Thứ ba 25/08/2026 19:57
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vướng mắc, bất cập của quy định về “phân cấp, ủy quyền” theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương

Ngày 19/6/2015, Quốc hội nước Công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 9 thông qua Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2016. Sau hơn 03 năm triển khai thực hiện, ngày 22/11/2019, Quốc hội nước Công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 8 thông qua Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương.

Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2020, theo đó, một trong những nội dung được sửa đổi, bổ sung nhằm cụ thể, rõ ràng và hoàn thiện hơn đó là quy định về “phân cấp cho chính quyền địa phương và ủy quyền cho cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương”. Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu, áp dụng Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 cũng như Luật Sửa đổi, bổ sung năm 2019 trong thực tiễn vẫn còn một số khó khăn, vướng mắc cụ thể như sau:
1. Chủ thể của việc phân cấp và ủy quyền
1.1. Về chủ thể của việc phân cấp
Tại khoản 1 Điều 13 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 quy định: “Căn cứ vào yêu cầu công tác, khả năng thực hiện và điều kiện, tình hình cụ thể của địa phương, cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương được quyền phân cấp cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan nhà nước cấp dưới thực hiện một cách liên tục, thường xuyên một hoặc một số nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền của mình, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”. Như vậy, chủ thể phân cấp là cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương, tuy nhiên không phải mọi cơ quan nhà nước ở địa phương đều có thể thực hiện việc phân cấp nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền của mình vì việc phân cấp phải được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật (QPPL)[1]. Trong khi đó, theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, chỉ có Hội đồng nhân dân (HĐND) và Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp được ban hành văn bản QPPL (trong đó, HĐND và UBND cấp huyện, cấp xã chỉ ban hành văn bản QPPL trong trường hợp được Luật, Nghị quyết của Quốc hội giao). Cũng theo quy định tại khoản 1 Điều 13 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 thì chủ thể được phân cấp bao gồm chính quyền địa phương và cơ quan nhà nước cấp dưới. Trong thực tế, trên cơ sở chức năng và vị trí pháp lý của HĐND và UBND theo quy định pháp luật thì cơ quan được phân cấp thường là UBND để đảm bảo việc triển khai thực hiện nhiệm vụ được nhanh chóng, thuận tiện. Tuy nhiên, để xác định chủ thể được phân cấp theo quy định tại khoản 1 Điều 13 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 cũng còn nhiều vướng mắc, bấp cập.
Xét nội dung “cơ quan nhà nước ở địa phương được quyền phân cấp cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan nhà nước cấp dưới” thì có thể thấy khái niệm “cơ quan nhà nước ở địa phương” ở đây là một khái niệm rộng và việc xác định “cơ quan nhà nước ở địa phương” là những nhóm cơ quan cụ thể nào thì sẽ phụ thuộc vào các quy định pháp luật khác (chẳng hạn như khoản 2 Điều 13 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015). Bên cạnh đó, việc xác định đối tượng được phân cấp sẽ là chính quyền địa phương cấp dưới và cơ quan nhà nước cấp dưới hay chính quyền địa phương (bao gồm chính quyền địa phương cùng cấp với cơ quan nhà nước ở địa phương thực hiện hiện việc phân cấp) và cơ quan nhà nước cấp dưới cũng chưa đảm bảo thống nhất. Đồng thời, hiện nay cũng chưa có quy định, văn bản nào hướng dẫn cụ thể “cơ quan nhà nước cấp dưới” là cơ quan nào hay việc xác định “cơ quan nhà nước cấp dưới” dựa trên những tiêu chí nào. Trên thực tế, có một số luật chuyên ngành khi phân quyền cho mỗi cấp chính quyền địa phương còn quy định liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân quyền, tuy nhiên, giữa nội dung do luật chuyên ngành và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định vẫn còn có sự chưa thống nhất. Chẳng hạn như:
- Tại khoản 7 Điều 17 Luật Đầu tư công năm 2019 quy định:
“7. Hội đồng nhân dân các cấp quyết định chủ trương đầu tư chương trình, dự án nhóm B, nhóm C sử dụng vốn ngân sách địa phương, bao gồm cả vốn bổ sung có mục tiêu từ ngân sách cấp trên, các nguồn vốn hợp pháp của địa phương thuộc cấp mình quản lý, trừ dự án quy định tại khoản 4 Điều này.
Trong trường hợp cần thiết, Hội đồng nhân dân quyết định việc giao cho Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định chủ trương đầu tư dự án quy định tại khoản này phù hợp với mục tiêu, định hướng phát triển, khả năng tài chính và đặc điểm cụ thể của địa phương”.
- Luật Quản lý, sử dụng tài sản công năm 2017 quy định:
+ “2. Căn cứ quy định của Luật này, phân cấp của Chính phủ, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định hoặc phân cấp thẩm quyền quyết định trong việc quản lý, sử dụng tài sản công thuộc phạm vi quản lý của địa phương” (tại khoản 2 Điều 17).
+ “5. Căn cứ quy định của cơ quan, người có thẩm quyền tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này, sau khi có ý kiến thống nhất của Thường trực Hội đồng nhân dân cùng cấp, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định hoặc phân cấp thẩm quyền quyết định áp dụng tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản chuyên dùng tại cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc phạm vi quản lý, trừ trường hợp quy định tại khoản 7 Điều này (khoản 5 Điều 26)”.
- Nghị định số 151/2017/NĐ-CP ngày 26/12/2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật quản lý, sử dụng tài sản công, quy định:
+ “c) Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định hoặc phân cấp thẩm quyền quyết định điều chuyển tài sản công giữa các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc phạm vi quản lý của địa phương. Trường hợp phân cấp thẩm quyền quyết định điều chuyển tài sản công thì thực hiện theo nguyên tắc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Giám đốc Sở Tài chính quyết định điều chuyển tài sản công giữa các sở, ngành thuộc địa phương, giữa cấp tỉnh và cấp huyện, cấp xã, giữa các quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương”. (tại điểm c khoản 1 Điều 20).
+ “d) Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định hoặc phân cấp thẩm quyền quyết định bán tài sản công thuộc phạm vi quản lý của địa phương. Trường hợp phân cấp thẩm quyền quyết định bán tài sản là trụ sở làm việc, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phân cấp cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định” (điểm d khoản 2 Điều 22).
Qua những quy định này có thể thấy, việc sử dụng thuật ngữ “phân cấp” hay “ủy quyền” chưa thống nhất. Chẳng hạn như thuật ngữ “giao” tại khoản 7 Điều 17 Luật Đầu tư công năm 2019 có nghĩa là “phân cấp”, “ủy quyền” hay một ý nghĩa khác. Theo Luật Quản lý, sử dụng tài sản công và Nghị định 151/2017/NĐ-CP thì chủ thể được phân cấp có thể là “Chủ tịch UBND cấp tỉnh” hoặc “Sở Tài chính”, nếu đối chiếu với quy định của Luật năm 2015 thì chủ thể này có thuộc nhóm chủ thể được phân cấp hay không cũng là một vấn đề mà còn nhiều quan điểm khác nhau.
1.2. Về chủ thể của việc ủy quyền
Tại khoản 7 Điều 2 Luật Sửa đổi, bổ sung năm 2019 quy định: “Trong trường hợp cần thiết, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 12 của Luật này, cơ quan hành chính nhà nước cấp trên có thể ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp dưới trực tiếp, Ủy ban nhân dân có thể ủy quyền cho cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cùng cấp hoặc đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc, Chủ tịch Ủy ban nhân dân có thể ủy quyền cho Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp, người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cùng cấp, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp dưới trực tiếp thực hiện một hoặc một số nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong khoảng thời gian xác định kèm theo các điều kiện cụ thể. Việc ủy quyền phải được thể hiện bằng văn bản”.
Về cơ bản, Luật Sửa đổi, bổ sung năm 2019 đã quy định về chủ thể ủy quyền và chủ thể được ủy quyền rõ ràng, cụ thể hơn so với Luật năm 2015, đồng thời Luật Sửa đổi, bổ sung năm 2019 cũng đã giới hạn chủ thể được ủy quyền nhằm đảm bảo việc ủy quyền cho cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương thực hiện chặt chẽ, hiệu quả hơn, tránh việc ủy quyền tràn lan trong các lĩnh vực quản lý nhà nước. Tuy nhiên, liên quan đến chủ thể ủy quyền cũng cần phải làm rõ khái niệm “cơ quan hành chính nhà nước cấp trên” là cơ quan hay nhóm cơ quan cụ thể nào.
2. Phân cấp và ủy quyền
- Tại khoản 4 Điều 13 Luật năm 2015, quy định: “Cơ quan nhà nước được phân cấp chịu trách nhiệm trước cơ quan nhà nước đã phân cấp về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân cấp. Căn cứ tình hình cụ thể ở địa phương, cơ quan nhà nước ở địa phương có thể phân cấp tiếp cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan nhà nước cấp dưới thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn đã được cơ quan nhà nước cấp trên phân cấp nhưng phải được sự đồng ý của cơ quan nhà nước đã phân cấp”.
- Tại khoản 3 Điều 14 Luật năm 2015, quy định: “Cơ quan, tổ chức được ủy quyền phải thực hiện đúng nội dung và chịu trách nhiệm trước cơ quan hành chính nhà nước cấp trên về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn mà mình được ủy quyền. Cơ quan, tổ chức nhận ủy quyền không được ủy quyền tiếp cho cơ quan, tổ chức khác thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn đã được cơ quan hành chính nhà nước cấp trên ủy quyền”.
Như vậy, trong trường hợp phân cấp thì cơ quan nhà nước ở địa phương có thể phân cấp tiếp cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan nhà nước cấp dưới thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn đã được cơ quan nhà nước cấp trên phân cấp nhưng phải được sự đồng ý của cơ quan nhà nước đã phân cấp. Tuy nhiên, khi thực hiện việc phân cấp tiếp thì cơ quan phân cấp tiếp cũng phải là cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật để quy định nội dung phân cấp để đảm bảo phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 13 Luật năm 2015; đồng thời “sự đồng ý của cơ quan nhà nước đã phân cấp” cũng phải được thể hiện bằng văn bản quy phạm pháp luật để đảm bảo phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 13 Luật năm 2015 và Điều 12 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.
Tuy nhiên, đối với trường hợp ủy quyền thì Luật năm 2015 chỉ quy định “Cơ quan, tổ chức nhận ủy quyền không được ủy quyền tiếp cho cơ quan, tổ chức khác thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn đã được cơ quan hành chính nhà nước cấp trên ủy quyền”, vậy trường hợp cá nhân nhận ủy quyền (chẳng hạn như trường hợp: Phó Chủ tịch UBND hoặc người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc UBND được Chủ tịch UBND cùng cấp ủy quyền) thì có được ủy quyền tiếp cho cá nhân khác thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn đã được người có thẩm quyền ủy quyền hay không, vấn đề này Luật năm 2015 cũng như Luật Sửa đổi, bổ sung năm 2019 chưa đề cập đến.
3. Xác định căn cứ pháp lý để phân cấp hoặc ủy quyền
Trên thực tế, khi áp dụng quy định về cơ chế phân cấp hoặc ủy quyền vẫn tồn tại hai luồng quan điểm khác nhau. Luồng quan điểm thứ nhất cho rằng: Quy định về phân cấp, ủy quyền theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương là quy định chung về thẩm quyền, trách nhiệm của UBND và Chủ tịch UBND các cấp, để thực hiện việc phân cấp hoặc ủy quyền thì phải được quy định cụ thể tại văn bản pháp luật chuyên ngành. Tuy nhiên, luồng quan điểm thứ hai cho rằng: Luật Tổ chức chính quyền địa phương là cơ sở pháp lý cụ thể để các chủ thể thực hiện việc phân cấp hoặc ủy quyền.
Hiện nay, một số văn bản pháp luật chuyên ngành có quy định về việc phân cấp, ủy quyền tuy nhiên đây chỉ là một số ít văn bản có quy định cụ thể về việc phân cấp, ủy quyền còn phần lớn không có quy định liên quan đến việc phân cấp, ủy quyền trong văn bản.
Chẳng hạn như: Tại khoản 3 Điều 84 Luật Đầu tư công năm 2019 quy định: “Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được ủy quyền cho cấp phó hoặc người đứng đầu cơ quan chuyên môn quyết định đầu tư đối với dự án nhóm B, nhóm C thuộc cấp tỉnh quản lý, trừ dự án quy định tại điểm c khoản 1 Điều 35 của Luật này”. Đồng thời, Luật Đầu tư công năm 2019 cũng không có quy định ngoài trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 84 Luật này thì Chủ tịch UBND cấp tỉnh không được ủy quyền.
Như vậy, khi áp dụng Luật năm 2015 và Luật Đầu tư công năm 2019 sẽ có sự không thống nhất như đã trình bày hai luồng quan điểm áp dụng nêu trên. Tuy nhiên, có một vấn đề là nếu áp dụng theo luồng quan điểm thứ hai thì sẽ dẫn đến cách hiểu là những quy định như khoản 3 Điều 84 Luật Đầu tư công năm 2019 là không cần thiết vì nếu không có khoản 3 Điều 84 Luật Đầu tư công năm 2019 thì Chủ tịch UBND tỉnh vẫn căn cứ Luật năm 2015 để ủy quyền được.
4. Hình thức văn bản phân cấp, ủy quyền
Hình thức văn bản phân cấp được Luật năm 2015 quy định rõ là “văn bản QPPL”, tuy nhiên Luật năm 2015 chỉ quy định việc ủy quyền phải được thể hiện bằng văn bản, không quy định cụ thể hình thức văn bản là văn bản QPPL hay văn bản hành chính và nếu trường hợp là văn bản hành chính thì cụ thể là loại văn bản nào. Trên thực tế, việc ủy quyền được thể hiện bằng văn bản hành chính và dưới dạng Quyết định, Công văn hoặc Thông báo, trong đó phổ biến nhất là dưới dạng Quyết định. Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng pháp luật, một số cơ quan, đơn vị yêu cầu việc ủy quyền phải bằng “Quyết định cá biệt”, không chấp thuận các hình thức văn bản ủy quyền khác.
Kết luận: Nghị quyết số 18-NQ/TW Hội nghị Trung ương lần thứ 6, khóa XII đã khẳng định “Thực hiện phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, hợp lý giữa Trung ương và địa phương, giữa cấp trên và cấp dưới, gắn quyền hạn với trách nhiệm; đồng thời, xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ bằng các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch, đề cao trách nhiệm giải trình và tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện. Khuyến khích sự năng động, sáng tạo và phát huy tính tích cực, chủ động của các cấp, các ngành, các địa phương trong việc xây dựng, kiện toàn tổ chức, tinh gọn bộ máy, tinh giản biên chế”. Để thực hiện hiệu quả nội dung này thì trước hết phải hoàn thiện các chế định có liên quan về phân cấp, phân quyền, theo hệ thống pháp luật về phân cấp, phân quyền phải đồng bộ đồng thời phải phù hợp với đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn./.

ThS. Dương Thị Thân Thương
Phân hiệu Đại học Luật Hà Nội tại Đắk Lắk


[1] Khoản 2 Điều 13 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015.Ngày 19/6/2015, Quốc hội nước Công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 9 thông qua Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2016. Sau hơn 03 năm triển khai thực hiện, ngày 22/11/2019, Quốc hội nước Công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 8 thông qua Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương. Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2020, theo đó, một trong những nội dung được sửa đổi, bổ sung nhằm cụ thể, rõ ràng và hoàn thiện hơn đó là quy định về “phân cấp cho chính quyền địa phương và ủy quyền cho cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương”. Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu, áp dụng Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 cũng như Luật Sửa đổi, bổ sung năm 2019 trong thực tiễn vẫn còn một số khó khăn, vướng mắc cụ thể như sau:
1. Chủ thể của việc phân cấp và ủy quyền
1.1. Về chủ thể của việc phân cấp
Tại khoản 1 Điều 13 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 quy định: “Căn cứ vào yêu cầu công tác, khả năng thực hiện và điều kiện, tình hình cụ thể của địa phương, cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương được quyền phân cấp cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan nhà nước cấp dưới thực hiện một cách liên tục, thường xuyên một hoặc một số nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền của mình, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”. Như vậy, chủ thể phân cấp là cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương, tuy nhiên không phải mọi cơ quan nhà nước ở địa phương đều có thể thực hiện việc phân cấp nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền của mình vì việc phân cấp phải được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật (QPPL)[1]. Trong khi đó, theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, chỉ có Hội đồng nhân dân (HĐND) và Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp được ban hành văn bản QPPL (trong đó, HĐND và UBND cấp huyện, cấp xã chỉ ban hành văn bản QPPL trong trường hợp được Luật, Nghị quyết của Quốc hội giao). Cũng theo quy định tại khoản 1 Điều 13 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 thì chủ thể được phân cấp bao gồm chính quyền địa phương và cơ quan nhà nước cấp dưới. Trong thực tế, trên cơ sở chức năng và vị trí pháp lý của HĐND và UBND theo quy định pháp luật thì cơ quan được phân cấp thường là UBND để đảm bảo việc triển khai thực hiện nhiệm vụ được nhanh chóng, thuận tiện. Tuy nhiên, để xác định chủ thể được phân cấp theo quy định tại khoản 1 Điều 13 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 cũng còn nhiều vướng mắc, bấp cập.
Xét nội dung “cơ quan nhà nước ở địa phương được quyền phân cấp cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan nhà nước cấp dưới” thì có thể thấy khái niệm “cơ quan nhà nước ở địa phương” ở đây là một khái niệm rộng và việc xác định “cơ quan nhà nước ở địa phương” là những nhóm cơ quan cụ thể nào thì sẽ phụ thuộc vào các quy định pháp luật khác (chẳng hạn như khoản 2 Điều 13 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015). Bên cạnh đó, việc xác định đối tượng được phân cấp sẽ là chính quyền địa phương cấp dưới và cơ quan nhà nước cấp dưới hay chính quyền địa phương (bao gồm chính quyền địa phương cùng cấp với cơ quan nhà nước ở địa phương thực hiện hiện việc phân cấp) và cơ quan nhà nước cấp dưới cũng chưa đảm bảo thống nhất. Đồng thời, hiện nay cũng chưa có quy định, văn bản nào hướng dẫn cụ thể “cơ quan nhà nước cấp dưới” là cơ quan nào hay việc xác định “cơ quan nhà nước cấp dưới” dựa trên những tiêu chí nào. Trên thực tế, có một số luật chuyên ngành khi phân quyền cho mỗi cấp chính quyền địa phương còn quy định liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân quyền, tuy nhiên, giữa nội dung do luật chuyên ngành và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định vẫn còn có sự chưa thống nhất. Chẳng hạn như:
- Tại khoản 7 Điều 17 Luật Đầu tư công năm 2019 quy định:
“7. Hội đồng nhân dân các cấp quyết định chủ trương đầu tư chương trình, dự án nhóm B, nhóm C sử dụng vốn ngân sách địa phương, bao gồm cả vốn bổ sung có mục tiêu từ ngân sách cấp trên, các nguồn vốn hợp pháp của địa phương thuộc cấp mình quản lý, trừ dự án quy định tại khoản 4 Điều này.
Trong trường hợp cần thiết, Hội đồng nhân dân quyết định việc giao cho Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định chủ trương đầu tư dự án quy định tại khoản này phù hợp với mục tiêu, định hướng phát triển, khả năng tài chính và đặc điểm cụ thể của địa phương”.
- Luật Quản lý, sử dụng tài sản công năm 2017 quy định:
+ “2. Căn cứ quy định của Luật này, phân cấp của Chính phủ, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định hoặc phân cấp thẩm quyền quyết định trong việc quản lý, sử dụng tài sản công thuộc phạm vi quản lý của địa phương” (tại khoản 2 Điều 17).
+ “5. Căn cứ quy định của cơ quan, người có thẩm quyền tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này, sau khi có ý kiến thống nhất của Thường trực Hội đồng nhân dân cùng cấp, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định hoặc phân cấp thẩm quyền quyết định áp dụng tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản chuyên dùng tại cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc phạm vi quản lý, trừ trường hợp quy định tại khoản 7 Điều này (khoản 5 Điều 26)”.
- Nghị định số 151/2017/NĐ-CP ngày 26/12/2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật quản lý, sử dụng tài sản công, quy định:
+ “c) Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định hoặc phân cấp thẩm quyền quyết định điều chuyển tài sản công giữa các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc phạm vi quản lý của địa phương. Trường hợp phân cấp thẩm quyền quyết định điều chuyển tài sản công thì thực hiện theo nguyên tắc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Giám đốc Sở Tài chính quyết định điều chuyển tài sản công giữa các sở, ngành thuộc địa phương, giữa cấp tỉnh và cấp huyện, cấp xã, giữa các quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương”. (tại điểm c khoản 1 Điều 20).
+ “d) Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định hoặc phân cấp thẩm quyền quyết định bán tài sản công thuộc phạm vi quản lý của địa phương. Trường hợp phân cấp thẩm quyền quyết định bán tài sản là trụ sở làm việc, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phân cấp cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định” (điểm d khoản 2 Điều 22).
Qua những quy định này có thể thấy, việc sử dụng thuật ngữ “phân cấp” hay “ủy quyền” chưa thống nhất. Chẳng hạn như thuật ngữ “giao” tại khoản 7 Điều 17 Luật Đầu tư công năm 2019 có nghĩa là “phân cấp”, “ủy quyền” hay một ý nghĩa khác. Theo Luật Quản lý, sử dụng tài sản công và Nghị định 151/2017/NĐ-CP thì chủ thể được phân cấp có thể là “Chủ tịch UBND cấp tỉnh” hoặc “Sở Tài chính”, nếu đối chiếu với quy định của Luật năm 2015 thì chủ thể này có thuộc nhóm chủ thể được phân cấp hay không cũng là một vấn đề mà còn nhiều quan điểm khác nhau.
1.2. Về chủ thể của việc ủy quyền
Tại khoản 7 Điều 2 Luật Sửa đổi, bổ sung năm 2019 quy định: “Trong trường hợp cần thiết, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 12 của Luật này, cơ quan hành chính nhà nước cấp trên có thể ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp dưới trực tiếp, Ủy ban nhân dân có thể ủy quyền cho cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cùng cấp hoặc đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc, Chủ tịch Ủy ban nhân dân có thể ủy quyền cho Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp, người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cùng cấp, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp dưới trực tiếp thực hiện một hoặc một số nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong khoảng thời gian xác định kèm theo các điều kiện cụ thể. Việc ủy quyền phải được thể hiện bằng văn bản”.
Về cơ bản, Luật Sửa đổi, bổ sung năm 2019 đã quy định về chủ thể ủy quyền và chủ thể được ủy quyền rõ ràng, cụ thể hơn so với Luật năm 2015, đồng thời Luật Sửa đổi, bổ sung năm 2019 cũng đã giới hạn chủ thể được ủy quyền nhằm đảm bảo việc ủy quyền cho cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương thực hiện chặt chẽ, hiệu quả hơn, tránh việc ủy quyền tràn lan trong các lĩnh vực quản lý nhà nước. Tuy nhiên, liên quan đến chủ thể ủy quyền cũng cần phải làm rõ khái niệm “cơ quan hành chính nhà nước cấp trên” là cơ quan hay nhóm cơ quan cụ thể nào.
2. Phân cấp và ủy quyền
- Tại khoản 4 Điều 13 Luật năm 2015, quy định: “Cơ quan nhà nước được phân cấp chịu trách nhiệm trước cơ quan nhà nước đã phân cấp về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân cấp. Căn cứ tình hình cụ thể ở địa phương, cơ quan nhà nước ở địa phương có thể phân cấp tiếp cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan nhà nước cấp dưới thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn đã được cơ quan nhà nước cấp trên phân cấp nhưng phải được sự đồng ý của cơ quan nhà nước đã phân cấp”.
- Tại khoản 3 Điều 14 Luật năm 2015, quy định: “Cơ quan, tổ chức được ủy quyền phải thực hiện đúng nội dung và chịu trách nhiệm trước cơ quan hành chính nhà nước cấp trên về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn mà mình được ủy quyền. Cơ quan, tổ chức nhận ủy quyền không được ủy quyền tiếp cho cơ quan, tổ chức khác thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn đã được cơ quan hành chính nhà nước cấp trên ủy quyền”.
Như vậy, trong trường hợp phân cấp thì cơ quan nhà nước ở địa phương có thể phân cấp tiếp cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan nhà nước cấp dưới thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn đã được cơ quan nhà nước cấp trên phân cấp nhưng phải được sự đồng ý của cơ quan nhà nước đã phân cấp. Tuy nhiên, khi thực hiện việc phân cấp tiếp thì cơ quan phân cấp tiếp cũng phải là cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật để quy định nội dung phân cấp để đảm bảo phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 13 Luật năm 2015; đồng thời “sự đồng ý của cơ quan nhà nước đã phân cấp” cũng phải được thể hiện bằng văn bản quy phạm pháp luật để đảm bảo phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 13 Luật năm 2015 và Điều 12 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.
Tuy nhiên, đối với trường hợp ủy quyền thì Luật năm 2015 chỉ quy định “Cơ quan, tổ chức nhận ủy quyền không được ủy quyền tiếp cho cơ quan, tổ chức khác thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn đã được cơ quan hành chính nhà nước cấp trên ủy quyền”, vậy trường hợp cá nhân nhận ủy quyền (chẳng hạn như trường hợp: Phó Chủ tịch UBND hoặc người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc UBND được Chủ tịch UBND cùng cấp ủy quyền) thì có được ủy quyền tiếp cho cá nhân khác thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn đã được người có thẩm quyền ủy quyền hay không, vấn đề này Luật năm 2015 cũng như Luật Sửa đổi, bổ sung năm 2019 chưa đề cập đến.
3. Xác định căn cứ pháp lý để phân cấp hoặc ủy quyền
Trên thực tế, khi áp dụng quy định về cơ chế phân cấp hoặc ủy quyền vẫn tồn tại hai luồng quan điểm khác nhau. Luồng quan điểm thứ nhất cho rằng: Quy định về phân cấp, ủy quyền theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương là quy định chung về thẩm quyền, trách nhiệm của UBND và Chủ tịch UBND các cấp, để thực hiện việc phân cấp hoặc ủy quyền thì phải được quy định cụ thể tại văn bản pháp luật chuyên ngành. Tuy nhiên, luồng quan điểm thứ hai cho rằng: Luật Tổ chức chính quyền địa phương là cơ sở pháp lý cụ thể để các chủ thể thực hiện việc phân cấp hoặc ủy quyền.
Hiện nay, một số văn bản pháp luật chuyên ngành có quy định về việc phân cấp, ủy quyền tuy nhiên đây chỉ là một số ít văn bản có quy định cụ thể về việc phân cấp, ủy quyền còn phần lớn không có quy định liên quan đến việc phân cấp, ủy quyền trong văn bản.
Chẳng hạn như: Tại khoản 3 Điều 84 Luật Đầu tư công năm 2019 quy định: “Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được ủy quyền cho cấp phó hoặc người đứng đầu cơ quan chuyên môn quyết định đầu tư đối với dự án nhóm B, nhóm C thuộc cấp tỉnh quản lý, trừ dự án quy định tại điểm c khoản 1 Điều 35 của Luật này”. Đồng thời, Luật Đầu tư công năm 2019 cũng không có quy định ngoài trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 84 Luật này thì Chủ tịch UBND cấp tỉnh không được ủy quyền.
Như vậy, khi áp dụng Luật năm 2015 và Luật Đầu tư công năm 2019 sẽ có sự không thống nhất như đã trình bày hai luồng quan điểm áp dụng nêu trên. Tuy nhiên, có một vấn đề là nếu áp dụng theo luồng quan điểm thứ hai thì sẽ dẫn đến cách hiểu là những quy định như khoản 3 Điều 84 Luật Đầu tư công năm 2019 là không cần thiết vì nếu không có khoản 3 Điều 84 Luật Đầu tư công năm 2019 thì Chủ tịch UBND tỉnh vẫn căn cứ Luật năm 2015 để ủy quyền được.
4. Hình thức văn bản phân cấp, ủy quyền
Hình thức văn bản phân cấp được Luật năm 2015 quy định rõ là “văn bản QPPL”, tuy nhiên Luật năm 2015 chỉ quy định việc ủy quyền phải được thể hiện bằng văn bản, không quy định cụ thể hình thức văn bản là văn bản QPPL hay văn bản hành chính và nếu trường hợp là văn bản hành chính thì cụ thể là loại văn bản nào. Trên thực tế, việc ủy quyền được thể hiện bằng văn bản hành chính và dưới dạng Quyết định, Công văn hoặc Thông báo, trong đó phổ biến nhất là dưới dạng Quyết định. Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng pháp luật, một số cơ quan, đơn vị yêu cầu việc ủy quyền phải bằng “Quyết định cá biệt”, không chấp thuận các hình thức văn bản ủy quyền khác.
Kết luận: Nghị quyết số 18-NQ/TW Hội nghị Trung ương lần thứ 6, khóa XII đã khẳng định “Thực hiện phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, hợp lý giữa Trung ương và địa phương, giữa cấp trên và cấp dưới, gắn quyền hạn với trách nhiệm; đồng thời, xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ bằng các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch, đề cao trách nhiệm giải trình và tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện. Khuyến khích sự năng động, sáng tạo và phát huy tính tích cực, chủ động của các cấp, các ngành, các địa phương trong việc xây dựng, kiện toàn tổ chức, tinh gọn bộ máy, tinh giản biên chế”. Để thực hiện hiệu quả nội dung này thì trước hết phải hoàn thiện các chế định có liên quan về phân cấp, phân quyền, theo hệ thống pháp luật về phân cấp, phân quyền phải đồng bộ đồng thời phải phù hợp với đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn./.

ThS. Dương Thị Thân Thương
Phân hiệu Đại học Luật Hà Nội tại Đắk Lắk


[1] Khoản 2 Điều 13 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: