Thứ ba 13/10/2026 11:09
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại tại Việt Nam

Bài viết đề cập thực trạng tệ nạn buôn lậu, gian lận thương mại tại Việt Nam và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại tại Việt Nam.

1. Thực trạng buôn lậu, gian lận thương mại tại Việt Nam

Buôn lậu được hiểu là gian lận thương mại nhằm mục đích che giấu sự kiểm tra, kiểm soát của hải quan bằng mọi thủ đoạn, phương tiện trong việc đưa hàng hóa lén lút qua biên giới. Tuy nhiên, thực tế chưa có định nghĩa thống nhất nào về vấn đề gian lận thương mại. Hành vi gian lận thương mại có thể xuất hiện ở cả trong hoạt động nội bộ doanh nghiệp và trong giao dịch kinh doanh thương mại bên ngoài của doanh nghiệp, ở trong nội địa một quốc gia nhất định hoặc có thể ở nước ngoài (thương mại xuyên biên giới)[1]. Đối với hành vi gian lận chống lại doanh nghiệp bởi những người nội bộ của tổ chức, thường có ba loại chính là tham nhũng, biển thủ tài sản và làm sai lệch báo cáo tài chính. Riêng đối với hoạt động thương mại quốc tế, gian lận có thể xảy ra trong một số lĩnh vực và hình thức như: Gian lận về thuế - hải quan, gian lận về thanh toán và tài trợ thương mại, gian lận về nguồn gốc xuất xứ hàng hóa, gian lận về quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến hàng hóa, hay gần đây là lẩn tránh các biện pháp phòng vệ thương mại dưới nhiều cách thức[2].

Hoạt động buôn lậu, gian lận thương mại là những hành vi thương mại đi chệch nghiêm trọng các chuẩn mực thương mại được chấp nhận và sử dụng các chứng từ thương mại hợp pháp một cách phi pháp. Vì vậy, buôn lậu, gian lận thương mại sẽ làm phát sinh những chế tài dân sự, hình sự hoặc hành chính. Thực tế cho thấy, đối tượng của các hành vi buôn lậu, gian lận thương mại đều là hàng hóa có giá trị cao được thực hiện nhằm mục đích trốn thuế gây thất thu ngân sách nhà nước, ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân, doanh thu của doanh nghiệp cũng như ảnh hưởng tới môi trường kinh doanh và môi trường đầu tư trong nước.

Theo Ban Chỉ đạo quốc gia chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả (Ban Chỉ đạo 389 quốc gia). Trong năm 2023, các lực lượng chức năng đã bắt giữ, xử lý hơn 14.600 vụ vi phạm (tăng 4,95% so với năm 2022); gần 130.000 vụ việc vi phạm gian lận thương mại, gian lận về thuế (tăng 4,51%); hơn 5.400 vụ việc sản xuất, mua bán hàng giả (tăng 48%). Đồng thời, các cơ quan chức năng đã khởi tố vụ án hình sự 616 vụ việc (tăng 4,05% so với năm 2022), với 724 đối tượng[3]. Cũng trong năm 2023, lực lượng quản lý thị trường cả nước đã phát hiện và xử lý 52.349 vụ vi phạm (tăng 16% so với năm 2022), thu nộp ngân sách nhà nước gần 500 tỷ đồng (tăng 36% so với năm 2022), giá trị tang vật thu giữ gần 204 tỷ đồng; chuyển cơ quan điều tra 170 vụ có dấu hiệu hình sự (tăng 35% so với năm 2022)[4]. Trong đó, các mặt hàng trọng tâm gồm thuốc lá điếu, bia, rượu, thời trang, mỹ phẩm, thực phẩm chức năng, gỗ xây dựng và cả gia súc, gia cầm, thủy hải sản..., kể cả mặt hàng thuộc danh mục Nhà nước cấm. Những con số trên cho thấy, tình trạng buôn lậu, gian lận thương mại ở trong nước đang diễn ra rất phức tạp. Nhiều vụ việc, vụ án về buôn lậu, gian lận thương mại thời gian qua cũng đã được các lực lượng chức năng phát hiện, xử lý kịp thời, giúp răn đe, phòng ngừa.

2. Một số khó khăn, vướng mắc trong công tác phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại tại Việt Nam

Thực hiện chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và các bộ, ngành liên quan, công tác phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại đã có nhiều cố gắng, từng bước đẩy lùi hoạt động này, bước đầu đã thu được những điểm tích cực. Với sự chủ động trong việc kiểm soát tình hình, cùng với những kết quả đạt được của các lực lượng chức năng trong công tác phòng, chống buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại đã góp phần không nhỏ trong việc ổn định thị trường, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh và tăng thu ngân sách cho Nhà nước; tạo điều kiện cho tăng trưởng kinh tế, góp phần bình ổn thị trường và bảo đảm an sinh xã hội. Tuy nhiên, do những đặc thù địa lý của từng khu vực cũng như trong việc áp dụng cơ chế, chính sách của từng địa phương cùng với các nguyên nhân chủ quan và khách quan khác, tình trạng buôn lậu, gian lận thương mại tại Việt Nam vẫn xảy ra và tiềm ẩn những diễn biến phức tạp, khó lường, đòi hỏi công tác đấu tranh, ngăn chặn các hành vi buôn bán, vận chuyển trái phép hàng hóa, hàng giả, hàng cấm…

Thực tế, có rất nhiều nguyên nhân khiến công tác phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại tại Việt Nam gặp nhiều khó khăn, hạn chế. Cụ thể:

Một là, các lực lượng chức năng đấu tranh phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại còn lúng túng lúng túng, chưa theo kịp được tốc độ thay đổi “liên tục” của loại hình này. Quy định pháp luật về phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại còn chung chung, chưa cụ thể hóa trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là tình trạng buôn lậu qua hình thức thương mại điện tử[5]. Hoạt động quản lý nhà nước về vận chuyển hàng hóa, tiêu thụ hàng hóa buôn lậu do nhiều cơ quan đảm nhiệm theo phạm vi địa lý nên khó thông suốt, bao quát đầy đủ. Để đối phó với các cơ quan chức năng, những đối tượng buôn lậu luôn đổi mới phương thức, thủ đoạn ngày một tinh vi, nhất là lợi dụng những quy định của Nhà nước về tỷ lệ kiểm tra phần trăm (%), kiểm tra xác suất những mặt hàng nhạy cảm của hàng hóa xuất nhập khẩu,… để buôn lậu. Mặt khác, cùng với sức ép của quá trình cải cách thủ tục hành chính theo hướng thông thoáng hơn, thủ tục hải quan và những thay đổi, bất cập trong cơ chế, chính sách đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả công tác của các lực lượng điều tra phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại tại Việt Nam.

Hai là, công tác tổ chức thi hành pháp luật về công tác đấu tranh phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại chưa đồng bộ giữa các lực lượng chức năng, phụ thuộc vào sự quan tâm triển khai riêng lẻ của lực lượng hải quan, Bộ đội biên phòng, quản lý thị trường và các cơ quan khác. Do đó, có lĩnh vực được triển khai thường xuyên, có lĩnh vực lại ít được quan tâm, thậm chí bỏ sót. Ngoài tâm lý ngại khó khăn, sợ sai còn do công tác chỉ đạo, phối hợp giữa các cơ quan hải quan - Công an - Viện kiểm sát chưa kịp thời, có khi giữa các cơ quan này có quan điểm khác nhau khi giải quyết vấn đề làm cho vụ án kéo dài, có khi hết thời gian điều tra, buộc xử lý hành chính.

Ba là, về công tác tổ chức cán bộ: Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ chống buôn lậu, gian lận thương mại của nhiều cán bộ, công chức chưa đáp ứng yêu cầu công việc; chưa được đào tạo cơ bản; ý thức trách nhiệm của một số công chức làm nhiệm vụ này chưa cao; công tác xây dựng cơ sở bí mật chưa được phát huy đúng mức; thiếu chủ động trong việc thu thập nguồn tin, điều tra, xác minh để đề ra biện pháp, xây dựng phương án cụ thể và tổ chức bắt giữ. Bộ phận tham mưu và trực tiếp làm công tác phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại bị thay đổi theo mô hình chung của ngành cùng với việc luân chuyển cán bộ cũng làm ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả công tác đấu tranh chống buôn lậu của các địa phương.

Bốn là, về trang thiết bị cơ sở vật chất, phương tiện hoạt động chống buôn lậu, gian lận thương mại: Nhìn chung, còn yếu kém, hiệu quả thấp so với trang bị của những đối tượng buôn lậu. Việc đầu tư trang thiết bị nhiều trường hợp các địa phương, đặc biệt vùng biên giới chưa phù hợp với điều kiện, địa hình từng vùng. Ví dụ như trường hợp Tổng cục Hải quan chỉ trang bị cho một số tàu tuần tra vận tốc chỉ đạt từ 10 đến 12 hải lý/h, hoạt động rất hạn chế trong mùa mưa bãi. Trong khi đó, tàu của những đối tượng buôn lậu lại có vận tốc cao hơn đạt từ 12 đến 15 hải lý/h, có thể hoạt động dài ngày trên biển, chịu được sóng biển cấp 4, cấp 5 nên việc chống buôn lậu, gian lận thương mại vì thế chưa đem lại hiệu quả cao.

Năm là, công tác tuyên truyền, giáo dục nhân dân về buôn lậu và chống buôn lậu chưa được quan tâm đúng mức, vẫn còn một bộ phận quần chúng nhân dân chưa nhận thức đúng đắn về tác hại của buôn lậu, trong khi đó, có một bộ phận dân cư coi buôn lậu như nghề kiếm sống làm cho việc ngăn chặn buôn lậu, gian lận thương mại của cơ quan chức năng gặp nhiều khó khăn. Thực tế, không ít cá nhân, doanh nghiệp lợi dụng chính sách miễn thuế, giảm thuế đối với cư dân biên giới và một số quy định chưa chặt chẽ trong việc quản lý hóa đơn, chứng từ hàng hóa để thu gom hàng, hợp thức hóa hàng nhập lậu, vận chuyển trái phép vào sâu trong nội địa để tiêu thụ.

3. Nâng cao hiệu quả phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại trong giai đoạn tới

Thứ nhất, thường xuyên rà soát, phân tích các “lỗ hổng” pháp luật, từ đó phát hiện và đề nghị xóa bỏ tối đa các “lỗ hổng” đó nhằm ngăn ngừa buôn lậu, gian lận thương mại.

- Theo quy định của Luật Hải quan năm 2014 thì địa bàn hoạt động hải quan đã bị bó hẹp chỉ còn trong khu vực cửa khẩu, cảng biển, cảng sông quốc tế và các địa điểm làm thủ tục hải quan trong nội địa, trong khi nhiệm vụ của cơ quan hải quan là kiểm soát biên giới, hoạt động buôn lậu, vận chuyển trái phép qua biên giới thường diễn ra ở những nơi hẻo lánh, đi lại khó khăn, chưa bao quát hết các tuyến đường vận chuyển hàng lậu trong nội địa. Do đó, Luật Hải quan năm 2014 cần mở rộng phạm vi địa bàn hoạt động hải quan theo hướng: Địa bàn hoạt động hải quan được xác định đối với tuyến đường bộ, đường biển bao gồm toàn bộ địa giới hành chính cấp xã (xã, phường, thị trấn) tiếp giáp với nước láng giềng, nơi có cảng biển, cửa biển. Hoặc có thể xác định địa bàn trong hoạt động điều tra hình sự của cơ quan hải quan thì địa bàn hoạt động hải quan bao gồm toàn bộ lãnh thổ quốc gia.

- Hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến xuất xứ hàng hóa. Điều 9 Nghị định số 31/2018/NĐ-CP ngày 08/3/2018 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Quản lý ngoại thương về xuất xứ hàng hóa có quy định về công đoạn gia công chế biến đơn giản nhưng không được xét đến khi xác định xuất xứ hàng hóa. Cần hoàn thiện các quy định pháp luật về nhãn hàng hóa tại Nghị định số 43/2017/NĐ-CP ngày 14/4/2017 của Chính phủ về nhãn hàng hóa, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 111/2021/NĐ-CP ngày 09/12/2021 của Chính phủ do chưa quy định tiêu chí để hàng hóa được ghi nhãn sản xuất tại Việt Nam. Nghị định số 31/2018/NĐ-CP đã đưa ra những căn cứ pháp lý cụ thể nhằm xác định một hàng hóa có xuất xứ Việt Nam nhưng không giải thích và hướng dẫn cụ thể về giả mạo xuất xứ Việt Nam khiến cơ quan hải quan gặp khó khăn trong việc áp dụng chế tài xử phạt một cách thống nhất. Ngoài ra, pháp luật Việt Nam chưa có quy định về tiêu chí ghi nhãn nước sản xuất hàng hóa nên khái niệm “hàng Việt Nam” có thể được hiểu như hàng hóa có xuất xứ Việt Nam để hưởng ưu đãi thuế quan theo cam kết hội nhập kinh tế quốc tế hoặc hàng hóa có công đoạn sản xuất tại Việt Nam hoặc cũng có thể hiểu như hàng hóa có thương hiệu của Việt Nam. Vì vậy, những khái niệm này tuy có nội hàm hoàn toàn khác nhau nhưng thường xuyên gây ra nhầm lẫn trong thực tế.

Thứ hai, tăng nặng chế tài xử lý hành vi buôn lậu, gian lận thương mại.

Để “dập tắt” động cơ buôn lậu, gian lận thương mại, Nhà nước cần tăng mức xử phạt vi phạm hành chính, xử lý hình sự với các hành vi vi phạm có giá trị lớn gấp nhiều lần so với giá trị hàng hóa vi phạm, đồng thời đánh mạnh vào đạo đức của đối tượng. Vì vậy, cần cân nhắc quy định mức chế tài vi phạm theo mức xử phạt theo một tỷ lệ phần trăm nhất định trên giá trị lô hàng vi phạm để loại bỏ lợi nhuận của thương nhân, tăng tính răn đe[6].

Thứ ba, tăng cường công tác giáo dục, tuyên truyền pháp luật cho quần chúng nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp.

Để công tác phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại có hiệu quả thì cần có sự tham gia tích cực của quần chúng nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp thông qua việc tăng cường và làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, quy định, quy trình thủ tục với những hình thức, biện pháp và nội dung phù hợp với quần chúng nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp.

Công tác tuyên truyền phải chú trọng đến từng đối tượng, lựa chọn đúng nội dung, hình thức phong phú, hấp dẫn thiết thực với nhu cầu thông tin của nhân dân, cộng đồng, xã hội. Công tác tuyên truyền phải thực sự là “cầu nối” chuyển tải những thông tin của Đảng, Nhà nước tới cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, động viên các tầng lớp nhân dân hăng hái tham gia đẩy lùi nạn buôn lậu, gian lận thương mại. Vì vậy, cần tăng thời lượng, tần suất phát thanh, phát hình trên các phương tiện thông tin đại chúng nhằm phát huy tối đa thế mạnh của báo, đài đối với hoạt động này.

Thứ tư, đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong hoạt động phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại.

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, xu thế hợp tác trở nên phổ biến, là nhu cầu bức thiết không chỉ đối với Việt Nam mà còn là nhu cầu của các nước trên thế giới. Vì vậy, để triển khai có hiệu quả công tác này, cần thực hiện tốt một số biện pháp cụ thể sau:

- Thực hiện tốt việc hợp tác đặc biệt trong lĩnh vực hải quan với các quốc gia, vùng lãnh thổ trên cơ sở thỏa thuận hợp tác song phương đã ký kết và phát huy vai trò đầu mối của Việt Nam tại Văn phòng tình báo khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.

- Chủ động kết nội với các quốc gia, vùng lãnh thổ khác để xúc tiến và nâng tầm mối quan hệ thông qua việc ký kết và thực hiện có hiệu quả các bản ghi nhớ chung, thỏa thuận phối hợp, hợp tác…

Thứ năm, triển khai thực hiện công tác thu thập, xử lý thông tin nghiệp vụ, đặc biệt là nghiệp vụ hải quan có hiệu quả. Đẩy mạnh áp dụng quản lý rủi ro trong công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại là một trong những vấn đề quan trọng đặc biệt trong kế hoạch cải cách, hiện đại hóa hải quan. Bởi lẽ, đây là phương thức quản lý tiên tiến, đem lại lợi ích cho cả hải quan và doanh nghiệp. Việc áp dụng quản lý rủi ro cần sự hợp tác từ cả hai phía hải quan và doanh nghiệp. Ngành Hải quan thông qua áp dụng kỹ thuật quản lý rủi ro hỗ trợ tuân thủ, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp trong hoạt động xuất nhập khẩu. Về phần mình, doanh nghiệp trong cơ chế áp dụng quản lý rủi ro cần tăng cường năng lực chấp hành pháp luật và hợp tác cung cấp, trao đổi thông tin với cơ quan hải quan để góp phần xây dựng môi trường tuân thủ pháp luật hải quan.

Thứ sáu, tích cực đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại.

Để nâng cao năng lực, trình độ của cán bộ, cần thống nhất ban hành bản mô tả chức danh công việc trong tất cả các lĩnh vực chuyên môn của ngành. Trên cơ sở đó, tiến hành rà soát, đánh giá tổng thể yêu cầu của từng bộ phận công tác về số lượng, chất lượng cán bộ. Từ đó, mới có kế hoạch đào tạo, đào tại lại, tuyển dụng mới, điều chuyển để phù hợp từng lĩnh vực chuyên môn nghiệp vụ, trong đó có lĩnh vực kiểm tra thông quan và kiểm soát hải quan. Ngoài chuyên môn thì cần quan tâm thường xuyên giáo dục ý thức trách nhiệm, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, rèn luyện ý chí và ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ hải quan nói chung và cán bộ làm công tác phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại nói riêng. Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm minh các hành vi sai phạm của các cán bộ, công chức. Thực hiện nghiêm túc quy định về chống tham nhũng để phòng ngừa, ngăn chặn tiêu cực trong hoạt động phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại.

Thứ bảy, một số giải pháp khác như:

Cần phối hợp chặt chẽ các bộ phận trong Ngành Hải quan và giữa các cơ quan có thẩm quyền trong việc phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại. Lực lượng hải quan đóng vai trò quan trọng trong công tác phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại. Vì vậy, cần thường xuyên có sự trao đổi thông tin về những âm mưu, phương thức, thủ đoạn của bọn buôn lậu, vận chuyển hàng hóa trái phép qua biên giới và các loại tội phạm khác diễn ra tại các cửa khẩu, biên giới, cảng biển. Vì vậy, ngoài việc tăng cường phối hợp giữa các cơ quan hải quan cấp trên với cấp dưới thì cần đặc biệt chú ý sự phối hợp giữa lực lượng kiểm tra sau thông quan và lực lượng kiểm soát hải quan. Ngoài ra, việc tăng cường phối hợp giữa lực lượng hải quan với các lực lượng chức năng khác cùng phối hợp trong hoạt động phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại như Bộ đội biên phòng, Tổng cục cảnh sát và lực lượng quản lý thị trường…

Cần nghiên cứu, đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại phục vụ công tác kiểm tra, kiểm soát công khai trong quá trình làm thủ tục hải quan và trang thiết bị cho lực lượng chuyên trách chống buôn lậu, gian lận thương mại như: Hình thành các địa điểm kiểm tra hải quan tập trung, đầu tư trang thiết bị phương tiện kiểm tra, kiểm soát hiện đại…./.

Phạm Minh Hải

Bộ đội Biên phòng tỉnh Bình Phước

[1]. Đồng Thị Kim Thoa (2021), Gian lận thương mại trong thương mại quốc tế - Một số vấn đề pháp lý và thực tiễn, Tạp chí Nghề luật, số 11/2021, tr. 75.

[2]. Trung tâm WTO, Cảnh báo gì khi Việt Nam bị kiện tới 20 vụ chống lẩn tránh thuế?, theo trang: https://trungtamwto.vn/hiep-dinh-khac/14715-canh-bao-gi-khi-viet-nam-bi-kien-toi-20-vu-chong-lan-tranh-thue, truy cập ngày 12/6/2024.

[3]. Nguyễn Hằng (2024), Chống buôn lậu, gian lận thương mại vẫn còn nhiều thách thức, theo trang: https://vov.vn/thi-truong/chong-buon-lau-gian-lan-thuong-mai-van-con-nhieu-thach-thuc-post1074609.vov, truy cập ngày 12/6/2024.

[4]. Kim Dung (2024), Đẩy mạnh ngăn chặn buôn lậu, gian lận thương mại, theo trang: https://dangcongsan.vn/kinh-te/day-manh-ngan-chan-buon-lau-gian-lan-thuong-mai-657682.html, truy cập ngày 12/6/2024.

[5].Xem:https://thoibaotaichinhvietnam.vn/muon-hinh-van-trang-gian-lan-tren-moi-truong-thuong-mai-dien-tu-135955-135955.html, truy cập ngày 20/4/2024.

[6]. Trần Việt Dũng (2023), Gian lận thương mại trong quá trình thực thi các hiệp định tự do thương mại: Những nguy cơ, rủi ro và giải pháp cho Việt Nam, Tạp chí Khoa học pháp lý Việt Nam, số 01/2023, tr. 89.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 408), tháng 7/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: