Thứ bảy 05/09/2026 21:17
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự ở tỉnh Tuyên Quang

Thi hành án dân sự (THADS) giữ vai trò quan trọng trong hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung và trong hoạt động tư pháp nói riêng.

Bởi lẽ, THADS là giai đoạn cuối cùng của quá trình tố tụng, là hoạt động thực thi phán quyết của Tòa án liên quan đến các vấn đề về tài sản trong các bản án hình sự, dân sự, lao động, hành chính, kinh tế, hôn nhân và gia đình..., bảo đảm cho quyết định của Tòa án được chấp hành, góp phần bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và Nhà nước, giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội; tăng cường hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước, góp phần xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân theo tinh thần Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII và Hiến Pháp năm 2013.

Trong điều kiện nền kinh tế cả nước nói chung, của Tuyên Quang nói riêng còn gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả công tác THADS, song trong năm 2016, Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tuyên Quang và các Chi cục Thi hành án dân sự trực thuộc đã chủ động xây dựng kế hoạch công tác của ngành, của đơn vị, bám sát sự lãnh, chỉ đạo của ngành, cấp Ủy, chính quyền địa phương để triển khai thực hiện. Lãnh đạo Cục Thi hành án dân sự, Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc thường xuyên làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho công chức, người lao động, tăng cường chỉ đạo, kiểm tra các đơn vị trong thực hiện nhiệm vụ chuyên môn. Các đơn vị đã tích cực tập trung vào công tác tổ chức thi hành án, xác minh, phân loại án đúng quy định, những vụ việc có điều kiện cơ bản đã được quan tâm giải quyết.

1. Những kết quả đạt được trong công tác thi hành án dân sự trên địa bàn Tuyên Quang trong năm 2016

Năm 2016, công tác THADS trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang đã đạt được những kết quả đáng khích lệ như: Các chỉ tiêu, nhiệm vụ về THADS theo Nghị quyết của Quốc hội được tập trung thực hiện; kết quả thực hiện xong về việc và tiền năm sau cao hơn năm trước, ngày càng thực chất bền vững; tổ chức bộ máy và đội ngũ công chức của cơ quan THADS được quan tâm kiện toàn và ngày càng lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng; kỷ luật, kỷ cương hành chính được siết chặt và ngày càng đi vào nề nếp; công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành tiếp tục đổi mới có hiệu quả; công tác phối hợp với các cơ quan hữu quan, với chính quyền địa phương được đẩy mạnh chú trọng hơn... Một số kết quả THADS về việc và về tiền năm 2016:

- Về việc: Đến hết tháng 9/2015, số cũ chuyển sang là 1.288 việc; từ 01/10/2015 đến 30/9/2016, thụ lý mới 4.098 việc, tăng 526 việc (15%) so với cùng kỳ năm 2015. Như vậy, tổng số thụ lý là 5.386 việc, tăng 487 việc (10%) so với cùng kỳ năm 2015, ủy thác thi hành án 44 việc, tổng số phải thi hành 5.342 việc. Kết quả xác minh, phân loại thì có 4.254 việc có điều kiện giải quyết (chiếm tỷ lệ 80%), tăng 495 việc (13%) so với cùng kỳ và 1.088 việc chưa có điều kiện giải quyết (chiếm tỷ lệ 20%). Trong số việc có điều kiện giải quyết, đã giải quyết xong 3.910 việc, đạt tỷ lệ 92% (so với chỉ tiêu được Tổng cục Thi hành án dân sự giao vượt 19%). Số việc chuyển kỳ sau là 1.432 việc, giảm 254 việc, tương ứng với 42% so với số chuyển kỳ sau của năm 2015 chuyển sang năm 2016 trên số có điều kiện thi hành (so với chỉ tiêu được Tổng cục Thi hành án dân sự giao vượt 35,5%).

- Về tiền: Đến hết tháng 9/2015, số cũ chuyển sang là 51.051.957.000 đồng; từ 01/10/2015 đến 30/9/2016, thụ lý mới 53.027.683.000 đồng, tăng 4.580.078.000 đồng (9%) so với cùng kỳ năm 2015. Như vậy, tổng số tiền thụ lý là 104.079.640.000 đồng, tăng 3.644.288.000 đồng (4%) so với cùng kỳ năm 2015, ủy thác thi hành án 3.670.312.000 đồng, tổng số phải thi hành 100.409.328.000 đồng. Kết quả xác minh, phân loại thì có 74.047.034.000 đồng có điều kiện giải quyết (chiếm tỷ lệ 74%), tăng 18.059.643.000 đồng (32%) so với cùng kỳ và 26.362.294.000 đồng chưa có điều kiện giải quyết (chiếm tỷ lệ 26%). Trong số tiền có điều kiện giải quyết, đã giải quyết xong 21.424.589.000 đồng, đạt tỷ lệ 29% (so với chỉ tiêu được Tổng cục Thi hành án dân sự giao, còn thiếu 3%). Số tiền chuyển kỳ sau là 78.984.739.000 đồng, tăng 11.066.623.000 đồng, tương ứng 27% so với số chuyển kỳ sau của năm 2015 chuyển sang năm 2016 trên số có điều kiện thi hành (so với chỉ tiêu Tổng cục Thi hành án dân sự giao giảm 4%).

- Về thi hành án đối với các khoản thu cho ngân sách nhà nước: Số việc thụ lý là 4.712 việc, tương ứng với số tiền 14.553.264.000 đồng (chiếm 87% về việc và 14% về tiền so với tổng số việc, tiền thụ lý), ủy thác thi hành án 29 việc, tương ứng với số tiền 252.186.000 đồng. Kết quả: Đã giải quyết 3.628 việc, tương ứng với số tiền 5.775.001.000 đồng (đạt tỷ lệ 96% về việc và 84% về tiền), giảm 2% về việc, 10% về tiền so với cùng kỳ năm 2015.

- Về tình hình giải quyết các vụ việc liên quan đến tín dụng, ngân hàng: Số việc phải giải quyết là 01 việc, tương ứng với số tiền là 8.993.385.000 đồng. Kết quả: Chưa giải quyết xong (đã kê biên, hiện đang tổ chức bán đấu giá - giảm giá lần thứ tư), đạt tỷ lệ 0% về việc và 0% về tiền.

- Về thi hành án đối với phần trách nhiệm dân sự của người phải thi hành án đang chấp hành án tại các trại giam, trại tạm giam: Tổng số thụ lý là 898 việc, tương ứng với số tiền 6.261.613.000 đồng. Kết quả: Đã giải quyết xong 431 việc, đạt tỷ lệ 48%, tương ứng với số tiền 1.649.293 đồng, đạt tỷ lệ 26%.

- Về kết quả miễn, giảm thi hành án: Trong năm 2016, các cơ quan THADS đã phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân các cấp rà soát, lập hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm đối với 127 việc với số tiền 794.695.000 đồng (tăng 08 việc, tương ứng với số tiền 118.283.000 đồng so với cùng kỳ năm 2015). Kết quả, đã xét miễn, giảm thi hành án đối với 127 việc, với số tiền 794.695.000 đồng (trong đó: miễn 122 việc, tương đương với số tiền 561.841.000 đồng; giảm 05 việc, tương ứng với số tiền 232.854.000 đồng).

- Về kết quả tổ chức cưỡng chế thi hành án: Năm 2016, các cơ quan THADS tỉnh Tuyên Quang đã ra quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án đối với 56 việc (tăng 14 việc so với cùng kỳ năm 2015), có 7 việc đương sự tự nguyện thi hành án nên số việc phải tổ chức cưỡng chế là 49 việc. Trong 56 việc ra quyết định cưỡng chế có: 27 việc cưỡng chế không huy động lực lượng, 29 việc cưỡng chế huy động lực lượng. Trong 49 việc phải tổ chức cưỡng chế có: 44 việc cưỡng chế thành công, 05 việc chưa tổ chức cưỡng chế do chưa đến ngày cưỡng chế.

2. Những tồn tại, hạn chế

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, trong năm qua, công tác THADS trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ đề ra, lượng việc, tiền có điều kiện thi hành nhưng chưa giải quyết xong còn nhiều, chưa đạt tỷ lệ thi hành xong về tiền trên số có điều kiện và tỷ lệ giảm tiền có điều kiện chuyển kỳ sau theo chỉ tiêu được giao. Cụ thể: Nhiều vụ việc có điều kiện thi hành nhưng chưa thi hành dứt điểm (344 việc, tương ứng với số tiền 52.622.445.000 đồng). Không đạt chỉ tiêu tỷ lệ thi hành xong về tiền (còn thiếu 3% so với chỉ tiêu được Tổng cục Thi hành án dân sự giao) và chỉ tiêu giảm số tiền chuyển kỳ sau trên số có điều kiện thi hành (tăng 11.066.623.000 đồng, tương ứng 27% so với chỉ tiêu được Tổng cục Thi hành án dân sự giao); một số án vẫn còn tồn đọng kéo dài ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của các bên liên quan; nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật của nhiều cá nhân phải thi hành án còn thấp; việc rà soát phân loại án chưa kịp thời; công tác xác minh để có biện pháp phân loại án còn chậm; lãnh đạo một số đơn vị chưa kiên quyết trong công tác chỉ đạo, điều hành và tổ chức thi hành án, một số chấp hành viên có năng lực hạn chế, lúng túng trong quá trình tổ chức thi hành án, làm ảnh hưởng đến quá trình giải quyết việc thi hành án; cơ sở vật chất, phương tiện làm việc của cơ quan thi hành án trên địa bàn tỉnh nói chung còn thiếu; một số cấp ủy, chính quyền chưa nhận thức đầy đủ về vị trí, tầm quan trọng của công tác THADS, coi đây chỉ là trách nhiệm của cơ quan THADS; sự phối hợp của cơ quan THADS với chính quyền các cấp, các ngành chức năng có liên quan, các tổ chức đoàn thể còn thiếu chặt chẽ, chưa hiệu quả. Những hạn chế nêu trên xuất phát từ một số nguyên nhân sau: Số việc, số tiền thụ lý mới của toàn tỉnh tăng so với năm 2015 (tăng 526 việc (15%), 4.580.078.000 đồng (9%)). Số tiền thụ lý mới trong các vụ việc tranh chấp dân sự, lừa đảo chiếm đoạt tài sản… tăng cao so với cùng kỳ (tổng số thụ lý mới là 47.252.530.000 đồng, tăng 4.779.425.000 đồng); một số vụ việc có số tiền phải thi hành rất lớn, đương sự chỉ có tài sản duy nhất là nhà đất có giá trị nhỏ so với số tiền phải thi hành; có vụ việc số tiền phải thi hành lớn, cơ quan thi hành án đã kê biên tài sản (nhà, quyền sử dụng đất), song chưa bán được tài sản (mặc dù đã giảm giá nhiều lần - có việc giảm giá đến 10 lần), nên không giải quyết được vụ việc. Một số vụ việc phải dừng việc thi hành án để chờ Tòa án xử lý việc phân chia tài sản chung, tài sản thừa kế hoặc hoãn thi hành án để Tòa án giải quyết một vụ án hình sự khác; Số việc phải thi hành án cho ngân sách nhà nước như các khoản án phí, tiền phạt, tịch thu sung quỹ nhà nước chiếm số lượng lớn, nhiều người phải thi hành án không có tài sản, thu nhập, đang chấp hành án phạt tù hoặc khi mãn hạn tù không về địa phương nên không thể đôn đốc thi hành án, bên cạnh đó, quy định của pháp luật về điều kiện được xét miễn, giảm thi hành án vẫn còn khó thực hiện; lãnh đạo một số đơn vị chưa thực sự quyết liệt trong công tác chỉ đạo, điều hành và tổ chức thi hành án, một số ít chấp hành viên năng lực hạn chế nên hiệu quả công tác chưa cao.

3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang trong thời gian tới

Thứ nhất, đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan thi hành án dân sự trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang theo đó cần tập trung vào một số nội dung sau:

(i) Lãnh đạo các cơ quan THADS trên địa bàn tỉnh cần phân công nhiệm vụ hợp lý, đúng chức năng, nhận thức rõ tầm quan trọng trong việc ban hành quyết định thi hành án để phân công cán bộ tiếp nhận bản án, cán bộ ra quyết định có trình độ về pháp luật, có kinh nghiệm và biết cập nhật những quy định mới của pháp luật có liên quan đến việc ban hành quyết định thi hành án; phân công cán bộ phụ trách tiếp nhận các kết luận, kháng nghị, kiến nghị và theo dõi việc khắc phục để thường xuyên báo cáo lãnh đạo.

(ii) Chấp hành viên phải dành thời gian nghiên cứu văn bản pháp luật hiện hành (không chỉ văn bản pháp luật về THADS mà còn phải chú ý nghiên cứu, cập nhật các văn bản pháp luật chuyên ngành khác, đặc biệt là những lĩnh vực thường xuyên áp dụng như: Bộ luật Dân sự, Luật Đất đai, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn thi hành). Thận trọng và có tinh thần trách nhiệm trong việc áp dụng các biện pháp nghiệp vụ như: Xác minh điều kiện thi hành án; áp dụng các biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế; đề xuất ban hành các quyết định liên quan đến công tác THADS.

(iii) Tăng cường công tác rà soát, phân loại án. Công tác rà soát, phân loại án có ý nghĩa to lớn trong việc thúc đẩy hoặc kìm hãm việc THADS. Chính vì vậy, các cơ quan THADS trên địa bàn tỉnh cần thường xuyên làm tốt công tác rà soát, phân loại án để có biện pháp thi hành đạt hiệu quả và đánh giá đúng thực trạng về công tác thi hành án trên địa bàn tỉnh. Khi tiến hành công tác rà soát, phân loại hồ sơ thi hành án cần lưu ý một số nội dung sau: Phải rà soát, sàng lọc án bằng hình thức phân loại theo mức độ và tính chất phức tạp để tính toán các biện pháp, tập trung sự chỉ đạo, tổ chức thi hành án cho từng loại. Từ kết quả sàng lọc để có phương án tối ưu và kịp thời thi hành dứt điểm vụ việc khi đối tượng phát sinh điều kiện thi hành; sắp xếp theo thứ tự cũ - mới, khó - dễ… để chỉ đạo đôn đốc hay thiết lập hồ sơ cưỡng chế. Việc sắp xếp, phân loại án khoa học sẽ không để lọt, không quên, không sót việc; sắp xếp không được chồng chéo để luôn đáp ứng khi có yêu cầu phát sinh, kể cả phục vụ công tác phối hợp với cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án trong quá trình thi hành công vụ; chủ động ra quân tổ chức các đợt thi hành án. Tổ chức các biện pháp phối hợp, huy động mọi lực lượng cùng tham gia thi hành án; lấy phương châm “giáo dục thuyết phục là chính” nhưng cũng sẵn sàng tổ chức đi cưỡng chế ngay tức khắc khi thấy cần thiết.

(iv) Tập trung khắc phục án tồn đọng. Khắc phục án tồn đọng là một trong những khó khăn trong công tác THADS. Để khắc phục được án tồn đọng, trước hết các cơ quan THADS trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang cần xác định rõ những nguyên nhân khách quan và chủ quan để có thể đưa ra các giải pháp khắc phục phù hợp.

Thứ hai, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức công vụ của cán bộ, công chức các cơ quan thi hành án dân sự trên địa bàn tỉnh đáp ứng yêu cầu trong thời kỳ mới

Hiện nay, công tác THADS của cả nước nói chung và trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang nói riêng đang ngày càng khó khăn, số lượng các vụ việc tăng nhanh theo từng năm, tính chất, mức độ phức tạp của vụ việc sau cao hơn vụ việc trước, do vậy đòi hỏi phải nâng cao chất lượng, năng lực chấp hành viên là yêu cầu tất yếu, khách quan, cụ thể: (i) Nâng cao năng lực cho chấp hành viên bằng cách phải chuẩn hóa đội ngũ chấp hành viên; (ii) Nâng cao kỹ năng phối hợp trong công tác với các tổ chức, cá nhân có liên quan; (iii) Thường xuyên rèn luyện, tu dưỡng chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của cán bộ công chức, viên chức Ngành Tư pháp cho cán bộ, công chức thi hành án dân sự; (iv) Thực hiện tốt công tác phân loại, đánh giá, kiểm điểm, rút kinh nghiệm đối với cán bộ, công chức trong hệ thống cơ quan THADS.

Thứ ba, tổ chức tốt công tác phối hợp giữa các cơ quan thi hành án dân sự trên địa bàn tỉnh với các cơ quan chức năng trong việc tổ chức, triển khai công tác thi hành án dân sự

Để nâng cao chất lượng công tác THADS trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới, phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan THADS với các cơ quan hữu quan. Đặc biệt, trong điều kiện hiện nay, các cơ quan THADS cần tiếp tục thực hiện tốt các quy chế phối hợp đã và đang thực hiện, đồng thời chủ động xây dựng quy chế phối hợp với các cơ quan khác.

Thứ tư, tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng đối với việc nâng cao chất lượng công tác thi hành án dân sự trên địa bàn tỉnh

Để tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng đối với việc nâng cao chất lượng công tác THADS trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị (khóa IX) về Chiến lược cải cách tư pháp đến 2020 và Kết luận số 92-KL/TW ngày 12/3/2014 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW về Chiến lược cải cách tư pháp đến 2020; Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ các cấp, trong thời gian tới, các cấp ủy Đảng từ tỉnh đến cơ sở trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang cần tập trung thực hiện việc nâng cao năng lực lãnh đạo của Tỉnh ủy và các cấp ủy cơ sở đối với công tác THADS. Trong đó, Tỉnh ủy cần định hướng và chỉ đạo đúng về mục tiêu, phương hướng hoạt động trước mắt và lâu dài của công tác THADS, hướng vào việc thực hiện hiệu quả các bản án dân sự, giải quyết dứt điểm các bản án tồn đọng, giữ vững kỷ cương xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nhân dân góp phần xây dựng cấp ủy Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh.

Thứ năm, tăng cường công tác quản lý của các cấp chính quyền và sự chỉ đạo, kiểm tra của Cục Thi hành án dân sự tỉnh với các cơ quan thi hành án dân sự trên địa bàn tỉnh

- Các cấp chính quyền trên địa bàn tỉnh cần quan tâm, hỗ trợ, tạo mọi điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc, nhà công vụ, bố trí mặt bằng cho các cơ quan THADS sớm xây dựng trụ sở làm việc, kho vật chứng đảm bảo điều kiện cần thiết phục vụ cho yêu cầu công tác. Đồng thời, quan tâm hỗ trợ về kinh phí hoạt động của Ban Chỉ đạo thi hành án dân sự và các cơ quan THADS trong công tác nghiệp vụ, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về THADS.

- Cục Thi hành án dân sự tỉnh cần đổi mới, tăng cường hoạt động kiểm tra bảo đảm chất lượng, hiệu quả; tăng cường tự kiểm tra, kiểm tra đột xuất để kịp thời phát hiện những sai sót từ đó có biện pháp chấn chỉnh, xử lý; qua công tác kiểm tra, có biện pháp bồi dưỡng, khen thưởng kịp thời những cá nhân, tổ chức có thành tích đồng thời xử lý nghiêm những cá nhân, tổ chức vi phạm.

Ngoài ra, các cơ quan THADS tỉnh Tuyên Quang cần triển khai thực hiện có hiệu quả chế định Thừa phát lại theo Nghị quyết số 107/2015/QH13 ngày 26/11/2015 của Quốc hội trên địa bàn tỉnh nhằm tạo ra sự đồng thuận của tất cả các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị, đảm bảo thực hiện có hiệu quả chế định này theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa IX) về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020; đồng thời tiếp tục triển khai thực hiện Nghị quyết số 39/NQ/TW ngày 17/4/2015 của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế đội ngũ cán bộ, công chức, xây dựng các cơ quan THADS trong sạch, vững mạnh toàn diện.

ThS. Nguyễn Thị Mai

Trường Chính trị tỉnh Tuyên Quang

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.

Theo dõi chúng tôi trên: