quy định của pháp luật. Còn theo khoản 2 Điều 18 Nghị định số 116/2013/NĐ-CP ngày 04/10/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng, chống rửa tiền (Nghị định số 116/2013/NĐ-CP) được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 87/2019/NĐ-CP ngày 14/11/2019 của Chính phủ thì căn cứ cho rằng, tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi có liên quan đến tội phạm rửa tiền nhằm tài trợ cho khủng bố gồm: (i) Thực hiện hoặc có ý định thực hiện giao dịch liên quan tới tổ chức, cá nhân theo danh sách trong các nghị quyết liên quan của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc; (ii) Thực hiện hoặc có ý định thực hiện giao dịch liên quan tới tổ chức, cá nhân theo danh sách tổ chức, cá nhân khủng bố và tài trợ cho khủng bố do tổ chức quốc tế khác hoặc quốc gia khác trên thể giới lập ra và được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cảnh báo; (iii) Thực hiện hoặc có ý định thực hiện giao dịch liên quan tới tổ chức, cá nhân đã từng bị kết án về các tội khủng bố, tài trợ cho khủng bố tại Việt Nam; (iv) Thực hiện hoặc có ý định thực hiện giao dịch liên quan tới tổ chức, cá nhân khủng bố hoặc tài trợ khủng bố mà các đối tượng báo cáo biết được từ các nguồn thông tin khác.

Như vậy, pháp luật Việt Nam đã có những quy định nhằm chống tài trợ khủng bố và có những điểm tương đồng với nhau trong việc xác định trách nhiệm của các tổ chức tài chính, tổ chức, cá nhân kinh doanh ngành nghề phi tài chính có liên quan. Nếu phát hiện giao dịch có liên quan đến tổ chức, cá nhân nằm trong danh sách tổ chức, cá nhân liên quan đến khủng bố, tài trợ cho khủng bố do Bộ Công an xác lập, tổ chức tài chính và tổ chức kinh doanh ngành nghề phi tài chính có liên quan phải ngay lập tức tạm ngừng lưu thông, phong tỏa tiền, tài sản liên quan và báo cáo Giám đốc Công an cấp tỉnh (theo quy định tại khoản 1 Điều 8 Nghị định số 22/2013/NĐ-CP ngày 11/10/2013 của Chính phủ quy định việc tạm ngừng lưu thông, phong tỏa, niêm phong, xử lý tiền, tài sản liên quan đến khủng bố, tài trợ khủng bố; việc xác lập danh sách tổ chức, cá nhân liên quan đến khủng bố, tào trợ cho khủng bố). Ngược lại, nếu phát hiện giao dịch có liên quan đến tổ chức, cá nhân nằm trong danh sách tổ chức, cá nhân liên quan đến khủng bố, tài trợ khủng bố nhưng chưa được Bộ Công an xác lập, nếu biết được, thì tổ chức tài chính, tổ chức kinh doanh ngành nghề phi tài chính có liên quan phải thực hiện biện pháp trì hoãn giao dịch trong vòng 03 ngày và báo cáo ngay cho lực lượng chống khủng bố thuộc Bộ Công an (theo quy định tại Điều 22 Nghị định số 116/2013/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 87/2019/NĐ-CP ngày 14/11/2019 của Chính phủ). Cũng theo quy định tại Điều 22 Nghị định số 116/2013/NĐ-CP, trì hoãn giao dịch chính là hình thức phong toả tạm thời trước khi có quyết định chính thức của cơ quan có thẩm quyền.

Qua việc tìm hiểu các vấn đề cơ bản của Luật Phòng, chống tài trợ tài chính cho khủng bố của Thái Lan và pháp luật của Việt Nam liên quan, chúng ta có thể thấy rằng, nhiều nội dung trong Luật này có những nét tương đồng với Luật Phòng, chống rửa tiền của Việt Nam. Tuy nhiên, ở Việt Nam, thì việc phòng, chống hành vi rửa tiền nhằm tài trợ khủng bố được thực hiện theo quy định của Luật Phòng, chống rửa tiền, quy định của Bộ luật Hình sự và pháp luật về phòng, chống khủng bố chứ không quy định thành một đạo luật riêng như Thái Lan.

Việt Nam chưa để xảy ra khủng bố quốc tế, chưa phát hiện hoạt động rửa tiền và tài trợ khủng bố, tuy nhiên, thể hiện quyết tâm phòng, chống khủng bố, Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp luật về phòng, chống khủng bố. Tích cực tham gia các điều ước quốc tế của Liên Hợp Quốc về chống khủng bố và là thành viên của Công ước ASEAN về chống khủng bố. Cùng với việc tăng cường hợp tác đa phương, Việt Nam đã ký kết nhiều hiệp định song phương với các nước về tương trợ tư pháp hình sự, dẫn độ và hợp tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, trong đó có khủng bố quốc tế. Chính phủ Việt Nam cũng đã thành lập Ban Chỉ đạo quốc gia phòng, chống khủng bố. Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Nhóm Châu Á - Thái Bình Dương về chống rửa tiền vào năm 2007, đã tích cực thực hiện nghĩa vụ của thành viên và có nhiều nỗ lực nhằm thực hiện hiệu quả công tác phòng, chống rửa tiền, chống tài trợ khủng bố, qua đó thể hiện cam kết của Chính phủ nhằm góp phần vào nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế về phòng, chống rửa tiền, chống tài trợ khủng bố.

Để cuộc đấu tranh phòng, chống rửa tiền và chống tài trợ khủng bố đi vào chiều sâu, có hiệu quả thiết thực, Việt Nam cần tăng cường hơn nữa quan hệ hợp tác giữa cơ quan thực thi pháp luật các nước để kiểm soát, ngăn chặn các nguồn tài trợ và các trang mạng Internet truyền bá tư tưởng khủng bố. Phối hợp chặt chẽ trong quản lý xuất cảnh, nhập cảnh, quản lý và xử lý các vấn đề phát sinh liên quan đến di trú; bảo đảm an ninh cộng đồng người nước ngoài trên lãnh thổ của nhau. Bên cạnh đó, cần tiếp tục xây dựng, bổ sung, hoàn thiện cơ chế hợp tác song phương và đa phương về đấu tranh phòng, chống khủng bố; thường xuyên tổ chức các diễn đàn quốc tế và khu vực để cập nhật tình hình, chia sẻ thông tin, trao đổi kinh nghiệm về chống rửa tiền và tài trợ cho khủng bố, để đề ra các giải pháp hữu hiệu nhằm phát hiện, đấu tranh có hiệu quả với loại tội phạm nguy hiểm này.

ThS. Phạm Đức Huyên
ThS. Ninh Khánh Duy
Học viện Cảnh sát nhân dân

Tài liệu tham khảo:

1. Bộ luật Hình sự Thái Lan năm 1956 sửa đổi, bổ sung năm 2017, Băng Cốc, năm 2017.

2. Luật Phòng, chống tài trợ tài chính khủng bố Thái Lan năm 2013.

3. Luật Phòng, chống khủng bố năm 2013 (Luật số 28/2013/QH13).

4. Luật Phòng, chống rửa tiền năm 2012 (Luật số 07/2012/QH13).

5. Nghị định 116/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng, chống rửa tiền.

6. Nghị định số 22/2013/NĐ-CP ngày 11/10/2013 của Chính phủ quy định việc tạm ngừng lưu thông, phong tỏa, niêm phong, xử lý tiền, tài sản liên quan đến khủng bố, tài trợ khủng bố.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: