Chủ nhật 19/04/2026 15:42
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Mối quan hệ giữa một số chủ thể tranh tụng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm

Mối quan hệ giữa Hội đồng xét xử (HĐXX) và Kiểm sát viên (KSV) hiện thân nó biểu hiện mối quan hệ giữa cơ quan xét xử và cơ quan kiểm sát trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mỗi ngành. HĐXX do Tòa án lập ra để xét xử vụ án hình sự, còn KSV là người đại diện cho Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động xét xử tại phiên tòa.

1. Mối quan hệ giữa Hội đồng xét xử và Kiểm sát viên

Cụ thể về mối quan hệ giữa HĐXX và KSV biểu hiện ở hai bình diện là mối quan hệ phối hợp và mối quan hệ chế ước, cụ thể:

1.1. Mối quan hệ phối hợp

Thứ nhất, quan hệ phối hợp giữa HĐXX và KSV xuất phát từ mục đích, ý nghĩa của hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan tiến hành tố tụng. Mà cội rễ sâu xa của nó là mối quan hệ hữu cơ giữa chức năng xét xử và chức năng buộc tội. Không thể xét xử nếu không có sự buộc tội, hay nói cách khác ở đâu có buộc tội thì ở đó phát sinh hoạt động xét xử và bào chữa:

Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân phải có trách nhiệm phối hợp với nhau để giải quyết vụ án hình sự đúng đắn, khách quan theo luật định. Các cơ quan tiến hành tố tụng không những có trách nhiệm phối hợp với nhau mà còn phải phối hợp với các cơ quan nhà nước khác bằng những nội dung cụ thể, thiết thực theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003[1] dựa nguyên tắc xác định sự thật vụ án và nguyên tắc phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng với các cơ quan, tổ chức nhà nước. Bên cạnh đó, quan hệ phối hợp còn xuất phát từ yêu cầu phải thực hiện đúng đắn thẩm quyền của cơ quan và người tiến hành tố tụng; nhu cầu hoàn thiện pháp luật.

Một số văn bản pháp luật thể hiện mối quan hệ giữa Tòa án và Viện kiểm sát, như: Thông tư liên tịch số 01 ngày 8/12/1988 của TANDTC, VKSNDTC; Thông tư liên ngành số 01/TTLN ngày 15/10/1994 của Bộ nội vụ (nay là Bộ Công an)- VKSNDTC- TANDTC; Thông tư liên tịch số 03/2006/TTLT- BCA- VKSNDTC- TANDTC; Thông tư số 01/2008/TTLT- VKSNDTC- TANDTC-BQP- BCA… Ở cấp địa phương để giải quyết những vấn đề thực tiễn vướng mắc trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, các cơ quan tiến hành tố tụng coi trọng việc xây dựng kế hoạch liên ngành[2]. Ngoài ra, họp liên ngành tư pháp cũng là một hình thức phối hợp linh động nhằm thống nhất giải quyết những vấn đề phức tạp đặc biệt đối với những vụ án hình sự còn có nhận thức khác nhau, hoặc cần rút kinh nghiệm về thủ tục tố tụng cụ thể nào đó[3]. Những năm gần đây, thực hiện yêu cầu của cải cách tư pháp, hạn chế tình trạng án tại hồ sơ, việc họp liên ngành có chiều hướng giảm; ý thức về tính độc lập trong hoạt động tố tụng hình sự ngày càng được nâng cao rõ rệt.

Thứ hai, quan hệ trong hoạt động tố tụng giữa Toà án và Viện kiểm sát còn nhằm tìm ra nguyên nhân và điều kiện phạm tội, kiến nghị hoặc yêu cầu các cơ quan hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và phòng ngừa tội phạm.

Quan hệ phối hợp giữa HĐXX và KSV xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ tranh tụng tại phiên tòa. Một ví dụ cụ thể đó là việc phối hợp trong áp dụng các thủ tục xét xử tại phiên tòa: KSV buộc tội bằng cách xét hỏi, đưa ra chứng cứ, hoặc là KSV cùng HĐXX phải xem xét các yêu cầu, kiến nghị của bị cáo và người tham gia tố tụng khác đưa ra, hoặc thực hiện tranh luận với người bào chữa phải có sự điều khiển của chủ tọa phiên tòa; HĐXX công bố tài liệu, vật chứng theo yêu cầu của KSV; xem xét vật chứng và nơi xảy ra tội phạm do HĐXX cùng KSV tiến hành… Hoạt động buộc tội hỗ trợ đắc lực cho chức năng xét xử, và ngược lại hoạt động xét xử tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động buộc tội.

1.2. Mối quan hệ chế ước

Từ điển Bách khoa Việt Nam nêu rõ: “Chế ước là hạn chế, quy định trong những điều kiện nhất định”[4]. “Khái niệm chế ước có thể được hiểu như là sự tác động qua lại giữa các bên theo hướng khống chế lẫn nhau, kiềm chế sự vận động của nhau”[5]. Ở góc độ hoạt động tố tụng hình sự, có thể hiểu chế ước là sự tác động qua lại giữa các hành vi tố tụng có chủ ý tạo ra mục đích rõ rệt của các chủ thể nhằm kiểm soát lẫn nhau, cơ bản là nhằm tuân thủ pháp luật, tránh lạm quyền.

Cụ thể hơn về mối quan hệ chế ước tại phiên tranh tụng được biểu hiện: KSV thực hiện việc buộc tội, nhưng phán quyết lại thuộc về HĐXX về tội trạng và mức hình phạt… Ngược lại HĐXX phán quyết phải đảm bảo đúng yêu cầu, giới hạn của xét xử, dựa trên chứng cứ khách quan được thu thập, và được đưa ra tranh tụng công khai trước tòa. Cũng có thể thấy KSV ngoài nhiệm vụ thực hành quyền công tố tại tòa, còn có chức năng giám sát việc tuân thủ pháp luật của HĐXX tại phiên toà. Trong quá trình xét xử, KSV có quyền đề nghị HĐXX triệu tập thêm người làm chứng, thay đổi thành viên HĐXX, yêu cầu HĐXX thực hiện đúng, đầy đủ các thủ tục xét xử tại tòa (như yêu cầu trở lại việc xét hỏi nếu có căn cứ...). Quan hệ chế ước giữa HĐXX và KSV phải trên cơ sở chức năng tố tụng của mỗi cơ quan, tuy nhiên, phải phù hợp và hỗ trợ đắc lực cho nguyên tắc tranh tụng, như nhận định: “Ở giai đoạn xét xử, tuy toà án (hoặc HĐXX) là cơ quan giữ vai trò chỉ đạo việc xét xử, là cơ quan quyết định quá trình xét xử, nhưng Viện kiểm sát và Toà án lại hoàn toàn độc lập với nhau. Mỗi cơ quan tự chịu trách nhiệm về công việc của mình. Toà án không làm thay hay can thiệp vào công việc của Viện kiểm sát (Kiểm sát viên) và ngược lại, VKS cũng không can thiệp vào công việc xét xử của Toà án, mặc dù Viện kiểm sát có quyền và trách nhiệm kiểm sát hoạt động xét xử của Toà án”[6].

Phân tích và dẫn chứng ở trên cho thấy: Trong quan hệ phối hợp cơ bản là để giải quyết những vướng mắc, bất cập trong hoạt động tố tụng hình sự. Trong quan hệ chế ước cơ bản là nhằm tránh lạm quyền trong thực hiện quyền năng tố tụng đối với Toà án và Viện kiểm sát. Trong xu thế cải cách tư pháp hiện nay, thiết nghĩ cần tiếp tục coi trọng quan hệ giữa HĐXX và KSV nói riêng, Tòa án và Viện kiểm sát nói chung để nhằm tháo gỡ vướng mắc, đạt được mục đích tố tụng và tránh lạm quyền. Tuy nhiên, cần xây dựng mối quan hệ đó theo hướng phải bảo đảm tính độc lập, thực hiện đúng đắn chức năng cơ bản của tố tụng và tăng cường hoạt động tranh tụng tại phiên xét xử sơ thẩm. Đặc biệt là ở quan hệ phối hợp cần tránh việc bao biện, thiện vị lẫn nhau giữa HĐXX và KSV, cần nhận thức và hành động đúng đắn là phối hợp nhưng không được tùy tiện làm trái thủ tục tố tụng, thẩm quyền tố tụng của ai thì người đó làm, luật quy định đến đâu thì làm đến đó và phải chịu trách nhiệm cá nhân nếu để xảy ra vi phạm.

2. Mối quan hệ giữa Kiểm sát viên và Hội đồng xét xử đối với người bào chữa

Tính chất của hoạt động tố tụng hình sự, có tính đa chủ thể, đòi hỏi phải có sự tham gia từ phía cơ quan quyền lực công và cơ quan chuyên môn ở từng công đoạn giải quyết vụ án hình sự. Đề cập ở góc độ hẹp, KSV là người đại diện cho Viện kiểm sát thực hiện chức năng buộc tội, còn HĐXX đại diện cho Tòa án thực hiện chức năng xét xử, là các chủ thể đại diện cho quyền lực công; còn người bào chữa hoạt động mang tính chất nghề nghiệp, không nhân danh quyền lực công. Mối quan hệ giữa các chủ thể đó trong tố tụng hình sự được biểu hiện:

2.1. Mối quan hệ giữa KSV và người bào chữa là quan hệ đối tụng

Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, pháp luật quy định cho người bào chữa các quyền năng tố tụng có tính độc lập so với KSV, đó là, họ có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, bao gồm cả KSV, vì người bào chữa cho rằng nếu để KSV tham gia phiên tòa vụ án sẽ không khách quan, gây bất lợi cho họ; người bào chữa đề nghị triệu tập thêm người làm chứng và đưa ra các yêu cầu, kiến nghị khác, ví dụ như đưa ra chứng cứ để HĐXX xem xét mà không phụ thuộc vào KSV có chấp nhận hay không.

Trong phần thủ tục xét hỏi, KSV và người bào chữa đều được tham gia xét hỏi liên quan đến việc buộc tội và bào chữa đối với bị cáo và người tham gia tố tụng khác; đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi thêm những tình tiết cần làm sáng tỏ trong vụ án, trình bày nhận xét của mình về chứng cứ của vụ án được đưa ra xem xét tại phiên tòa… Ở phần tranh luận, nếu như KSV luận tội và bảo vệ quan điểm truy tố, thì người bào chữa được đưa ra lập luận, lí lẽ phản bác để bảo vệ lợi ích cho bị cáo, và KSV phải đối đáp lại lời bào chữa. Đó là những hoạt động mang tính chất hiển nhiên do luật định không phụ thuộc vào ý chí của Kiểm sát viên. Cuộc tranh luận tại phiên tòa giữa một bên buộc tội và một bên bào chữa theo đúng nghĩa là bình đẳng và HĐXX không được can thiệp, không được hạn chế về mặt thời gian. Nó có tính gay gắt, tranh đấu liên tục. Là lúc chức năng buộc tội và chức năng bào chữa bộc lộ rõ nhất. Do đó nó có tính đối tụng rất cao.

2.2. Mối quan hệ giữa Hội đồng xét xử và người bào chữa là quan hệ chấp hành sự điều hành

Xuất phát từ yếu tố độc lập trong hoạt động xét xử của thẩm phán và hội thẩm nhân dân, do đó mối quan hệ giữa HĐXX và người bào chữa là quan hệ chấp hành sự điều hành. Biểu hiện cụ thể, đó là hoạt động tố tụng hình sự của người bào chữa mang tính phục tùng HĐXX, họ không được từ chối tham gia tố tụng trong trường hợp luật định. Trong quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên xét xử hình sự, người bào chữa phải phục tùng sự điều khiển của chủ tọa phiên tọa. Các yêu cầu, kiến nghị, đề xuất của họ tại phiên tranh tụng có thể không được HĐXX chấp nhận, nhưng vẫn phải chấp hành. Ví dụ như người bào chữa dù có quyền xét hỏi, tranh luận nhưng nếu việc này xảy ra lan man, không liên quan đến vụ án thì bị chủ tọa phiên tòa ngắt lời; hoặc như họ yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng, yêu cầu hoãn phiên tòa, trả hồ sơ điều tra bổ sung nhưng không được HĐXX chấp nhận. Lý do của sự phục tùng của người bào chữa đối với HĐXX đề cập trên là xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ tố tụng riêng của các bên, đòi hỏi phải bảo đảm những mệnh lệnh, quyền hạn mang tính chất cưỡng chế trong tố tụng hình sự không thể chỉ trông chờ vào sự tự giác của cá nhân hay tổ chức nào khác.

Trong giai đoạn cải cách tư pháp hiện nay, mối quan hệ giữa KSV và HĐXX với người bào chữa trong tố tụng hình sự cần được xây dựng theo hướng mở rộng hoạt động của người bào chữa, nâng cao vị thế của họ tại phiên tòa, nhằm đảm bảo việc xét xử theo nguyên tắc tranh tụng; đồng thời cần tạo tạo ra các cơ sở pháp lý đồng bộ để ngăn ngừa người bào chữa sa đà vào việc “mua chuộc” người tiến hành tố tụng làm ảnh hưởng đến uy tín, cũng như sự tin tưởng của người dân.

ThS. Nguyễn Ngọc Kiện

Khoa Luật, Đại học Huế


[1] Xem các nội dung phối hợp cụ thể tại Điều 26, Điều 27 BLTTHS năm 2003.

[2] Ví dụ: Kế hoạch số 01/KHLN ngày 12/7/2010 của CA- VKSND- TAND tỉnh Bình Dương về việc phối hợp tổ chức đợt tổng kiểm kê người có án phạt tù còn ở ngoài xã hội và người đang chấp hành hình phạt ở cấp xã.

[3] Ví dụ: Thông báo số 149/2009/TBLN-CAT-VKS-TA ngày 5/6/2009 về kết quả cuộc họp liên ngành Công an, Kiểm sát và Toà án tỉnh Bình Dương về việc thống nhất hướng dẫn giải quyết những vấn đề vướng mắc trong hoạt động TTHS.

[4] Trung tâm biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam (1995), Từ điển Bách khoa Việt Nam, Hà Nội , tr. 150.

[5] Đỗ Ngọc Quang (1997), Mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra với các cơ quan tham gia TTHS, Nxb chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 99.

[6] VKSNDTC (2006), Sổ tay Kiểm sát viên hình sự (tập I), Nxb Văn hoá dân tộc, Hà nội , tr. 46.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.

Theo dõi chúng tôi trên: