Thứ tư 21/01/2026 13:21
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự ở tỉnh Tuyên Quang

Thi hành án dân sự (THADS) giữ vai trò quan trọng trong hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung và trong hoạt động tư pháp nói riêng.

Bởi lẽ, THADS là giai đoạn cuối cùng của quá trình tố tụng, là hoạt động thực thi phán quyết của Tòa án liên quan đến các vấn đề về tài sản trong các bản án hình sự, dân sự, lao động, hành chính, kinh tế, hôn nhân và gia đình..., bảo đảm cho quyết định của Tòa án được chấp hành, góp phần bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và Nhà nước, giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội; tăng cường hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước, góp phần xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân theo tinh thần Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII và Hiến Pháp năm 2013.

Trong điều kiện nền kinh tế cả nước nói chung, của Tuyên Quang nói riêng còn gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả công tác THADS, song trong năm 2016, Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tuyên Quang và các Chi cục Thi hành án dân sự trực thuộc đã chủ động xây dựng kế hoạch công tác của ngành, của đơn vị, bám sát sự lãnh, chỉ đạo của ngành, cấp Ủy, chính quyền địa phương để triển khai thực hiện. Lãnh đạo Cục Thi hành án dân sự, Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc thường xuyên làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho công chức, người lao động, tăng cường chỉ đạo, kiểm tra các đơn vị trong thực hiện nhiệm vụ chuyên môn. Các đơn vị đã tích cực tập trung vào công tác tổ chức thi hành án, xác minh, phân loại án đúng quy định, những vụ việc có điều kiện cơ bản đã được quan tâm giải quyết.

1. Những kết quả đạt được trong công tác thi hành án dân sự trên địa bàn Tuyên Quang trong năm 2016

Năm 2016, công tác THADS trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang đã đạt được những kết quả đáng khích lệ như: Các chỉ tiêu, nhiệm vụ về THADS theo Nghị quyết của Quốc hội được tập trung thực hiện; kết quả thực hiện xong về việc và tiền năm sau cao hơn năm trước, ngày càng thực chất bền vững; tổ chức bộ máy và đội ngũ công chức của cơ quan THADS được quan tâm kiện toàn và ngày càng lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng; kỷ luật, kỷ cương hành chính được siết chặt và ngày càng đi vào nề nếp; công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành tiếp tục đổi mới có hiệu quả; công tác phối hợp với các cơ quan hữu quan, với chính quyền địa phương được đẩy mạnh chú trọng hơn... Một số kết quả THADS về việc và về tiền năm 2016:

- Về việc: Đến hết tháng 9/2015, số cũ chuyển sang là 1.288 việc; từ 01/10/2015 đến 30/9/2016, thụ lý mới 4.098 việc, tăng 526 việc (15%) so với cùng kỳ năm 2015. Như vậy, tổng số thụ lý là 5.386 việc, tăng 487 việc (10%) so với cùng kỳ năm 2015, ủy thác thi hành án 44 việc, tổng số phải thi hành 5.342 việc. Kết quả xác minh, phân loại thì có 4.254 việc có điều kiện giải quyết (chiếm tỷ lệ 80%), tăng 495 việc (13%) so với cùng kỳ và 1.088 việc chưa có điều kiện giải quyết (chiếm tỷ lệ 20%). Trong số việc có điều kiện giải quyết, đã giải quyết xong 3.910 việc, đạt tỷ lệ 92% (so với chỉ tiêu được Tổng cục Thi hành án dân sự giao vượt 19%). Số việc chuyển kỳ sau là 1.432 việc, giảm 254 việc, tương ứng với 42% so với số chuyển kỳ sau của năm 2015 chuyển sang năm 2016 trên số có điều kiện thi hành (so với chỉ tiêu được Tổng cục Thi hành án dân sự giao vượt 35,5%).

- Về tiền: Đến hết tháng 9/2015, số cũ chuyển sang là 51.051.957.000 đồng; từ 01/10/2015 đến 30/9/2016, thụ lý mới 53.027.683.000 đồng, tăng 4.580.078.000 đồng (9%) so với cùng kỳ năm 2015. Như vậy, tổng số tiền thụ lý là 104.079.640.000 đồng, tăng 3.644.288.000 đồng (4%) so với cùng kỳ năm 2015, ủy thác thi hành án 3.670.312.000 đồng, tổng số phải thi hành 100.409.328.000 đồng. Kết quả xác minh, phân loại thì có 74.047.034.000 đồng có điều kiện giải quyết (chiếm tỷ lệ 74%), tăng 18.059.643.000 đồng (32%) so với cùng kỳ và 26.362.294.000 đồng chưa có điều kiện giải quyết (chiếm tỷ lệ 26%). Trong số tiền có điều kiện giải quyết, đã giải quyết xong 21.424.589.000 đồng, đạt tỷ lệ 29% (so với chỉ tiêu được Tổng cục Thi hành án dân sự giao, còn thiếu 3%). Số tiền chuyển kỳ sau là 78.984.739.000 đồng, tăng 11.066.623.000 đồng, tương ứng 27% so với số chuyển kỳ sau của năm 2015 chuyển sang năm 2016 trên số có điều kiện thi hành (so với chỉ tiêu Tổng cục Thi hành án dân sự giao giảm 4%).

- Về thi hành án đối với các khoản thu cho ngân sách nhà nước: Số việc thụ lý là 4.712 việc, tương ứng với số tiền 14.553.264.000 đồng (chiếm 87% về việc và 14% về tiền so với tổng số việc, tiền thụ lý), ủy thác thi hành án 29 việc, tương ứng với số tiền 252.186.000 đồng. Kết quả: Đã giải quyết 3.628 việc, tương ứng với số tiền 5.775.001.000 đồng (đạt tỷ lệ 96% về việc và 84% về tiền), giảm 2% về việc, 10% về tiền so với cùng kỳ năm 2015.

- Về tình hình giải quyết các vụ việc liên quan đến tín dụng, ngân hàng: Số việc phải giải quyết là 01 việc, tương ứng với số tiền là 8.993.385.000 đồng. Kết quả: Chưa giải quyết xong (đã kê biên, hiện đang tổ chức bán đấu giá - giảm giá lần thứ tư), đạt tỷ lệ 0% về việc và 0% về tiền.

- Về thi hành án đối với phần trách nhiệm dân sự của người phải thi hành án đang chấp hành án tại các trại giam, trại tạm giam: Tổng số thụ lý là 898 việc, tương ứng với số tiền 6.261.613.000 đồng. Kết quả: Đã giải quyết xong 431 việc, đạt tỷ lệ 48%, tương ứng với số tiền 1.649.293 đồng, đạt tỷ lệ 26%.

- Về kết quả miễn, giảm thi hành án: Trong năm 2016, các cơ quan THADS đã phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân các cấp rà soát, lập hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm đối với 127 việc với số tiền 794.695.000 đồng (tăng 08 việc, tương ứng với số tiền 118.283.000 đồng so với cùng kỳ năm 2015). Kết quả, đã xét miễn, giảm thi hành án đối với 127 việc, với số tiền 794.695.000 đồng (trong đó: miễn 122 việc, tương đương với số tiền 561.841.000 đồng; giảm 05 việc, tương ứng với số tiền 232.854.000 đồng).

- Về kết quả tổ chức cưỡng chế thi hành án: Năm 2016, các cơ quan THADS tỉnh Tuyên Quang đã ra quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án đối với 56 việc (tăng 14 việc so với cùng kỳ năm 2015), có 7 việc đương sự tự nguyện thi hành án nên số việc phải tổ chức cưỡng chế là 49 việc. Trong 56 việc ra quyết định cưỡng chế có: 27 việc cưỡng chế không huy động lực lượng, 29 việc cưỡng chế huy động lực lượng. Trong 49 việc phải tổ chức cưỡng chế có: 44 việc cưỡng chế thành công, 05 việc chưa tổ chức cưỡng chế do chưa đến ngày cưỡng chế.

2. Những tồn tại, hạn chế

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, trong năm qua, công tác THADS trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ đề ra, lượng việc, tiền có điều kiện thi hành nhưng chưa giải quyết xong còn nhiều, chưa đạt tỷ lệ thi hành xong về tiền trên số có điều kiện và tỷ lệ giảm tiền có điều kiện chuyển kỳ sau theo chỉ tiêu được giao. Cụ thể: Nhiều vụ việc có điều kiện thi hành nhưng chưa thi hành dứt điểm (344 việc, tương ứng với số tiền 52.622.445.000 đồng). Không đạt chỉ tiêu tỷ lệ thi hành xong về tiền (còn thiếu 3% so với chỉ tiêu được Tổng cục Thi hành án dân sự giao) và chỉ tiêu giảm số tiền chuyển kỳ sau trên số có điều kiện thi hành (tăng 11.066.623.000 đồng, tương ứng 27% so với chỉ tiêu được Tổng cục Thi hành án dân sự giao); một số án vẫn còn tồn đọng kéo dài ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của các bên liên quan; nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật của nhiều cá nhân phải thi hành án còn thấp; việc rà soát phân loại án chưa kịp thời; công tác xác minh để có biện pháp phân loại án còn chậm; lãnh đạo một số đơn vị chưa kiên quyết trong công tác chỉ đạo, điều hành và tổ chức thi hành án, một số chấp hành viên có năng lực hạn chế, lúng túng trong quá trình tổ chức thi hành án, làm ảnh hưởng đến quá trình giải quyết việc thi hành án; cơ sở vật chất, phương tiện làm việc của cơ quan thi hành án trên địa bàn tỉnh nói chung còn thiếu; một số cấp ủy, chính quyền chưa nhận thức đầy đủ về vị trí, tầm quan trọng của công tác THADS, coi đây chỉ là trách nhiệm của cơ quan THADS; sự phối hợp của cơ quan THADS với chính quyền các cấp, các ngành chức năng có liên quan, các tổ chức đoàn thể còn thiếu chặt chẽ, chưa hiệu quả. Những hạn chế nêu trên xuất phát từ một số nguyên nhân sau: Số việc, số tiền thụ lý mới của toàn tỉnh tăng so với năm 2015 (tăng 526 việc (15%), 4.580.078.000 đồng (9%)). Số tiền thụ lý mới trong các vụ việc tranh chấp dân sự, lừa đảo chiếm đoạt tài sản… tăng cao so với cùng kỳ (tổng số thụ lý mới là 47.252.530.000 đồng, tăng 4.779.425.000 đồng); một số vụ việc có số tiền phải thi hành rất lớn, đương sự chỉ có tài sản duy nhất là nhà đất có giá trị nhỏ so với số tiền phải thi hành; có vụ việc số tiền phải thi hành lớn, cơ quan thi hành án đã kê biên tài sản (nhà, quyền sử dụng đất), song chưa bán được tài sản (mặc dù đã giảm giá nhiều lần - có việc giảm giá đến 10 lần), nên không giải quyết được vụ việc. Một số vụ việc phải dừng việc thi hành án để chờ Tòa án xử lý việc phân chia tài sản chung, tài sản thừa kế hoặc hoãn thi hành án để Tòa án giải quyết một vụ án hình sự khác; Số việc phải thi hành án cho ngân sách nhà nước như các khoản án phí, tiền phạt, tịch thu sung quỹ nhà nước chiếm số lượng lớn, nhiều người phải thi hành án không có tài sản, thu nhập, đang chấp hành án phạt tù hoặc khi mãn hạn tù không về địa phương nên không thể đôn đốc thi hành án, bên cạnh đó, quy định của pháp luật về điều kiện được xét miễn, giảm thi hành án vẫn còn khó thực hiện; lãnh đạo một số đơn vị chưa thực sự quyết liệt trong công tác chỉ đạo, điều hành và tổ chức thi hành án, một số ít chấp hành viên năng lực hạn chế nên hiệu quả công tác chưa cao.

3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang trong thời gian tới

Thứ nhất, đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan thi hành án dân sự trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang theo đó cần tập trung vào một số nội dung sau:

(i) Lãnh đạo các cơ quan THADS trên địa bàn tỉnh cần phân công nhiệm vụ hợp lý, đúng chức năng, nhận thức rõ tầm quan trọng trong việc ban hành quyết định thi hành án để phân công cán bộ tiếp nhận bản án, cán bộ ra quyết định có trình độ về pháp luật, có kinh nghiệm và biết cập nhật những quy định mới của pháp luật có liên quan đến việc ban hành quyết định thi hành án; phân công cán bộ phụ trách tiếp nhận các kết luận, kháng nghị, kiến nghị và theo dõi việc khắc phục để thường xuyên báo cáo lãnh đạo.

(ii) Chấp hành viên phải dành thời gian nghiên cứu văn bản pháp luật hiện hành (không chỉ văn bản pháp luật về THADS mà còn phải chú ý nghiên cứu, cập nhật các văn bản pháp luật chuyên ngành khác, đặc biệt là những lĩnh vực thường xuyên áp dụng như: Bộ luật Dân sự, Luật Đất đai, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn thi hành). Thận trọng và có tinh thần trách nhiệm trong việc áp dụng các biện pháp nghiệp vụ như: Xác minh điều kiện thi hành án; áp dụng các biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế; đề xuất ban hành các quyết định liên quan đến công tác THADS.

(iii) Tăng cường công tác rà soát, phân loại án. Công tác rà soát, phân loại án có ý nghĩa to lớn trong việc thúc đẩy hoặc kìm hãm việc THADS. Chính vì vậy, các cơ quan THADS trên địa bàn tỉnh cần thường xuyên làm tốt công tác rà soát, phân loại án để có biện pháp thi hành đạt hiệu quả và đánh giá đúng thực trạng về công tác thi hành án trên địa bàn tỉnh. Khi tiến hành công tác rà soát, phân loại hồ sơ thi hành án cần lưu ý một số nội dung sau: Phải rà soát, sàng lọc án bằng hình thức phân loại theo mức độ và tính chất phức tạp để tính toán các biện pháp, tập trung sự chỉ đạo, tổ chức thi hành án cho từng loại. Từ kết quả sàng lọc để có phương án tối ưu và kịp thời thi hành dứt điểm vụ việc khi đối tượng phát sinh điều kiện thi hành; sắp xếp theo thứ tự cũ - mới, khó - dễ… để chỉ đạo đôn đốc hay thiết lập hồ sơ cưỡng chế. Việc sắp xếp, phân loại án khoa học sẽ không để lọt, không quên, không sót việc; sắp xếp không được chồng chéo để luôn đáp ứng khi có yêu cầu phát sinh, kể cả phục vụ công tác phối hợp với cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án trong quá trình thi hành công vụ; chủ động ra quân tổ chức các đợt thi hành án. Tổ chức các biện pháp phối hợp, huy động mọi lực lượng cùng tham gia thi hành án; lấy phương châm “giáo dục thuyết phục là chính” nhưng cũng sẵn sàng tổ chức đi cưỡng chế ngay tức khắc khi thấy cần thiết.

(iv) Tập trung khắc phục án tồn đọng. Khắc phục án tồn đọng là một trong những khó khăn trong công tác THADS. Để khắc phục được án tồn đọng, trước hết các cơ quan THADS trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang cần xác định rõ những nguyên nhân khách quan và chủ quan để có thể đưa ra các giải pháp khắc phục phù hợp.

Thứ hai, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức công vụ của cán bộ, công chức các cơ quan thi hành án dân sự trên địa bàn tỉnh đáp ứng yêu cầu trong thời kỳ mới

Hiện nay, công tác THADS của cả nước nói chung và trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang nói riêng đang ngày càng khó khăn, số lượng các vụ việc tăng nhanh theo từng năm, tính chất, mức độ phức tạp của vụ việc sau cao hơn vụ việc trước, do vậy đòi hỏi phải nâng cao chất lượng, năng lực chấp hành viên là yêu cầu tất yếu, khách quan, cụ thể: (i) Nâng cao năng lực cho chấp hành viên bằng cách phải chuẩn hóa đội ngũ chấp hành viên; (ii) Nâng cao kỹ năng phối hợp trong công tác với các tổ chức, cá nhân có liên quan; (iii) Thường xuyên rèn luyện, tu dưỡng chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của cán bộ công chức, viên chức Ngành Tư pháp cho cán bộ, công chức thi hành án dân sự; (iv) Thực hiện tốt công tác phân loại, đánh giá, kiểm điểm, rút kinh nghiệm đối với cán bộ, công chức trong hệ thống cơ quan THADS.

Thứ ba, tổ chức tốt công tác phối hợp giữa các cơ quan thi hành án dân sự trên địa bàn tỉnh với các cơ quan chức năng trong việc tổ chức, triển khai công tác thi hành án dân sự

Để nâng cao chất lượng công tác THADS trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới, phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan THADS với các cơ quan hữu quan. Đặc biệt, trong điều kiện hiện nay, các cơ quan THADS cần tiếp tục thực hiện tốt các quy chế phối hợp đã và đang thực hiện, đồng thời chủ động xây dựng quy chế phối hợp với các cơ quan khác.

Thứ tư, tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng đối với việc nâng cao chất lượng công tác thi hành án dân sự trên địa bàn tỉnh

Để tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng đối với việc nâng cao chất lượng công tác THADS trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị (khóa IX) về Chiến lược cải cách tư pháp đến 2020 và Kết luận số 92-KL/TW ngày 12/3/2014 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW về Chiến lược cải cách tư pháp đến 2020; Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ các cấp, trong thời gian tới, các cấp ủy Đảng từ tỉnh đến cơ sở trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang cần tập trung thực hiện việc nâng cao năng lực lãnh đạo của Tỉnh ủy và các cấp ủy cơ sở đối với công tác THADS. Trong đó, Tỉnh ủy cần định hướng và chỉ đạo đúng về mục tiêu, phương hướng hoạt động trước mắt và lâu dài của công tác THADS, hướng vào việc thực hiện hiệu quả các bản án dân sự, giải quyết dứt điểm các bản án tồn đọng, giữ vững kỷ cương xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nhân dân góp phần xây dựng cấp ủy Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh.

Thứ năm, tăng cường công tác quản lý của các cấp chính quyền và sự chỉ đạo, kiểm tra của Cục Thi hành án dân sự tỉnh với các cơ quan thi hành án dân sự trên địa bàn tỉnh

- Các cấp chính quyền trên địa bàn tỉnh cần quan tâm, hỗ trợ, tạo mọi điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc, nhà công vụ, bố trí mặt bằng cho các cơ quan THADS sớm xây dựng trụ sở làm việc, kho vật chứng đảm bảo điều kiện cần thiết phục vụ cho yêu cầu công tác. Đồng thời, quan tâm hỗ trợ về kinh phí hoạt động của Ban Chỉ đạo thi hành án dân sự và các cơ quan THADS trong công tác nghiệp vụ, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về THADS.

- Cục Thi hành án dân sự tỉnh cần đổi mới, tăng cường hoạt động kiểm tra bảo đảm chất lượng, hiệu quả; tăng cường tự kiểm tra, kiểm tra đột xuất để kịp thời phát hiện những sai sót từ đó có biện pháp chấn chỉnh, xử lý; qua công tác kiểm tra, có biện pháp bồi dưỡng, khen thưởng kịp thời những cá nhân, tổ chức có thành tích đồng thời xử lý nghiêm những cá nhân, tổ chức vi phạm.

Ngoài ra, các cơ quan THADS tỉnh Tuyên Quang cần triển khai thực hiện có hiệu quả chế định Thừa phát lại theo Nghị quyết số 107/2015/QH13 ngày 26/11/2015 của Quốc hội trên địa bàn tỉnh nhằm tạo ra sự đồng thuận của tất cả các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị, đảm bảo thực hiện có hiệu quả chế định này theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa IX) về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020; đồng thời tiếp tục triển khai thực hiện Nghị quyết số 39/NQ/TW ngày 17/4/2015 của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế đội ngũ cán bộ, công chức, xây dựng các cơ quan THADS trong sạch, vững mạnh toàn diện.

ThS. Nguyễn Thị Mai

Trường Chính trị tỉnh Tuyên Quang

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Theo dõi chúng tôi trên: