Thứ hai 17/08/2026 09:13
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vướng mắc, bất cập đối với quy định về án phí trong vụ án hình sự và kiến nghị hoàn thiện

Nhìn chung, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 tương đối cụ thể, chi tiết, khắc phục hạn chế trong quy định tương ứng trước đây, tạo sự thuận lợi trong việc áp dụng, góp phần quan trọng tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng phải nộp án phí trong VAHS. Tuy nhiên, qua thực tiễn áp dụng, quy định về án phí trong VAHS đã bộc lộ một số vướng mắc, bất cập, đòi hỏi cần có sự sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn giải quyết các VAHS.

Án phí trong vụ án hình sự (VAHS) được quy định tập trung tại các điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án (Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14). Nhìn chung, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 tương đối cụ thể, chi tiết, khắc phục hạn chế trong quy định tương ứng trước đây, tạo sự thuận lợi trong việc áp dụng, góp phần quan trọng tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng phải nộp án phí trong VAHS. Tuy nhiên, qua thực tiễn áp dụng, quy định về án phí trong VAHS đã bộc lộ một số vướng mắc, bất cập, đòi hỏi cần có sự sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn giải quyết các VAHS.

Theo quy định tại các điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, thì án phí trong VAHS bao gồm: Án phí hình sự sơ thẩm, án phí hình sự phúc thẩm, án phí dân sự sơ thẩm trong VAHS và án phí dân sự phúc thẩm trong VAHS[1]. Thời gian quan, việc áp dụng các quy định về án phí trong VAHS đã phát sinh một số vướng mắc, bất cập và cần hoàn thiện đó là:

Thứ nhất, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 chưa quy định bao quát trách nhiệm chịu các loại án phí trong vụ án hình sự

Mặc dù, khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định án phí trong VAHS gồm 04 loại: Án phí hình sự sơ thẩm, án phí hình sự phúc thẩm, án phí dân sự sơ thẩm trong VAHS, án phí dân sự phúc thẩm dân sự trong VAHS. Tuy nhiên, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định về trách nhiệm chi trả chi phí tố tụng, lệ phí chỉ mới quy định nghĩa vụ chịu án phí hình sự của bị cáo, bị hại mà chưa quy định về trách nhiệm chịu án phí dân sự sơ thẩm trong VAHS, án phí dân sự phúc thẩm dân sự trong VAHS.

Bên cạnh đó, hiện nay, quy định về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm trong VAHS, án phí dân sự phúc thẩm trong VAHS, chủ yếu được quy định dẫn chiếu sang quy định về án phí khi giải quyết vụ án dân sự (theo nghĩa rộng) kể cả theo thủ tục sơ thẩm, thủ tục phúc thẩm và được quy định tập trung tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.

Do đó, để bao quát quy định về nghĩa vụ chịu các loại án phí trong VAHS, kiến nghị bổ sung vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định dẫn chiếu về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm trong VAHS, án phí dân sự phúc thẩm dân sự trong VAHS như sau:

“2. Án phí do người bị kết án hoặc Nhà nước chịu theo quy định của pháp luật. Người bị kết án phải trả án phí theo quyết định của Tòa án. Mức án phí và căn cứ áp dụng được ghi rõ trong bản án, quyết định của Tòa án.

Trách nhiệm chịu án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm trong vụ án hình sự được thực hiện theo quy định của pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án”.

Thứ hai, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 chưa quy định bao quát về các chủ thể phải chịu án phí dân sự trong vụ án hình sự

Khi xét xử các VAHS, Tòa án giải quyết nhiều vấn đề, trong đó có 02 vấn đề quan trọng là trách nhiệm hình sự đối với bị cáo (tội danh, hình phạt) và vấn đề dân sự trong VAHS (yêu cầu bồi thường thiệt hại, hoàn trả tài sản…). Tương ứng với nó, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định án phí trong VAHS gồm án phí hình sự (sơ thẩm, phúc thẩm) và án phí dân sự (sơ thẩm, phúc thẩm). Trong đó, án phí hình sự chỉ có thể áp dụng đối với bị cáo, bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của bị hại có yêu cầu khởi tố VAHS; án phí dân sự trong VAHS có phạm vi chủ thể có nghĩa vụ chịu rộng hơn, gắn liền với yêu cầu và kết quả giải quyết của Tòa án bao gồm bị cáo, bị hại, đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ. Tuy nhiên, một số quy định về án phí trong VAHS tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 lại chưa bao quát các chủ thể phải chịu án phí dân sự trong VAHS.

Một là, điểm đ khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định, bị hại yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản theo quy định của pháp luật không yêu cầu một số tiền hoặc tài sản có thể xác định được bằng một số tiền cụ thể thì không phải chịu án phí nếu yêu cầu của họ không được Tòa án chấp nhận. Tuy nhiên, theo khoản 1 Điều 63 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, nguyên đơn dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại do tội phạm gây ra và có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại. Đồng thời, theo Điều 65 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến VAHS và họ có quyền đưa ra yêu cầu, phát biểu ý kiến, tranh luận tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Cho nên, bên cạnh bị hại, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án cũng có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại nhưng quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 chưa bao quát nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.

Hai là, điểm f khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định, trước khi mở phiên tòa, đương sự, bị cáo thỏa thuận được với nhau về việc bồi thường thiệt hại và đề nghị Tòa án ghi nhận việc bồi thường thiệt hại thì họ không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Tại phiên tòa, đương sự, bị cáo thỏa thuận được với nhau về việc bồi thường thiệt hại thì họ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm như trường hợp Tòa án đưa ra xét xử vụ án đó. Tuy nhiên, theo điểm g khoản 1 Điều 4 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, đương sự bao gồm: Nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến VAHS mà không bao gồm bị hại. Trong khi đó, việc thỏa thuận bồi thường thiệt hại trong VAHS không chỉ diễn ra giữa đương sự với bị cáo mà còn có sự tham gia của bị hại. Cho nên, quy định tại điểm f khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 còn thiếu bị hại.

Để khắc phục bất cập này, tác giả kiến nghị sửa đổi, bổ sung các điểm đ, f khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 như sau:

“đ) Bị hại, đương sự yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản theo quy định của pháp luật không yêu cầu một số tiền hoặc tài sản có thể xác định được bằng một số tiền cụ thể thì không phải chịu án phí nếu yêu cầu của họ không được Tòa án chấp nhận”;

“f) Trước khi mở phiên tòa, bị hại, đương sự, bị cáo thỏa thuận được với nhau về việc bồi thường thiệt hại và đề nghị Tòa án ghi nhận việc bồi thường thiệt hại thì họ không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Tại phiên tòa, bị hại, đương sự, bị cáo thỏa thuận được với nhau về việc bồi thường thiệt hại thì họ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm như trường hợp Tòa án đưa ra xét xử vụ án đó”.

Thứ ba, về nghĩa vụ chịu án phí của bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của bị hại trong trường hợp họ rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự

Khoản 3 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm b khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định, VAHS được khởi tố theo yêu cầu của bị hại mà sau đó bị đình chỉ do người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì người đã yêu cầu khởi tố phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Quy định này chưa hợp lý, bởi vì, mặc dù, bị hại có quyền yêu cầu khởi tố VAHS theo quy định tại Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tuy nhiên, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ khởi tố VAHS khi có căn cứ do Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định[2]. Đồng thời, sau khi vụ án được khởi tố, để bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ rút yêu cầu, thông thường có sự giải thích của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hoặc cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền. Trong đó, lý do được đưa ra để giải thích thường là giải tỏa mâu thuẫn giữa các bên, hàn gắn các mối quan hệ bị rạn nứt, hướng đến sự chung sống hài hòa giữa bị cáo, bị hại…[3]. Hơn nữa, chỉ khi nào đã có sự cảm thông, tha thứ cho bị cáo để bị cáo có điều kiện sửa đổi, khắc phục khuyết điểm thì bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của bị hại mới rút yêu cầu khởi tố. Nói chung, việc bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ rút yêu cầu khởi tố vừa có lợi cho bị cáo, vừa có lợi cho xã hội[4]. Tuy nhiên, thay vì khuyến khích bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của bị hại rút yêu cầu khởi tố thì pháp luật lại quy định trong trường hợp bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của bị hại rút yêu cầu khởi tố phải chịu án phí hình sự.

Bên cạnh đó, quy định của pháp luật hiện hành và quy định trước đây về nghĩa vụ chịu án phí hình sự của bị hại trong trường hợp này không có sự thay đổi. Theo đó, quy định về nghĩa vụ chịu án phí hình sự của bị hại tại tại khoản 3 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm b khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 tương tự với quy định tại khoản 3 Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và khoản 2 Điều 22 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án năm 2009. Trong khi đó, nghiên cứu sang tố tụng dân sự, pháp luật tố tụng dân sự quy định về nghĩa vụ chịu án phí của người khởi kiện khi họ rút đơn khởi kiện có sự thay đổi. Theo đó, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 quy định đương sự rút yêu cầu khởi kiện thì tiền tạm ứng án phí được xung vào công quỹ Nhà nước[5] nhưng Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, được sửa đổi, bổ sung năm 2011 và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015[6] lại quy định đương sự rút yêu cầu khởi kiện thì tiền tạm ứng án phí trả lại cho họ. Mục đích của sự thay đổi này nhằm khuyến khích người khởi kiện rút đơn, hạn chế phát sinh tranh chấp, hàn gắn các mối quan hệ bị mâu thuẫn, rạn nứt, đỡ tốn thời gian, chi phí, nguồn nhân lực.

Với các phân tích trên, thiết nghĩ, để khuyến khích bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại tha thứ lỗi lầm của bị cáo, hàn gắn các mối quan hệ bị rạn nứt, đỡ tốn thời gian, chi phí, nguồn nhân lực của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, kiến nghị sửa đổi, bổ sung quy định tại khoản 3 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm b khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 như sau:

- Đối với khoản 3 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: “3. Trường hợp vụ án khởi tố theo yêu cầu của bị hại, nếu Tòa án tuyên bố bị cáo không có tội thì bị hại phải trả án phí hình sự. Trường hợp vụ án bị đình chỉ khi có căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 155 của Bộ luật này thì bị hại không phải chịu án phí hình sự”.

- Đối với điểm b khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14: “b) Bị hại đã yêu cầu khởi tố phải chịu án phí hình sự sơ thẩm trong trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của bị hại mà sau đó Tòa án tuyên bố bị cáo không có tội. Trường hợp vụ án bị đình chỉ do người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự thì bị hại không phải chịu án phí hình sự”.

Thứ tư, về việc áp dụng các quy định về miễn nộp án phí hình sự trong vụ án hình sự

Quy định về án phí trong VAHS và trách nhiệm chịu án phí trong VAHS tại các điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tương đối khái quát, chưa cụ thể và không đề cập đến việc miễn nộp án phí trong VAHS.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, mặc dù là văn bản dưới luật, lại quy định chi tiết, cụ thể, toàn diện về án phí, lệ phí Tòa án, tuy nhiên, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 cũng không quy định các trường hợp miễn nộp án phí được áp dụng cho những loại án, đối tượng nào. Chính vì chưa có hướng dẫn cụ thể từ cơ quan có thẩm quyền nên trong thực tiễn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về việc bị cáo, bị hại có yêu cầu khởi tố VAHS có được miễn án phí hình sự hay không.

Quan điểm thứ nhất cho rằng, khi người bị kết án, bị hại có yêu cầu khởi tố vụ án, thuộc trường hợp được miễn án phí thì vẫn được xem xét miễn án phí hình sự. Bởi vì, Bộ luật Tố tụng hình sự cũng quy định án phí hình sự có thể do Nhà nước chịu và khi người bị kết án, bị hại có yêu cầu khởi tố vụ án rơi vào các trường hợp được miễn nộp án phí thì Nhà nước chịu khoản án phí hình sự. Cho nên, người bị kết án, bị hại có yêu cầu khởi tố vụ án có thể được được miễn án phí hình sự[7].

Quan điểm thứ hai cho rằng, quy định tại Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 là quy định chung về những trường hợp được miễn án phí; còn quy định tại các điều 23, 26, 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 là những điều quy định chi tiết cho những loại án cụ thể. Khi áp dụng pháp luật cần phải áp dụng quy định riêng để giải quyết cho từng loại án. Cho nên, để xem xét bị cáo, bị hại có yêu cầu khởi tố vụ án có được miễn án phí hình sự hay không thì cần áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Do Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định họ phải chịu án phí nên không có cơ sở miễn án phí hình sự cho bị cáo, bị hại có yêu cầu khởi tố vụ án[8].

Về vấn đề này, tác giả cho rằng, án phí trong VAHS gồm án phí hình sự (sơ thẩm, phúc thẩm) và án phí dân sự (sơ thẩm, phúc thẩm) trong VAHS. Nếu như án phí dân sự (sơ thẩm, phúc thẩm) trong VAHS được tính như án phí dân sự khi giải quyết vụ án dân sự (theo nghĩa rộng) thì án phí hình sự có đặc thù riêng, nó thể hiện thái độ của Nhà nước đối với bị cáo hoặc người yêu cầu khởi tố VAHS. Khoản tiền của án phí hình sự phải nộp không phải để cấn trừ chi phí mà Nhà nước bỏ ra giải quyết vụ án mà nó chủ yếu mang tính tượng trưng, nhắc nhở người phạm tội tôn trọng pháp luật và người yêu cầu xem xét trách nhiệm hình sự, một loại trách nhiệm pháp lý cao nhất, của ai đó phải cẩn trọng trong việc yêu cầu. Vì lẽ đó, các Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988, 2003, 2015 và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn về án phí trong VAHS đều quy định dứt khoát bị cáo, bị hại có yêu cầu khởi tố vụ án phải chịu án phí hình sự mà không có sự loại trừ.

Một vấn đề đặt ra là vì sao Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 khi quy định về miễn án phí lại không quy định loại trừ việc miễn án phí hình sự dẫn đến có nhiều cách hiểu khác nhau. Lý do có thể xuất phát từ án phí trong VAHS, không chỉ có án phí hình sự mà còn có án phí dân sự trong VAHS. Cho nên, khi bị cáo, bị hại chịu án phí dân sự trong VAHS mà thuộc trường hợp miễn án phí thì họ vẫn có thể được xem xét cho miễn án phí dân sự trong VAHS.

Hơn nữa, mặc dù quy định về miễn án phí trong các văn bản hướng dẫn các Bộ luật Tố tụng hình sự 1988, 2003 và 2015 được quy định từ rất lâu và tương tự nhau. Tuy nhiên, trong thực tiễn, khi bị cáo rơi vào các trường hợp miễn án phí thì Hội đồng xét xử sơ thẩm, phúc thẩm vẫn buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự.

Từ các phân tích trên, có thể khẳng định, bị cáo, bị hại có yêu cầu khởi tố VAHS không thuộc trường hợp được miễn án phí hình sự. Tuy nhiên, để có cách hiểu, áp dụng thống nhất, kiến nghị bổ sung vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 khoản 5 với nội dung như sau:

“5. Người bị kết án, bị hại có yêu cầu khởi tố vụ án hình sự chịu án phí hình sự theo các khoản 2, 3 Điều này thì không được miễn nộp án phí hình sự, giảm án phí hình sự”.

Thứ năm, về buộc chịu nghĩa vụ án phí dân sự trong vụ án hình sự

Bên cạnh quy định về án phí hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 còn quy định nghĩa vụ chịu án phí dân sự trong VAHS và dẫn chiếu đến việc áp dụng quy định về tính án phí dân sự (các điều 26, 27) để tính án phí dân sự trong VAHS. Đồng thời, việc tính án phí dân sự trong VAHS chủ yếu liên quan đến việc giải quyết vấn đề dân sự trong VAHS. Trong khi đó, vấn đề dân sự trong VAHS được hiểu là những tranh chấp liên quan đến những thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm có liên quan đến hành vi phạm tội đã thực hiện nhưng không thuộc nội dung xử lý vật chứng và việc áp dụng biện pháp tư pháp trong VAHS. Vấn đề dân sự trong VAHS bao gồm: Đòi trả lại tài sản bị chiếm đoạt; đòi bồi thường giá trị tài sản do tài sản bị chiếm đoạt, nhưng đã bị mất hoặc bị hủy hoại; buộc phải sửa chữa tài sản bị hư hỏng; đòi bồi thường thiệt hại về lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại do tài sản bị chiếm đoạt, bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng và đòi bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm; xử lý hậu quả trong trường hợp hợp đồng vô hiệu[9]. Tuy nhiên, trên thực tế, khi giải quyết vấn đề dân sự trong VAHS, Tòa án chủ yếu buộc nghĩa vụ chịu án phí dân sự liên quan đến bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, uy tín, danh dự, nhân phẩm và tài sản). Đối những vấn đề khác (tuyên bố hợp đồng mua bán tài sản bị chiếm đoạt vô hiệu; xử lý hậu quả hợp đồng vô hiệu, buộc hoàn trả lại tiền đã nhận; buộc trả lại tài sản chiếm đoạt…), hầu như Tòa án không đề cập đến nghĩa vụ chịu án phí dân sự[10]. Trong một số trường hợp, khi giải quyết vấn đề dân sự trong VAHS trùng với việc giải quyết biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng thì Tòa án thường áp dụng quy định về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng để giải quyết mà không đề cập đến vụ án dân sự trong VAHS, từ đó, nghĩa vụ chịu án phí dân sự trong VAHS cũng không được đề cập đến[11].

Để khắc phục vướng mắc, hạn chế này, tác giả kiến nghị bổ sung vào điểm c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 những trường hợp giải quyết vụ án dân sự trong VAHS, Tòa án phải buộc bị cáo, bị hại, đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ có liên quan đến yêu cầu và phán quyết của Tòa án phải chịu án phí dân sự trong VAHS như sau:

“c) Nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hình sự được thực hiện theo quy định tại Điều 26 và Điều 27 của Nghị quyết này.

Nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hình sự liên quan đến vấn đề dân sự trong vụ án hình sự được giải quyết bao gồm: Đòi trả lại tài sản bị chiếm đoạt; Đòi bồi thường giá trị tài sản do tài sản bị chiếm đoạt, nhưng đã bị mất hoặc bị hủy hoại; buộc phải sửa chữa tài sản bị hư hỏng; Đòi bồi thường thiệt hại về lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại do tài sản bị chiếm đoạt, bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng và đòi bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm; xử lý hậu quả trong trường hợp hợp đồng vô hiệu.

Trong trường hợp việc giải quyết vụ án dân sự trong vụ án hình sự trùng với việc xử lý vật chứng, áp dụng biện pháp tư pháp thì Tòa án vẫn buộc người có nghĩa vụ chịu án phí dân sự trong vụ án hình sự”.

Thứ sáu, về án phí dân sự trong vụ án hình sự khi trách nhiệm bồi thường phát sinh do người dưới mười tám tuổi phạm tội gây ra

Theo các điểm từ điểm c đến điểm g khoản 1 Điều 23, Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, người có trách nhiệm bồi thường phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong VAHS. Tuy nhiên, trong trường hợp người phạm tội dưới 18 tuổi thì trách nhiệm bồi thường có sự khác biệt so với trường hợp người phạm tội từ đủ 18 tuổi trở lên.

Theo Điều 586 Bộ luật Dân sự năm 2015, người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường. Người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.

Cho nên, khi giải quyết VAHS do người dưới mười tám tuổi thực hiện mà phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Tòa án sẽ buộc cha, mẹ của người phạm tội chịu nghĩa vụ bồi thường chính và buộc người phạm tội thực hiện nghĩa vụ bồi thường bổ sung phần còn thiếu (trường hợp người phạm tội từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi) hoặc ngược lại (trường hợp người phạm tội chưa đủ mười lăm tuổi). Tuy nhiên, khi buộc nghĩa vụ án phí dân sự sơ thẩm trong VAHS lại có 02 quan điểm khác nhau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng, Tòa án buộc người có trách nhiệm bồi thường chính phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong VAHS. Theo đó, người phạm tội phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong VAHS trong trường hợp khi phạm tội người phạm tội từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi; cha mẹ của người phạm tội phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong VAHS trong trường hợp khi phạm tội người phạm tội chưa đủ mười lăm tuổi.

Quan điểm thứ hai cho rằng, ai bồi thường thì người đó có nghĩa vụ chịu án phí dân sự trong VAHS. Trong trường hợp này, Tòa án chỉ tuyên trách nhiệm bồi thường dự kiến nên cả người phạm tội và cha mẹ của người phạm tội phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong VAHS. Bởi vì, Tòa án không thể biết người phạm tội hay cha, mẹ của người phạm tội có tài sản hay không.

Tác giả đồng ý với quan điểm thứ nhất. Tuy nhiên, để áp dụng thống nhất, kiến nghị bổ sung vào khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với VAHS do người dưới mười tám tuổi thực hiện như sau:

“h) Trong trường hợp bị cáo là người dưới mười tám tuổi gây thiệt hại thì cha mẹ hoặc người giám hộ của bị cáo phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp bị cáo chưa đủ mười lăm tuổi; bị cáo phải phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp bị cáo từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi”.

Như vậy, quy định về án phí trong VAHS của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 có vai trò quan trọng, tạo thuận lợi cho Tòa án áp dụng trong quá trình giải quyết VAHS. Tuy nhiên, qua thực tiễn áp dụng, quy định về án phí trong VAHS của pháp luật hiện hành còn một số vướng mắc, bất cập, cần có sự nghiên cứu, đánh giá để sửa đổi, bổ sung những quy định chưa phù hợp./.

ThS. Thái Chí Bình
Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang


[1] Xem: Khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 21 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.

[2] Xem: Điều 143 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về các căn cứ khỏi tố VAHS.

[3] Về vấn đề này, tác giả xin nêu lên vụ án cụ thể trong thực tiễn như sau: Ngày 23/5/2021, Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh A mở phiên tòa xét xử sơ thẩm VAHS đối với bị cáo Đinh Văn R bị Viện kiểm sát nhân dân huyện C truy tố về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Nội dung Cáo trạng thể hiện, khoảng 13 giờ 30 phút ngày 14/9/2020, Đinh Văn R điều khiển xe mô tô biển số 67L1-341.00 chở ông Đinh Thanh H (chú họ của R) đến nhà ông Nguyễn Ngọc A, Trưởng ban Ban nhân dân ấp L hỏi lý do ông H không được cấp sổ hộ nghèo. Ông A giải thích nhưng R không đồng ý và lớn tiếng chửi ông A. Sau đó, R dẫn xe mô tô đi, thì bị A rút chìa khóa xe, yêu cầu R về trụ sở Ban ấp làm rõ vấn đề. Ngay lúc đó, R xô ngã xe mô tô, rồi nhặt 02 viên gạch ống dưới gốc cây gần đó, cầm trên hai tay. Khi đứng đối diện, cách ông A khoảng 03m, R dùng tay trái cầm 01 viên gạch ống ném về phía A trúng vào tay trái và vùng trán của ông A. R tiếp tục cầm viên gạch ống còn lại trên tay trái ném về phía ông A nhưng không trúng. A bỏ chạy và ném trả lại chìa khóa xe mô tô cho R. Do nhiều người dân can ngăn nên R nhặt chìa khóa, rồi điều khiển xe mô tô về nhà. Theo Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 389/20/TgT ngày 20/10/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh A, ông A tổn thương cơ thể do thương tích gây với tỷ lệ 03%. Tại phiên tòa, qua xét hỏi, do thấy bị cáo là người có học vấn thấp, thừa nhận sai trái nên Hội đồng xét xử đã giải thích quy định pháp luật và nêu lên cách thức xử sự mà bị cáo đáng lẽ ra phải thực hiện. Đồng thời, giải thích, thuyết phục ông A tha thứ cho bị cáo nhằm thể hiện sự rộng lượng của người thực hiện nhiệm vụ gắn với dân; hàn gắn rạn nứt để dễ dàng đưa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đến với người dân sau này được thuận lợi hơn. Do ông A tha thứ cho bị cáo và tự nguyện rút lại yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử sơ thẩm ban hành Quyết định số 01/2021/HSST-QĐ ngày 15/3/2021 đình chỉ vụ án, trong đó, ông A phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Theo đó, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng không phải thực hiện thêm các hoạt động tố tụng tiếp theo để giải quyết vụ án nên sẽ đỡ tốn thời gian, chi phí, nguồn nhân lực.

[5] Xem: Khoản 2 Điều 193 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004.

[6] Xem: Khoản 2 Điều 193 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, được sửa đổi, bổ sung năm 2011 và khoản 3 Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[7] Xem: Bùi Đức Độ, “Người thuộc hộ nghèo, cận nghèo được miễn án phí hình sự không?”, https://baophapluat.vn/nguoi-thuoc-ho-ngheo-can-ngheo-duoc-mien-an-phi-hinh-su-khong-post337395.html, và Dương Tấn thanh, “Bị cáo, bị hại là người cao tuổi được miễn án phí hình sự sơ thẩm”, tại địa chỉ: https://www.tapchitoaan.vn/bai-viet/trao-doi-y-kien/bi-cao-bi-hai-la-nguoi-cao-tuoi-duoc-mien-an-phi-hinh-su-so-tham.

[8] Xem: Đoàn Thị Tùng Linh, “Bị cáo, bị hại là người cao tuổi có được miễn án phí hình sự hay không http://vkscantho.vn/vkscantho/index.php/news/Trao-doi-nghiep-vu/Bi-cao-bi-hai-la-nguoi-cao-tuoi-co-duoc-mien-an-phi-hinh-su-hay-khong-3814/.

[9] Xem: Thái Chí Bình, Hoàn thiện quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về vấn đề dân sự trong VAHS, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 3/2014, tr. 59 - 73.

[10] Đối với vấn đề này, tác giả xin nêu vụ án cụ thể như sau: Nguyễn Tấn T mượn xe mô tô nhãn hiệu Sirena, kiểu dáng Dream màu nâu, biển số 67H8-1330 (trị giá 4.530.000 đồng) của ông La Công H rồi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt xe mô tô này. Sau khi có được tài sản, bị cáo T mang xe mô tô biển số 67H8-1330 bán cho Đoàn Thanh B với giá 2.500.000 đồng. Sau đó, T bị truy tố về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Về kết quả giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh A tuyên bố T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và áp dụng hình phạt đối với T. Về xử lý vật chứng, giao trả cho ông H xe mô tô biển số 67H8-1330 bị chiếm đoạt. Về trách nhiệm dân sự, buộc T bồi thường cho ông B 2.500.000 đồng. Về nghĩa vụ án phí, bên cạnh buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm, Tòa án còn buộc bị cáo chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải bồi thường. Trong trường hợp này, đáng lẽ Tòa án cấp sơ thẩm cần nhận định việc mua bán xe mô tô giữa T với ông B là vô hiệu và áp dụng các quy định về hợp đồng dân sự vô hiệu để tuyên bố hợp đồng mua bán vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu. Đồng thời, áp dụng quy định về án phí đối với hợp đồng dân sự vô hiệu và xử lý hậu quả hợp đồng vô hiệu tại khoản 3 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 để buộc T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong VAHS.

[11] Đối với vấn đề này, tác giả xin nêu vụ án cụ thể như sau: Ngày 30/12/2019, Lưu Hậu G thuê ghe gỗ biển kiểm soát AG-19312 của ông Nguyễn Thanh T đến khu vực cánh đồng lúa thuộc huyện H, tỉnh Đ để mua lúa. Do gặp khó trong việc mua lúa và được người tên B thuê chở pháo các loại về địa bàn thuộc tỉnh A và G hưởng lợi 3.000.000 đồng/chuyến nên G đồng ý. Khoảng 19 giờ ngày 31/12/2019, G nhận 22 bao màu trắng chứa 370 bịch nilon màu trắng, bên trong mỗi bịch chứa nhiều loại pháo. G cho xếp các bao lúa đã mua nằm ở mặt trên các bao đựng pháo rồi điều khiển ghe đến lò sấy lúa N ở ấp A, xã A, huyện C, tỉnh A. Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 03/01/2020, Công an huyện C kiểm tra, lập biên bản phạm tội quả tang đối với G về hành vi vận chuyển pháo thuê để hưởng lợi. Theo Kết luận giám định của cơ quan chuyên môn, vật được chứa trong các bao thu giữ từ G, được gửi đến giám định là pháo nổ có tổng khối lượng 343,2 kilôgam. G bị truy tố và xét xử về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm c khoản 3 Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đối với ghe gỗ biển kiểm soát AG-19312, Tòa án cấp sơ thẩm chỉ căn cứ vào điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (quy định về xử lý vật chứng) và khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (quy định về biện pháp tư pháp) trả lại ghe gỗ biển kiểm soát AG-19312 cho ông T mà không đề cập giải quyết vấn đề dân sự trong VAHS và không buộc bị cáo chịu án phí dân sự trong VAHS theo các điều 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Tóm tắt: Pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập là một bộ phận của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật, có vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên cơ sở làm rõ khái niệm, đặc trưng và các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện, nghiên cứu phân tích thực trạng pháp luật hiện hành, chỉ ra những kết quả đạt được và các hạn chế. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số cho người cao tuổi

Hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số cho người cao tuổi

Tóm tắt: Chuyển đổi số đặt ra yêu cầu cấp thiết cần đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, nhất là đối với các nhóm đối tượng đặc thù có năng lực số hạn chế. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số trên cơ sở chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và yêu cầu của chuyển đổi số; đánh giá thực trạng quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Thông qua trường hợp cảnh báo về “hợp đồng kỳ nghỉ”, nghiên cứu làm rõ những hạn chế trong việc tiếp cận thông tin pháp luật của người cao tuổi trên môi trường số, từ đó, chỉ ra những bất cập của pháp luật hiện hành. Trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các quy định pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số.

Theo dõi chúng tôi trên: