Thứ năm 15/01/2026 09:27
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại tại Việt Nam

Bài viết đề cập thực trạng tệ nạn buôn lậu, gian lận thương mại tại Việt Nam và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại tại Việt Nam.

1. Thực trạng buôn lậu, gian lận thương mại tại Việt Nam

Buôn lậu được hiểu là gian lận thương mại nhằm mục đích che giấu sự kiểm tra, kiểm soát của hải quan bằng mọi thủ đoạn, phương tiện trong việc đưa hàng hóa lén lút qua biên giới. Tuy nhiên, thực tế chưa có định nghĩa thống nhất nào về vấn đề gian lận thương mại. Hành vi gian lận thương mại có thể xuất hiện ở cả trong hoạt động nội bộ doanh nghiệp và trong giao dịch kinh doanh thương mại bên ngoài của doanh nghiệp, ở trong nội địa một quốc gia nhất định hoặc có thể ở nước ngoài (thương mại xuyên biên giới)[1]. Đối với hành vi gian lận chống lại doanh nghiệp bởi những người nội bộ của tổ chức, thường có ba loại chính là tham nhũng, biển thủ tài sản và làm sai lệch báo cáo tài chính. Riêng đối với hoạt động thương mại quốc tế, gian lận có thể xảy ra trong một số lĩnh vực và hình thức như: Gian lận về thuế - hải quan, gian lận về thanh toán và tài trợ thương mại, gian lận về nguồn gốc xuất xứ hàng hóa, gian lận về quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến hàng hóa, hay gần đây là lẩn tránh các biện pháp phòng vệ thương mại dưới nhiều cách thức[2].

Hoạt động buôn lậu, gian lận thương mại là những hành vi thương mại đi chệch nghiêm trọng các chuẩn mực thương mại được chấp nhận và sử dụng các chứng từ thương mại hợp pháp một cách phi pháp. Vì vậy, buôn lậu, gian lận thương mại sẽ làm phát sinh những chế tài dân sự, hình sự hoặc hành chính. Thực tế cho thấy, đối tượng của các hành vi buôn lậu, gian lận thương mại đều là hàng hóa có giá trị cao được thực hiện nhằm mục đích trốn thuế gây thất thu ngân sách nhà nước, ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân, doanh thu của doanh nghiệp cũng như ảnh hưởng tới môi trường kinh doanh và môi trường đầu tư trong nước.

Theo Ban Chỉ đạo quốc gia chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả (Ban Chỉ đạo 389 quốc gia). Trong năm 2023, các lực lượng chức năng đã bắt giữ, xử lý hơn 14.600 vụ vi phạm (tăng 4,95% so với năm 2022); gần 130.000 vụ việc vi phạm gian lận thương mại, gian lận về thuế (tăng 4,51%); hơn 5.400 vụ việc sản xuất, mua bán hàng giả (tăng 48%). Đồng thời, các cơ quan chức năng đã khởi tố vụ án hình sự 616 vụ việc (tăng 4,05% so với năm 2022), với 724 đối tượng[3]. Cũng trong năm 2023, lực lượng quản lý thị trường cả nước đã phát hiện và xử lý 52.349 vụ vi phạm (tăng 16% so với năm 2022), thu nộp ngân sách nhà nước gần 500 tỷ đồng (tăng 36% so với năm 2022), giá trị tang vật thu giữ gần 204 tỷ đồng; chuyển cơ quan điều tra 170 vụ có dấu hiệu hình sự (tăng 35% so với năm 2022)[4]. Trong đó, các mặt hàng trọng tâm gồm thuốc lá điếu, bia, rượu, thời trang, mỹ phẩm, thực phẩm chức năng, gỗ xây dựng và cả gia súc, gia cầm, thủy hải sản..., kể cả mặt hàng thuộc danh mục Nhà nước cấm. Những con số trên cho thấy, tình trạng buôn lậu, gian lận thương mại ở trong nước đang diễn ra rất phức tạp. Nhiều vụ việc, vụ án về buôn lậu, gian lận thương mại thời gian qua cũng đã được các lực lượng chức năng phát hiện, xử lý kịp thời, giúp răn đe, phòng ngừa.

2. Một số khó khăn, vướng mắc trong công tác phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại tại Việt Nam

Thực hiện chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và các bộ, ngành liên quan, công tác phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại đã có nhiều cố gắng, từng bước đẩy lùi hoạt động này, bước đầu đã thu được những điểm tích cực. Với sự chủ động trong việc kiểm soát tình hình, cùng với những kết quả đạt được của các lực lượng chức năng trong công tác phòng, chống buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại đã góp phần không nhỏ trong việc ổn định thị trường, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh và tăng thu ngân sách cho Nhà nước; tạo điều kiện cho tăng trưởng kinh tế, góp phần bình ổn thị trường và bảo đảm an sinh xã hội. Tuy nhiên, do những đặc thù địa lý của từng khu vực cũng như trong việc áp dụng cơ chế, chính sách của từng địa phương cùng với các nguyên nhân chủ quan và khách quan khác, tình trạng buôn lậu, gian lận thương mại tại Việt Nam vẫn xảy ra và tiềm ẩn những diễn biến phức tạp, khó lường, đòi hỏi công tác đấu tranh, ngăn chặn các hành vi buôn bán, vận chuyển trái phép hàng hóa, hàng giả, hàng cấm…

Thực tế, có rất nhiều nguyên nhân khiến công tác phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại tại Việt Nam gặp nhiều khó khăn, hạn chế. Cụ thể:

Một là, các lực lượng chức năng đấu tranh phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại còn lúng túng lúng túng, chưa theo kịp được tốc độ thay đổi “liên tục” của loại hình này. Quy định pháp luật về phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại còn chung chung, chưa cụ thể hóa trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là tình trạng buôn lậu qua hình thức thương mại điện tử[5]. Hoạt động quản lý nhà nước về vận chuyển hàng hóa, tiêu thụ hàng hóa buôn lậu do nhiều cơ quan đảm nhiệm theo phạm vi địa lý nên khó thông suốt, bao quát đầy đủ. Để đối phó với các cơ quan chức năng, những đối tượng buôn lậu luôn đổi mới phương thức, thủ đoạn ngày một tinh vi, nhất là lợi dụng những quy định của Nhà nước về tỷ lệ kiểm tra phần trăm (%), kiểm tra xác suất những mặt hàng nhạy cảm của hàng hóa xuất nhập khẩu,… để buôn lậu. Mặt khác, cùng với sức ép của quá trình cải cách thủ tục hành chính theo hướng thông thoáng hơn, thủ tục hải quan và những thay đổi, bất cập trong cơ chế, chính sách đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả công tác của các lực lượng điều tra phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại tại Việt Nam.

Hai là, công tác tổ chức thi hành pháp luật về công tác đấu tranh phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại chưa đồng bộ giữa các lực lượng chức năng, phụ thuộc vào sự quan tâm triển khai riêng lẻ của lực lượng hải quan, Bộ đội biên phòng, quản lý thị trường và các cơ quan khác. Do đó, có lĩnh vực được triển khai thường xuyên, có lĩnh vực lại ít được quan tâm, thậm chí bỏ sót. Ngoài tâm lý ngại khó khăn, sợ sai còn do công tác chỉ đạo, phối hợp giữa các cơ quan hải quan - Công an - Viện kiểm sát chưa kịp thời, có khi giữa các cơ quan này có quan điểm khác nhau khi giải quyết vấn đề làm cho vụ án kéo dài, có khi hết thời gian điều tra, buộc xử lý hành chính.

Ba là, về công tác tổ chức cán bộ: Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ chống buôn lậu, gian lận thương mại của nhiều cán bộ, công chức chưa đáp ứng yêu cầu công việc; chưa được đào tạo cơ bản; ý thức trách nhiệm của một số công chức làm nhiệm vụ này chưa cao; công tác xây dựng cơ sở bí mật chưa được phát huy đúng mức; thiếu chủ động trong việc thu thập nguồn tin, điều tra, xác minh để đề ra biện pháp, xây dựng phương án cụ thể và tổ chức bắt giữ. Bộ phận tham mưu và trực tiếp làm công tác phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại bị thay đổi theo mô hình chung của ngành cùng với việc luân chuyển cán bộ cũng làm ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả công tác đấu tranh chống buôn lậu của các địa phương.

Bốn là, về trang thiết bị cơ sở vật chất, phương tiện hoạt động chống buôn lậu, gian lận thương mại: Nhìn chung, còn yếu kém, hiệu quả thấp so với trang bị của những đối tượng buôn lậu. Việc đầu tư trang thiết bị nhiều trường hợp các địa phương, đặc biệt vùng biên giới chưa phù hợp với điều kiện, địa hình từng vùng. Ví dụ như trường hợp Tổng cục Hải quan chỉ trang bị cho một số tàu tuần tra vận tốc chỉ đạt từ 10 đến 12 hải lý/h, hoạt động rất hạn chế trong mùa mưa bãi. Trong khi đó, tàu của những đối tượng buôn lậu lại có vận tốc cao hơn đạt từ 12 đến 15 hải lý/h, có thể hoạt động dài ngày trên biển, chịu được sóng biển cấp 4, cấp 5 nên việc chống buôn lậu, gian lận thương mại vì thế chưa đem lại hiệu quả cao.

Năm là, công tác tuyên truyền, giáo dục nhân dân về buôn lậu và chống buôn lậu chưa được quan tâm đúng mức, vẫn còn một bộ phận quần chúng nhân dân chưa nhận thức đúng đắn về tác hại của buôn lậu, trong khi đó, có một bộ phận dân cư coi buôn lậu như nghề kiếm sống làm cho việc ngăn chặn buôn lậu, gian lận thương mại của cơ quan chức năng gặp nhiều khó khăn. Thực tế, không ít cá nhân, doanh nghiệp lợi dụng chính sách miễn thuế, giảm thuế đối với cư dân biên giới và một số quy định chưa chặt chẽ trong việc quản lý hóa đơn, chứng từ hàng hóa để thu gom hàng, hợp thức hóa hàng nhập lậu, vận chuyển trái phép vào sâu trong nội địa để tiêu thụ.

3. Nâng cao hiệu quả phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại trong giai đoạn tới

Thứ nhất, thường xuyên rà soát, phân tích các “lỗ hổng” pháp luật, từ đó phát hiện và đề nghị xóa bỏ tối đa các “lỗ hổng” đó nhằm ngăn ngừa buôn lậu, gian lận thương mại.

- Theo quy định của Luật Hải quan năm 2014 thì địa bàn hoạt động hải quan đã bị bó hẹp chỉ còn trong khu vực cửa khẩu, cảng biển, cảng sông quốc tế và các địa điểm làm thủ tục hải quan trong nội địa, trong khi nhiệm vụ của cơ quan hải quan là kiểm soát biên giới, hoạt động buôn lậu, vận chuyển trái phép qua biên giới thường diễn ra ở những nơi hẻo lánh, đi lại khó khăn, chưa bao quát hết các tuyến đường vận chuyển hàng lậu trong nội địa. Do đó, Luật Hải quan năm 2014 cần mở rộng phạm vi địa bàn hoạt động hải quan theo hướng: Địa bàn hoạt động hải quan được xác định đối với tuyến đường bộ, đường biển bao gồm toàn bộ địa giới hành chính cấp xã (xã, phường, thị trấn) tiếp giáp với nước láng giềng, nơi có cảng biển, cửa biển. Hoặc có thể xác định địa bàn trong hoạt động điều tra hình sự của cơ quan hải quan thì địa bàn hoạt động hải quan bao gồm toàn bộ lãnh thổ quốc gia.

- Hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến xuất xứ hàng hóa. Điều 9 Nghị định số 31/2018/NĐ-CP ngày 08/3/2018 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Quản lý ngoại thương về xuất xứ hàng hóa có quy định về công đoạn gia công chế biến đơn giản nhưng không được xét đến khi xác định xuất xứ hàng hóa. Cần hoàn thiện các quy định pháp luật về nhãn hàng hóa tại Nghị định số 43/2017/NĐ-CP ngày 14/4/2017 của Chính phủ về nhãn hàng hóa, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 111/2021/NĐ-CP ngày 09/12/2021 của Chính phủ do chưa quy định tiêu chí để hàng hóa được ghi nhãn sản xuất tại Việt Nam. Nghị định số 31/2018/NĐ-CP đã đưa ra những căn cứ pháp lý cụ thể nhằm xác định một hàng hóa có xuất xứ Việt Nam nhưng không giải thích và hướng dẫn cụ thể về giả mạo xuất xứ Việt Nam khiến cơ quan hải quan gặp khó khăn trong việc áp dụng chế tài xử phạt một cách thống nhất. Ngoài ra, pháp luật Việt Nam chưa có quy định về tiêu chí ghi nhãn nước sản xuất hàng hóa nên khái niệm “hàng Việt Nam” có thể được hiểu như hàng hóa có xuất xứ Việt Nam để hưởng ưu đãi thuế quan theo cam kết hội nhập kinh tế quốc tế hoặc hàng hóa có công đoạn sản xuất tại Việt Nam hoặc cũng có thể hiểu như hàng hóa có thương hiệu của Việt Nam. Vì vậy, những khái niệm này tuy có nội hàm hoàn toàn khác nhau nhưng thường xuyên gây ra nhầm lẫn trong thực tế.

Thứ hai, tăng nặng chế tài xử lý hành vi buôn lậu, gian lận thương mại.

Để “dập tắt” động cơ buôn lậu, gian lận thương mại, Nhà nước cần tăng mức xử phạt vi phạm hành chính, xử lý hình sự với các hành vi vi phạm có giá trị lớn gấp nhiều lần so với giá trị hàng hóa vi phạm, đồng thời đánh mạnh vào đạo đức của đối tượng. Vì vậy, cần cân nhắc quy định mức chế tài vi phạm theo mức xử phạt theo một tỷ lệ phần trăm nhất định trên giá trị lô hàng vi phạm để loại bỏ lợi nhuận của thương nhân, tăng tính răn đe[6].

Thứ ba, tăng cường công tác giáo dục, tuyên truyền pháp luật cho quần chúng nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp.

Để công tác phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại có hiệu quả thì cần có sự tham gia tích cực của quần chúng nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp thông qua việc tăng cường và làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, quy định, quy trình thủ tục với những hình thức, biện pháp và nội dung phù hợp với quần chúng nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp.

Công tác tuyên truyền phải chú trọng đến từng đối tượng, lựa chọn đúng nội dung, hình thức phong phú, hấp dẫn thiết thực với nhu cầu thông tin của nhân dân, cộng đồng, xã hội. Công tác tuyên truyền phải thực sự là “cầu nối” chuyển tải những thông tin của Đảng, Nhà nước tới cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, động viên các tầng lớp nhân dân hăng hái tham gia đẩy lùi nạn buôn lậu, gian lận thương mại. Vì vậy, cần tăng thời lượng, tần suất phát thanh, phát hình trên các phương tiện thông tin đại chúng nhằm phát huy tối đa thế mạnh của báo, đài đối với hoạt động này.

Thứ tư, đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong hoạt động phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại.

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, xu thế hợp tác trở nên phổ biến, là nhu cầu bức thiết không chỉ đối với Việt Nam mà còn là nhu cầu của các nước trên thế giới. Vì vậy, để triển khai có hiệu quả công tác này, cần thực hiện tốt một số biện pháp cụ thể sau:

- Thực hiện tốt việc hợp tác đặc biệt trong lĩnh vực hải quan với các quốc gia, vùng lãnh thổ trên cơ sở thỏa thuận hợp tác song phương đã ký kết và phát huy vai trò đầu mối của Việt Nam tại Văn phòng tình báo khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.

- Chủ động kết nội với các quốc gia, vùng lãnh thổ khác để xúc tiến và nâng tầm mối quan hệ thông qua việc ký kết và thực hiện có hiệu quả các bản ghi nhớ chung, thỏa thuận phối hợp, hợp tác…

Thứ năm, triển khai thực hiện công tác thu thập, xử lý thông tin nghiệp vụ, đặc biệt là nghiệp vụ hải quan có hiệu quả. Đẩy mạnh áp dụng quản lý rủi ro trong công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại là một trong những vấn đề quan trọng đặc biệt trong kế hoạch cải cách, hiện đại hóa hải quan. Bởi lẽ, đây là phương thức quản lý tiên tiến, đem lại lợi ích cho cả hải quan và doanh nghiệp. Việc áp dụng quản lý rủi ro cần sự hợp tác từ cả hai phía hải quan và doanh nghiệp. Ngành Hải quan thông qua áp dụng kỹ thuật quản lý rủi ro hỗ trợ tuân thủ, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp trong hoạt động xuất nhập khẩu. Về phần mình, doanh nghiệp trong cơ chế áp dụng quản lý rủi ro cần tăng cường năng lực chấp hành pháp luật và hợp tác cung cấp, trao đổi thông tin với cơ quan hải quan để góp phần xây dựng môi trường tuân thủ pháp luật hải quan.

Thứ sáu, tích cực đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại.

Để nâng cao năng lực, trình độ của cán bộ, cần thống nhất ban hành bản mô tả chức danh công việc trong tất cả các lĩnh vực chuyên môn của ngành. Trên cơ sở đó, tiến hành rà soát, đánh giá tổng thể yêu cầu của từng bộ phận công tác về số lượng, chất lượng cán bộ. Từ đó, mới có kế hoạch đào tạo, đào tại lại, tuyển dụng mới, điều chuyển để phù hợp từng lĩnh vực chuyên môn nghiệp vụ, trong đó có lĩnh vực kiểm tra thông quan và kiểm soát hải quan. Ngoài chuyên môn thì cần quan tâm thường xuyên giáo dục ý thức trách nhiệm, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, rèn luyện ý chí và ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ hải quan nói chung và cán bộ làm công tác phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại nói riêng. Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm minh các hành vi sai phạm của các cán bộ, công chức. Thực hiện nghiêm túc quy định về chống tham nhũng để phòng ngừa, ngăn chặn tiêu cực trong hoạt động phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại.

Thứ bảy, một số giải pháp khác như:

Cần phối hợp chặt chẽ các bộ phận trong Ngành Hải quan và giữa các cơ quan có thẩm quyền trong việc phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại. Lực lượng hải quan đóng vai trò quan trọng trong công tác phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại. Vì vậy, cần thường xuyên có sự trao đổi thông tin về những âm mưu, phương thức, thủ đoạn của bọn buôn lậu, vận chuyển hàng hóa trái phép qua biên giới và các loại tội phạm khác diễn ra tại các cửa khẩu, biên giới, cảng biển. Vì vậy, ngoài việc tăng cường phối hợp giữa các cơ quan hải quan cấp trên với cấp dưới thì cần đặc biệt chú ý sự phối hợp giữa lực lượng kiểm tra sau thông quan và lực lượng kiểm soát hải quan. Ngoài ra, việc tăng cường phối hợp giữa lực lượng hải quan với các lực lượng chức năng khác cùng phối hợp trong hoạt động phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại như Bộ đội biên phòng, Tổng cục cảnh sát và lực lượng quản lý thị trường…

Cần nghiên cứu, đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại phục vụ công tác kiểm tra, kiểm soát công khai trong quá trình làm thủ tục hải quan và trang thiết bị cho lực lượng chuyên trách chống buôn lậu, gian lận thương mại như: Hình thành các địa điểm kiểm tra hải quan tập trung, đầu tư trang thiết bị phương tiện kiểm tra, kiểm soát hiện đại…./.

Phạm Minh Hải

Bộ đội Biên phòng tỉnh Bình Phước

[1]. Đồng Thị Kim Thoa (2021), Gian lận thương mại trong thương mại quốc tế - Một số vấn đề pháp lý và thực tiễn, Tạp chí Nghề luật, số 11/2021, tr. 75.

[2]. Trung tâm WTO, Cảnh báo gì khi Việt Nam bị kiện tới 20 vụ chống lẩn tránh thuế?, theo trang: https://trungtamwto.vn/hiep-dinh-khac/14715-canh-bao-gi-khi-viet-nam-bi-kien-toi-20-vu-chong-lan-tranh-thue, truy cập ngày 12/6/2024.

[3]. Nguyễn Hằng (2024), Chống buôn lậu, gian lận thương mại vẫn còn nhiều thách thức, theo trang: https://vov.vn/thi-truong/chong-buon-lau-gian-lan-thuong-mai-van-con-nhieu-thach-thuc-post1074609.vov, truy cập ngày 12/6/2024.

[4]. Kim Dung (2024), Đẩy mạnh ngăn chặn buôn lậu, gian lận thương mại, theo trang: https://dangcongsan.vn/kinh-te/day-manh-ngan-chan-buon-lau-gian-lan-thuong-mai-657682.html, truy cập ngày 12/6/2024.

[5].Xem:https://thoibaotaichinhvietnam.vn/muon-hinh-van-trang-gian-lan-tren-moi-truong-thuong-mai-dien-tu-135955-135955.html, truy cập ngày 20/4/2024.

[6]. Trần Việt Dũng (2023), Gian lận thương mại trong quá trình thực thi các hiệp định tự do thương mại: Những nguy cơ, rủi ro và giải pháp cho Việt Nam, Tạp chí Khoa học pháp lý Việt Nam, số 01/2023, tr. 89.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 408), tháng 7/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.

Theo dõi chúng tôi trên: