Thứ ba 25/08/2026 18:54
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vấn đề pháp lý về môi giới thương mại điện tử trong xu hướng “kinh tế chia sẻ”

Tóm tắt: Lợi ích của môi giới thương mại điện tử trong xu hướng “kinh tế chia sẻ” đối với người tiêu dùng và thị trường là không thể phủ nhận, tuy nhiên, việc thiếu các quy định pháp lý đang gây ra những vấn đề bất cập về chủ thể môi giới, chủ thể được môi giới, nghĩa vụ nộp thuế. Bài viết khẳng định môi giới thương mại điện tử là hoạt động được phép kinh doanh, đồng thời nêu các vấn đề pháp lý cần được nghiên cứu hoàn thiện.

Abstract: Benefits of e-commerce brokerage in “sharing economy” trend to the consumers on the market are undeniable. However, the lack of legal provisions for e-commerce brokerage causes difficulties relating to the brokers, the clients and the tax obligation. The paper affirms that e-commerce brokerage is a permitted business and discusses legal issues that need to be researched and completed.

1. Đặt vấn đề

Xu hướng “kinh tế chia sẻ” (sharing economy) mới xuất hiện nhưng có tốc độ phát triển khá nhanh và ngày càng trở nên phổ biến ở các nước. Nó là một mô hình thị trường kết hợp giữa sở hữu và chia sẻ, trong đó đề cập đến vai trò ngang hàng (peer - to - peer network) dựa trên sự chia sẻ quyền sử dụng hàng hóa và dịch vụ nhằm gia tăng lợi ích cho các bên tham gia[1].

Trong xu hướng phát triển của nền “kinh tế chia sẻ”, hoạt động môi giới thương mại trên thị trường bắt đầu xuất hiện cách thức mới - được thực hiện thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu - gọi là hoạt động môi giới thương mại điện tử. Với ưu điểm tiện lợi, nhanh chóng và không bó hẹp trong khuôn khổ biên giới quốc gia, ngày nay dịch vụ môi giới thương mại điện tử có nhiều thay đổi về phương diện hoạt động.

Hoạt động môi giới thương mại điện tử mang lại thiết thực lợi ích cho các bên:

(i) Người tiêu dùng tiết kiệm chi phí so với cách thức mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ truyền thống; có thể biết toàn bộ thông tin về cung cấp hàng hóa, dịch vụ và phản ánh về thái độ của bên cung cấp hàng hóa, dịch vụ;

(ii) Bên cung cấp hàng hóa, dịch vụ cơ hội kiếm thêm thu nhập;

(iii) Nhà nước: Hoạt động môi giới thương mại điện tử nếu được quy định rõ ràng và quản lý chặt chẽ sẽ đóng góp cho ngân sách nhà nước khoản thuế nhất định;

(iv) Đối với thị trường mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ: “kinh tế chia sẻ” cùng hoạt động môi giới thương mại điện tử sẽ tạo ra áp lực cạnh tranh rất lớn đối với các công ty kinh doanh hàng hóa, dịch vụ truyền thống (các công ty kinh doanh taxi, chuỗi khách sạn, nhà hàng…).

Tại Việt Nam, mô hình “kinh tế chia sẻ” xuất hiện với sự góp mặt của các công ty như Uber, Grab, Airbnb, Triip.me, Travelmob… Đó là các công ty đóng vai trò kết nối giữa người có nhu cầu sử dụng và những người có nhu cầu cho sử dụng phương tiện đi lại, nhà ở, phòng ngủ hay các tài sản khác.

2. Vấn đề pháp lý đặt ra đối với hoạt động môi giới thương mại điện tử trong xu hướng “kinh tế chia sẻ”

2.1. Tính hợp pháp của hoạt động môi giới thương mại điện tử

Nếu chủ thể hoạt động môi giới thương mại điện tử chỉ giao kết với các thương nhân đã đáp ứng đủ điều kiện kinh doanh thì sẽ không có nhiều vấn đề cần đặt ra về tính pháp lý. Tuy nhiên, các chủ thể hoạt động môi giới thương mại điện tử còn tiến hành hoạt động môi giới cho đối tượng chủ sở hữu hàng hóa, dịch vụ đang nhàn rỗi, có nhu cầu kiếm thêm thu nhập. Các chủ thể này hoạt động độc lập, không phải là thương nhân, không có đăng ký kinh doanh với cơ quan nhà nước. Với hình thức kinh doanh kiểu mới, thông qua môi giới thương mại điện tử, những chủ thể không đáp ứng đủ tiêu chuẩn, điều kiện kinh doanh vẫn có thể tham gia thị trường. Đây là nguyên nhân gây ra sự tranh cãi về tính hợp pháp của một số hoạt động môi giới thương mại điện tử, cụ thể như trường hợp của Uber.

Theo Điều 6 Luật Đầu tư năm 2014, hoạt động môi giới nói chung không phải là 01 trong 06 ngành nghề cấm đầu tư kinh doanh, vì vậy, sẽ là thiếu căn cứ pháp lý nếu cho rằng hoạt động môi giới điện tử liên quan đến ngành nghề kinh doanh có điều kiện nên bị cấm. Bên cạnh đó, khoản 3 Điều 151 Luật Thương mại năm 2005 quy định bên môi giới thương mại có nghĩa vụ “chịu trách nhiệm về tư cách pháp lý của các bên được môi giới”. Câu hỏi đặt ra là chủ thể môi giới thương mại điện tử liên quan đến ngành nghề kinh doanh có điều kiện có vi phạm nghĩa vụ của bên môi giới không? Họ có thể lý giải về tiêu chí kết nối với người sở hữu phương tiện, đồ dùng, phòng ngủ… mà họ nhàn rỗi hay cùng tuyến đường để phản biện lại - đó là quan hệ dân sự chứ không phải là hoạt động thương mại do thiếu yếu tố “thực hiện thường xuyên, mang tính nghề nghiệp”. Nhưng đây là lý do võ đoán và thiếu tính thuyết phục vì rất khó xác thực trên thực tế.

2.2. Sự thống nhất về bản chất của hoạt động môi giới thương mại điện tử

Hoạt động môi giới thương mại điện tử không chỉ là hoạt động thương mại đơn thuần mà có tính mới, thể hiện ở việc sử dụng ứng dụng công nghệ phục vụ việc kết nối các chủ thể trong quan hệ chia sẻ quyền sử dụng hàng hóa, dịch vụ. Đặc biệt, khi hoạt động môi giới liên quan đến các ngành nghề kinh doanh có điều kiện, hai quan điểm hiện nay cho rằng: (i) Nó là hoạt động môi giới thương mại; (ii) Nó là hoạt động kinh doanh ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Cho đến thời điểm hiện tại, người ta vẫn còn tranh cãi với nhau rất kịch liệt xung quanh vấn đề Uber tiến hành hoạt động môi giới kết nối vận tải hay kinh doanh dịch vụ vận tải hành khách.

Theo quan điểm của tác giả, các chủ thể mà thiết lập cơ sở hạ tầng kỹ thuật tạo ra môi trường ảo, thu hút những người có nhu cầu chia sẻ quyền sử dụng hàng hóa, dịch vụ, họ đang kinh doanh dịch vụ môi giới thương mại điện tử vì hai lý do sau:

- Những người sở hữu hàng hóa, dịch vụ có nhu cầu chia sẻ quyền sử dụng (bên được môi giới), độc lập với các doanh nghiệp tạo ra các website, ứng dụng phục vụ cho việc chia sẻ quyền sử dụng hàng hóa, dịch vụ (bên môi giới). Bên được môi giới nhân danh chính mình tham gia vào giao dịch với người tiêu dùng, khách hàng chứ không tham gia nhân danh bên môi giới.

- Các doanh nghiệp cung cấp website, ứng dụng phục vụ cho việc chia sẻ quyền sử dụng hàng hóa, dịch vụ không sở hữu hàng hóa, dịch vụ. Họ chỉ tiến hành các hoạt động thúc đẩy, tạo điều kiện cho các bên có nhu cầu giao kết hợp đồng với nhau. Tiền thanh toán cho việc chia sẻ sử dụng hàng hóa, dịch vụ hoặc là được các bên thanh toán trực tiếp với nhau, hoặc là bên môi giới thu hộ cho chủ sở hữu thông qua hệ thống thanh toán điện tử. Họ chỉ nhận thù lao từ các giao dịch đã được môi giới thành công.

2.3. Vấn đề quản lý thuế đối với hoạt động môi giới thương mại điện tử

Hiện nay vẫn có những dịch vụ mà cơ quan thuế còn lúng túng trong việc thu thuế bởi vì sự phức tạp tinh vi trong cách thức tiến hành kinh doanh của nó, điển hình là Uber và Airbnb. Đối với Uber, Uber đã thành lập công ty con tại Hà Lan và chuyển quyền sở hữu các chi nhánh tại các nước về công ty này mục đích để chuyển mọi nguồn thu bên ngoài nước Mỹ chủ yếu về Hà Lan và tránh được hệ thống thuế của Mỹ. Công ty con của Uber tại các nước chỉ là doanh nghiệp hoạt động tư vấn, quản lý về các hoạt động của Uber Hà Lan, chỉ nhận tiền được trả từ Uber Hà Lan cho phí quản lý của họ tại các quốc gia. Đây là lý do mà công ty Uber Việt Nam đã từng đưa ra khi cho rằng thuế thu nhập doanh nghiệp mà họ phải nộp chỉ tính trên doanh thu từ thù lao quản lý. Một lượng lớn lợi nhuận từ thù lao môi giới cho hoạt động vận tải diễn ra tại Việt Nam được Uber Việt Nam đã từng cho rằng không phải nộp thuế. Đối với Airbnb, mỗi giao dịch cho thuê nhà thành công, Airbnb giữ lại lợi nhuận 13%. Airbnb đặt chủ sở chính tại Ireland nhằm tránh được cả hai mức thuế cao nhất là 35% theo thuế Mỹ và 12,5% theo thuế thu nhập Ireland. Tiền giao dịch của Airbnb tại 190 quốc gia được chuyển thẳng tới một trung tâm thanh toán tại Ireland cho phép che giấu được hầu hết các khoản lợi nhuận tại hầu hết các quốc gia[2].

Hầu hết các hoạt động trong môi giới thương mại điện tử chủ yếu sử dụng hình thức thanh toán quốc tế về thương mại bằng thẻ nên việc kiểm soát của cơ quan nhà nước và ngay cả ngân hàng đang gặp khó khăn.

Các quy định về nghĩa vụ thuế hiện hành về kinh doanh thương mại điện tử xuyên biên giới ở Việt Nam đã có nhưng được hướng dẫn chung chung cho tất cả các nhà thầu, nhà thầu phụ nước ngoài có phát sinh nghĩa vụ thuế mà chưa có văn bản hướng dẫn đặc thù trong quản lý, kê khai, thu nộp, quản lý thuế riêng cho hoạt động kinh doanh thương mại điện tử, sàn giao dịch thương mại điện tử. Trong thực tế, việc thu thuế còn gặp khó khăn, cách hiểu còn khác nhau3.

Vì vậy, cần có sự phối kết hợp giữa các cơ quan liên quan như Tổng Cục thuế, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các ngân hàng thương mại để có thể quản lý doanh thu được thực hiện qua tài khoản.

2.4. Vấn đề kiểm soát minh bạch thông tin các doanh nghiệp

Các công ty môi giới thương mại điện tử nắm trong tay cơ sở dữ liệu lớn về khách hàng mà không có bất cứ cơ quan nào khác có thể tham chiếu. Bên cạnh đó, đặc trưng trong quá trình hoạt động cho phép công ty này tổ chức quản lý dưới mô hình các công ty tư nhân. Họ có thể điều chỉnh linh hoạt, không phải báo cáo số liệu với cổ đông, không bị kiểm toán độc lập và không bị giám sát tài khoản. Chính vì vậy, các thông tin mà những công ty này công bố sẽ mất nhiều thời gian để kiểm chứng dựa trên điều tra độc lập.

3. Đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động môi giới thương mại điện tử

Hoạt động môi giới thương mại điện tử trong xu hướng “kinh tế chia sẻ” là sự phát triển tất yếu phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Nó giúp giảm thiểu tối đa chi phí sản xuất, đem lại lợi ích cho người tiêu dùng khi họ được hưởng sản phẩm chất lượng tốt, tiết tiệm chi phí. Chính vì vậy, cần hoàn thiện pháp luật, tạo khung pháp lý cho hoạt động môi giới thương mại điện tử theo những định hướng sau:

Thứ nhất, cần xây dựng các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động môi giới thương mại điện tử trong hệ thống văn bản pháp luật về thương mại điện tử.

Hoạt động môi giới thương mại điện tử vừa chịu sự điều chỉnh của các quy định pháp luật thương mại về hoạt động môi giới, vừa chịu sự điều chỉnh của các quy định pháp luật thương mại điện tử. Tuy nhiên, khi hai hệ thống pháp luật trên cùng điều chỉnh hoạt động môi giới thương mại điện tử sẽ không tránh khỏi thực trạng chồng chéo, mâu thuẫn và thiếu các quy định pháp luật. Trong thời gian vừa qua, tồn tại các quan điểm trái chiều về tính pháp lý của hoạt động này không chỉ ở nước ta mà còn ở nhiều nước trên thế giới. Vì vậy, cần thiết hoàn thiện thêm các quy định về hoạt động môi giới thương mại điện tử. Sẽ phù hợp hơn nếu các quy định này được hoàn thiện trong hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh thương mại điện tử.

Thứ hai, cần quy định rõ điều kiện đối với chủ thể môi giới và chủ thể được môi giới.

Vướng mắc nhất hiện nay đối với hoạt động môi giới thương mại điện tử trong xu hướng “kinh tế chia sẻ” là việc chưa quy định rõ ràng về điều kiện của chủ thể tham gia. Điều đó gây ra sự hoài nghi về tình trạng cạnh tranh không không bằng với các chủ thể kinh doanh hàng hóa, dịch vụ truyền thống. trốn thuế, không minh bạch thông tin, không đảm bảo an toàn cao cho khách hàng…

Do vậy, cần xác định rõ điều kiện của chủ thể môi giới như: Đăng ký kinh doanh với cơ quan nhà nước; đăng ký hoạt động sàn giao dịch thương mại điện tử mà mình tạo lập để tiến hành môi giới, đảm bảo và chịu trách nhiệm về tư cách pháp lý của chủ thể được môi giới. Ngoài ra, hoạt động môi giới thương mại điện tử không tồn tại ranh giới lãnh thổ quốc gia. Điều đó dễ nảy sinh các vấn đề pháp lý phức tạp liên quan đến nghĩa vụ nộp thuế, ràng buộc trách nhiệm pháp lý với các bên liên quan…Điều kiện của chủ thể môi giới truyền thống chưa thể giải quyết được mục tiêu trên. Với tư cách là chủ thể môi giới thương mại điện tử, đặc biệt khi môi giới ngành nghề kinh doanh có điều kiện, pháp luật nên đặt thêm những điều kiện mang tính đặc thù liên quan đến việc cung cấp dịch vụ qua biên giới.

Nhằm đảm bảo tính cạnh tranh công bằng, bình đẳng trong thị trường, chủ thể được môi giới không thể không đáp ứng các điều kiện để được cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho khách hàng mà pháp luật chuyên ngành đưa ra, nhất là trong ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Tuy nhiên, việc áp nguyên các điều kiện trong quy định pháp luật hiện hành có thể sẽ là rào cản đối với xu hướng “kinh tế chia sẻ”. Do vậy, các điều kiện đặt ra cần được nghiên cứu phù hợp với đặc trưng của hoạt động, tạo điều kiện cho việc chia sẻ quyền sử dụng hàng hóa, dịch vụ.

Thứ ba, cần xây dựng chính sách giám sát linh hoạt để hạn chế tối đa việc thất thoát thuế.

Về nguyên tắc, các ngân hàng đều nắm được thông tin các khoản thanh toán chuyển khoản, nhưng để tổng hợp xác định là không dễ vì các khoản thanh toán rất nhỏ lẻ nên thu thuế qua ngân hàng là khó thực hiện. Sự phối hợp nêu trên sẽ đạt hiện quả trong công tác thanh tra, kiểm tra thuế để xác định doanh thu khi có dấu hiệu trốn thuế. Ngoài ra, cách mà Bộ Giao thông Vận tải yêu cầu hai ứng dụng gọi xe nước ngoài là Grap và Uber phải xây dựng dự án để đạt được sự chấp thuận hoạt động cũng là một phương án kiểm soát thuế hiệu quả từ khi doanh nghiệp gia nhập thị trường[4].

ThS. Nguyễn Ngọc Anh

Đại học Luật Hà Nội

Tài liệu tham khảo:

[1]. Vụ Kinh tế Tổng hợp - Ban Kinh tế Trung ương, Báo cáo giới thiệu “Một số vấn đề về kinh tế chia sẻ”, https://kinhtetrunguong.vn/thong-tin-chuyen-de.

[2]. Vụ Kinh tế Tổng hợp - Ban Kinh tế Trung ương, Báo cáo giới thiệu “Một số vấn đề về kinh tế chia sẻ”, https://kinhtetrunguong.vn/thong-tin-chuyen-de.

[3]. Nguyễn Thị Cúc, Chủ tịch Hội Tư vấn thuế Việt Nam, Quản lý thuế đối với hoạt động thương mại điện tử xuyên biên giới, Tọa đàm Thảo luận chính sách về Quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ thương mại điện tử xuyên biên giới của Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương, Hà Nội, ngày 26/10/2016.

[4]. Xem: Bài viết Bộ Giao thông Vận tải chấp thuận Uber sau nhiều lần từ chối, tại http://cafef.vn/bo-gtvt-chap-thuan-uber-sau-nhieu-lan-tu-choi-20170411110039983.chn, cập nhật ngày 12/4/2017.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: