Chủ nhật 26/07/2026 22:06
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số bất cập về trách nhiệm cung cấp thông tin của chủ thể hợp đồng bảo hiểm nhân thọ

Trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm nói chung, doanh nghiệp bảo hiểm không bán sản phẩm hữu hình mà bán sản phẩm vô hình, sản phẩm có thể hình thành hoặc không hình thành trong tương lai. Tại thời điểm bán bảo hiểm, “sản phẩm” bảo hiểm là chưa có. Vì vậy, để đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm, pháp luật kinh doanh bảo hiểm yêu cầu doanh nghiệp phải tuân thủ nguyên tắc trung thực tuyệt đối phù hợp với đặc thù của hoạt động kinh doanh này.

Để tuân thủ nguyên tắc trung thực tuyệt đối, các chủ thể của hợp đồng bảo hiểm cần phải cung cấp thông tin cho nhau một cách chính xác. Theo đó, người mua bảo hiểm phải có trách nhiệm khai báo cho doanh nghiệp bảo hiểm biết về mọi yếu tố liên quan đến đối tượng bảo hiểm; bên bán bảo hiểm cũng phải có nghĩa vụ cung cấp những thông tin cần thiết liên quan đến dịch vụ bảo hiểm mà họ cung ứng. Trong bài viết này, tác giả phân tích sự cần thiết phải quy định về trách nhiệm cung cấp thông tin của bên mua và bên bán bảo hiểm trong hợp đồng kinh doanh bảo hiểm nhân thọ; đưa ra những bất cập và hướng thoàn thiện pháp luật về vấn đề này.

Sau khi Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), các hoạt động thương mại diễn ra hết sức phong phú và đa dạng. Trên thương trường các thương nhân không chỉ sử dụng các hoạt động thương mại truyền thống như mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ để tìm kiếm lợi nhuận mà còn tìm đến những hoạt động thương mại hiện đại, đặc thù như: Nhượng quyền thương mại, logicstic, li-xăng, kinh doanh bảo hiểm… như là những công cụ hữu hiệu để đạt mục đích tối đa hóa lợi nhuận.

Không nằm ngoài vòng xoáy của sự phát triển đó, hoạt động kinh doanh bảo hiểm ngày một phát triển tại Việt Nam trong thời gian qua. Đặc biệt là lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm nhân thọ khi người tiêu dùng có thể sử dụng các gói bảo hiểm như một biện pháp tài chính mang tính phòng ngừa rủi ro và tiết kiệm tiêu dùng. Theo số liệu thống kê trên thực tế có khoảng 7% dân số Việt Nam tham gia bảo hiểm nhân thọ. Do đó, thị trường Việt Nam vẫn luôn được đánh giá là thị trường vô cùng tiềm năng để các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ đẩy mạnh khai thác trong tương lai. Thực tiễn sôi động của hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ đòi hỏi phải có một hành lang pháp lý hiệu quả, vừa bảo vệ quyền lợi của bên mua bảo hiểm, vừa đảm bảo quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm, đồng thời bảo đảm sự quản lý của Nhà nước đối với hoạt động thương mại đặc thù này. Có như vậy mới góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ phát triển mạnh mẽ trên thị trường. Tuy nhiên, pháp luật bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam hiện hành vẫn tồn tại những hạn chế, bất cập nhất định, không những gây khó khăn cho các chủ thể của hợp đồng bảo hiểm trong việc xác định quyền lợi và nghĩa vụ của mình mà còn dẫn đến tình trạng nếu có tranh chấp xảy ra các bên cũng như cơ quan giải quyết tranh chấp không thể giải quyết được vụ việc một cách công bằng và thỏa đáng.

Trong khuôn khổ bài viết này, tác giả chỉ bàn đến quy định về trách nhiệm cung cấp thông tin tại Điều 19 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000. Theo đó, các bên trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ ngoài những nghĩa vụ như chi trả tiền bảo hiểm, giải thích hợp đồng bảo hiểm, đóng đầy đủ phí bảo hiểm, thông báo những thay đổi có thể dẫn đến tăng phí bảo hiểm… thì còn có một nghĩa vụ rất quan trọng đó là phải cung cấp thông tin cho nhau một cách đầy đủ và chính xác. Bên nào vi phạm nghĩa vụ này thì chủ thể còn lại của hợp đồng bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng và yêu cầu bên vi phạm thực hiện những nghĩa vụ tài chính nhất định như bồi thường thiệt hại, đóng phí bảo hiểm đến thời điểm đình chỉ. Có thể nói, sự tồn tại quy định về trách nhiệm cung cấp thông tin của bên mua và bên bán bảo hiểm trong hợp đồng kinh doanh bảo hiểm nhân thọ là vô cùng cần thiết.

Khẳng định như vậy là bởi hai lý do sau: Thứ nhất, giống như các hoạt động thương mại khác, hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ phải được thực hiện trên cơ sở nguyên tắc trung thực và thiện chí - nguyên tắc cơ bản, quan trọng được ghi nhận trong Luật Thương mại năm 2005. Thứ hai, xuất phát từ đặc thù của hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ là doanh nghiệp bảo hiểm bán “lời hứa, lời cam kết ” của mình đối với những rủi ro mà bên mua bảo hiểm có thể phải gánh chịu trong tương lai. Về bản chất, đây là một hoạt động thương mại dựa trên cơ sở lòng tin của các bên và thực tế bên mua bảo hiểm phải chi trả một số tiền không nhỏ cho doanh nghiệp bảo hiểm và nhận về một “lời cam kết, lời hứa” vô hình của doanh nghiệp bảo hiểm. Do đó, quyết định tham gia bảo hiểm của bên mua bảo hiểm phụ thuộc rất lớn vào việc cung cấp thông tin của doanh nghiệp bảo hiểm về sản phẩm mà họ cung ứng. Bên cạnh đó, đối với bên bán bảo hiểm để có thể xác định được giá trị của “lời hứa, lời cam kết” của mình, họ phải dựa trên những tính toán kỹ thuật, những phán đoán rủi ro, mà những phán đoán này lại phụ thuộc rất lớn vào những thông tin mà bên mua bảo hiểm cung cấp như thông tin về độ tuổi, tình trạng sức khỏe, đặc thù công việc… của bên mua bảo hiểm. Từ đó, có thể khẳng định việc tồn tại quy định về trách nhiệm cung cấp thông tin của bên bán và bên mua bảo hiểm nhân thọ trong Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 là một điều tất yếu, góp phần đảm bảo cho hợp đồng bảo hiểm được giao kết và thực hiện trên thực tế.

Mặc dù cần thiết là vậy, nhưng nội dung cụ thể của quy định về trách nhiệm cung cấp thông tin tại Điều 19 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 có những điểm chưa thực sự hợp lý, cụ thể:

Một là, về hậu quả pháp lý của việc ra quyết định đình chỉ hợp đồng của một bên khi một bên vi phạm trách nhiệm cung cấp thông tin. Theo đó, nếu bên mua bảo hiểm vi phạm và doanh nghiệp bảo hiểm ra quyết định đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng thì doanh nghiệp bảo hiểm được quyền thu phí đến thời điểm đình chỉ. Trong khi đó, nếu doanh nghiệp bảo hiểm vi phạm và bên mua bảo hiểm quyết định đơn phương đình chỉ, thì doanh nghiệp bảo hiểm phải bồi thường thiệt hại cho bên mua bảo hiểm nếu bên mua bảo hiểm chứng minh được có thiệt hại.

Như vậy là cùng một hành vi vi phạm nghĩa vụ được quy định trong Luật cũng như trong hợp đồng, nhưng hậu quả pháp lý mà mỗi bên gánh chịu lại không tương xứng, có thể nói là không có sự cân bằng. Bởi lẽ, với trường hợp bên vi phạm là bên mua bảo hiểm thì nghĩa vụ tài chính mà họ phải thực hiện rất rõ ràng, cụ thể là khoản phí mà họ đã và sẽ phải đóng đến thời điểm đình chỉ thực hiện hợp đồng mà bên bán bảo hiểm không cần phải chứng minh thiệt hại. Nhưng với trường hợp bên vi phạm là bên bán bảo hiểm thì nghĩa vụ này lại khá mơ hồ, trừu tượng, nó phụ thuộc vào việc bên mua bảo hiểm có chứng minh được thiệt hại thực tế xảy ra. Điều đó đồng nghĩa với việc nếu bên mua bảo hiểm không chứng minh được thiệt hại thì họ sẽ không được bồi thường. Thiết nghĩ, trong mối quan hệ với doanh nghiệp bảo hiểm, bên mua bảo hiểm có thể được xác định là bên yếu thế cần phải được pháp luật quan tâm và bảo vệ nhưng dường như trong trường hợp này pháp luật lại nghiêng về bảo vệ cho các doanh nghiệp bảo hiểm - là bên có cả thế mạnh về tài chính, khả năng tự bảo vệ so với bên mua bảo hiểm. Để khắc phục hạn chế này, nên quy định hậu quả pháp lý của doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm trong Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 tương tự nhau. Các nhà làm luật có thể chọn một trong hai cách sau: Hoặc giữ nguyên nội dung hiện tại với trường hợp bên bán bảo hiểm quyết định đình chỉ thực hiện hợp đồng và sửa quy định hậu quả pháp lý trong trường hợp bên mua bảo hiểm quyết định đình chỉ thành doanh nghiệp bảo hiểm phải “bồi thường thiệt hại phát sinh do vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin” cho bên mua bảo hiểm; hoặc là giữ nguyên nội dung hiện tại với trường hợp bên bán bảo hiểm quyết định đình chỉ nhưng sửa đổi đối với trường hợp bên mua bảo hiểm quyết định đình chỉ theo hướng quy định những nguyên tắc, tiêu chí cụ thể để xác định nghĩa vụ tài chính mà bên bán phải thực hiện với bên mua bảo hiểm.

Hai là, về hành vi vi phạm trách nhiệm cung cấp thông tin: Theo quy định tại Điều 19 thì một trong các hành vi được cho là vi phạm trách nhiệm cung cấp thông tin của cả bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm là “cố ý cung cấp thông tin sai sự thật nhằm giao kết hợp đồng”. Nếu chỉ dừng lại xem xét riêng quy định về trách nhiệm cung cấp thông tin của các bên trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ thì việc các nhà làm luật xác định hành vi vi phạm như trên là hoàn toàn hợp lý. Tuy nhiên, nếu nghiên cứu rộng ra các quy định liên quan, trong đó có sự so sánh đối chiếu với quy định về các trường hợp hợp đồng bảo hiểm vô hiệu tại khoản 1 Điều 22 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 thì lại thấy có vấn đề cần phải quan tâm làm rõ. Cụ thể, một trong các trường hợp dẫn đến hợp đồng bảo hiểm vô hiệu là “bên mua bảo hiểm hoặc doanh nghiệp bảo hiểm có hành vi lừa dối khi giao kết hợp đồng bảo hiểm” (điểm d khoản 1 Điều 20 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000. Quy định này là hết sức phù hợp với những quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự trong Bộ luật Dân sự năm 2005. Vấn đề đặt ra là từ góc độ lý luận cũng như thực tiễn việc phân biệt giữa “cố ý cung cấp thông tin sai sự thật” và “hành vi lừa dối khi giao kết hợp đồng” của các bên trong quan hệ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ không phải điều dễ dàng, ranh giới của hai khái niệm này rất mờ nhạt. Thậm chí, trong một chừng mực nhất định, nội hàm của hai khái niệm này có thể coi là trùng với nhau. Trong khi đó, hậu quả pháp lý đối với chủ thể thực hiện một trong hai hành vi này lại rất khác nhau. Giả sử cùng một hành vi kê khai không đúng tuổi của bên mua bảo hiểm, đồng thời là người được bảo hiểm trong hợp đồng thì có thể có cách giải quyết không giống nhau giữa các bên của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ. Để bảo vệ quyền lợi của mình, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ xác định hành vi này là “cố ý cung cấp thông tin sai sự thật” để quyết định đình chỉ thực hiện hợp đồng và thu được khoản phí bảo hiểm. Trong khi đó, để giải thoát khỏi các nghĩa vụ hợp đồng cũng như nghĩa vụ tài chính khi vi phạm trách nhiệm cung cấp thông tin, bên mua bảo hiểm sẽ chứng minh hành vi kê khai không đúng tuổi là hành vi sai. Mục đích là để đưa về trường hợp hợp đồng vô hiệu và được nhận lại khoản phí đã đóng cho doanh nghiệp bảo hiểm vì hậu quả pháp lý của trường hợp hợp đồng bảo hiểm vô hiệu là “khôi phục lại trạng thái ban đầu các bên trả lại cho nhau những gì đã nhận” (khoản 2 Điều 22 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000).

Như vậy là cùng một hành vi vi phạm nhưng các bên có thể sử dụng các căn cứ pháp lý khác nhau để bảo vệ quyền lợi của mình và các bên hoàn toàn có cơ sở để làm việc đó. Không dừng lại ở đó, việc Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 không phân định được ranh giới giữa hai khái niệm “cố ý cung cấp thông tin sai sự thật” và “lừa dối” còn dẫn đến tình trạng cơ quan giải quyết tranh chấp sẽ tùy tiện và có khả năng hành xử tiêu cực khi tiến hành giải quyết tranh chấp giữa doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm khi được các bên lựa chọn để giải quyết những mâu thuẫn, bất đồng của mình. Thiết nghĩ để giải quyết những tồn tại trên, phải bổ sung nội dung giải thích thế nào là “lừa dối khi giao kết hợp đồng” và xác định những tiêu chí nhất định để phân định rõ với hành vi “cố ý cung cấp thông tin không đúng sự thật”. Làm được điều này mới có thể tránh được những tranh chấp, bất đồng xảy ra trên thực tế trong quá trình thực hiện hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, góp phần đảm bảo quyền và lợi ích hơp pháp của các bên và từ đó, giúp chủ thể trong xã hội có thể an tâm khi thiết lập quan hệ hợp đồng thương mại đặc thù này.

ThS. Đỗ Phương Thảo

Đại học Thương mại

In bài viết Gửi phản hồi

Các tin khác

Thẩm quyền của Tòa án Việt Nam khi trọng tài nước ngoài giải quyết tranh chấp tại Việt Nam Khung pháp lý về mua lại và sáp nhập Ngân hàng thương mại ở Việt Nam Quản lý nhà nước đối với việc sử dụng đất đô thị và hướng hoàn thiện Một số bất cập của pháp luật cạnh tranh hiện hành Định giá tài sản theo Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự Hoàn thiện các quy định về chế tài trong thương mại theo Luật Thương mại năm 2005 Địa vị pháp lý của Tổ quản lý và thanh lý tài sản theo pháp luật phá sản Những bất cập trong quy định của pháp luật về tranh chấp và giải quyết tranh chấp đất đai

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Việc Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội thông qua cơ chế đặc thù về đầu tư, phát triển nhà ở cho thuê được xem là bước đi mới trong thực hiện Luật Thủ đô năm 2026. Với nhiều ưu đãi về đất đai, thủ tục đầu tư và cơ chế khai thác dự án, chính sách này không chỉ tạo động lực thu hút doanh nghiệp tham gia phát triển nhà ở cho thuê mà còn góp phần mở rộng nguồn cung nhà ở, bảo đảm an sinh xã hội và thúc đẩy phát triển đô thị bền vững.
Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Trong những năm gần đây, chủ trương về chuyển đổi số đã trở thành một trong những định hướng chiến lược quan trọng của Đảng và Nhà nước. Với tinh thần chủ động, tích cực tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là yêu cầu khách quan (Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị) tới Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã xác định “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới”.
Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 253/2026/NĐ-CP quy định miễn thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu nhập từ tiền lương làm thêm giờ đánh dấu bước điều chỉnh quan trọng trong chính sách thuế theo hướng hỗ trợ người lao động (NLĐ) và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Đây không chỉ là giải pháp nhằm tăng thu nhập thực nhận mà còn thể hiện sự kết nối giữa pháp luật thuế với pháp luật lao động. Tuy nhiên, quá trình triển khai cũng đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến quản lý thuế, bảo hiểm xã hội và quan hệ lao động, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý để bảo đảm tính minh bạch và hiệu quả của chính sách.
Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Ngày 19/6/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 1111/QĐ-TTg (Quyết định số 1111/QĐ-TTg) về việc ban hành Kế hoạch tổ chức “Ngày Văn hóa Việt Nam” giai đoạn 2026 - 2030. Đây không chỉ là một văn bản hành chính thuần túy, mà là một lời hiệu triệu, một chiến lược toàn diện nhằm đưa các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo đà cho đất nước bước vào kỷ nguyên mới.
Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Thực hiện Nghị quyết số 2092/NQ-UBTVQH15 về tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) và Nghị quyết số 2093/NQ-UBTVQH15 về việc thành lập Ban Chỉ đạo tổng rà soát, Bộ Tư pháp với vai trò là Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo đang tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện các nhiệm vụ được giao. Trong tuần từ ngày 06/7/2026 đến hết ngày 12/7/2026, công tác rà soát đã bước vào giai đoạn then chốt với sự tham gia đồng bộ của các bộ, ngành và địa phương trên cả nước, tập trung vào việc đánh giá thực chất và đảm bảo chất lượng báo cáo.
Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Ngày 02/7/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam (Kế hoạch), với các nội dung chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa Việt Nam; đưa các hệ giá trị thấm sâu vào đời sống xã hội; chủ động ngăn chặn tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống; nâng cao sức đề kháng của người dân trước những tác động tiêu cực.
Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Ngày 24/4/2026, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI thống nhất thông qua Nghị quyết số 24/2026/QH16 về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công trong thời gian 02 năm. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026 và được thực hiện đến hết ngày 30/9/2028.
Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước, công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động kinh tế - xã hội. Nếu như nhiệm kỳ trước đặt nền móng cho nhiều cải cách thể chế thì ngay từ những tháng đầu của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, công tác lập pháp đã được triển khai với cường độ cao, thể hiện rõ quyết tâm đưa thể chế đi trước một bước trong tiến trình phát triển đất nước.
Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026. Luật đã cụ thể hóa các văn bản quan trọng của Bộ Chính trị và Ban Bí thư, như: Kết luận số 12-KL/TW ngày 19/3/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Chỉ thị số 27-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Quy định số 231-QĐ/TW ngày 17/01/2025 của Bộ Chính trị về bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Trong tháng 6/2026, nhiều văn bản pháp luật mới đã được cập nhật, bao quát các lĩnh vực hành chính, tư pháp, thuế - phí, tài chính - ngân hàng, giao thông, xây dựng, đầu tư, khoa học - công nghệ và thương mại… Đây là những quy định quan trọng, tác động trực tiếp đến cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân.
Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Ngày 01/7/2026, Luật Viên chức số 129/2025/QH15 và Nghị định số 232/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành, tạo cơ sở pháp lý mới cho việc quản lý viên chức theo vị trí việc làm. Hai văn bản này cụ thể hóa chủ trương của Đảng về đổi mới cơ chế quản lý viên chức, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của viên chức.
Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Để bảo đảm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 925/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1111/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026 - 2030 (Kế hoạch), đánh dấu bước triển khai quan trọng Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 130/2025/QH15 (Luật năm 2025) được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 (ngày 10/12/2025), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 gồm 11 Chương và 107 Điều quy định về hoạt động hàng không dân dụng, bao gồm các quy định về tàu bay, cảng hàng không, nhân viên hàng không, hoạt động bay, vận tải hàng không thương mại, hàng không chuyên dùng, hàng không chung, an toàn hàng không, an ninh hàng không, trách nhiệm dân sự và các hoạt động khác có liên quan đến hàng không dân dụng.

Theo dõi chúng tôi trên: