Thứ tư 26/08/2026 20:56
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vướng mắc về việc bảo vệ quyền và lợi ích của pháp nhân thương mại trong vụ án hình sự

Trong phạm vi bài viết, tác giả đề cập đến thực tiễn bảo vệ quyền và lợi ích của pháp nhân thương mại với tư cách là đối tượng bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố.

Pháp nhân thương mại theo quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 không chỉ là đương sự trong vụ án hình sự (nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự) mà còn có thể là bị hại, bị can, bị cáo, đối tượng bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố trong vụ án hình sự. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định về thủ tục tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại. Theo đó, khi xác định có dấu hiệu tội phạm do pháp nhân thương mại thực hiện thì các cơ quan có thẩm quyền sẽ ra quyết định khởi tố vụ án hình sự; khi có đủ căn cứ xác định pháp nhân đã thực hiện hành vi mà Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng ra quyết định khởi tố bị can đối với pháp nhân đó.

1. Thực tiễn bảo vệ quyền và lợi ích của pháp nhân thương mại trong vụ án hình sự ở nước ta hiện nay

Quá trình giải quyết vụ án hình sự bắt đầu từ việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm. Trong quá trình giải quyết tố giác tin báo về tội phạm, cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng áp dụng một số hoạt động điều tra ban đầu, các biện pháp cưỡng chế khác nghiêm khắc có thể ảnh hưởng lớn đến lợi ích, đến số phận pháp lý của pháp nhân thương mại cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh của pháp nhân thương mại, đòi hỏi việc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho pháp nhân thương mại trong giai đoạn này cần được đảm bảo.

Để bị can, bị cáo là pháp nhân thương mại có điều kiện thực hiện quyền bào chữa của mình, pháp luật cho phép họ được hưởng những quyền năng tố tụng nhất định được quy định tại Điều 435 và các điều khác trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Đó là những quyền mà bị can, bị cáo được phép sử dụng để bảo vệ mình như quyền trình bày lời khai, trình bày ý kiến, quyền đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật và những yêu cầu, quyền được tham gia phiên tòa, quyền được đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi hoặc tự mình hỏi và tranh luận tại phiên tòa, đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản... Những quy định về quyền này thực chất là tạo điều kiện để bị can, bị cáo sử dụng bảo vệ mình trước cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng khi bị buộc tội. Điều này có nghĩa là bị can, bị cáo có thể thanh minh, bác bỏ một phần hay toàn bộ lời buộc tội hoặc đưa ra những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm cho mình.

Theo quy định tại Điều 4 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, thì người bị buộc tội bao gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Những người thuộc diện người bị buộc tội này có quyền mời luật sư bào chữa cho mình hoặc tự mình bào chữa, trong trường hợp bắt buộc phải có luật sư mà những chủ thể nêu trên không mời người bào chữa thì các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng sẽ phải chỉ định luật sư bào chữa cho họ.

Tại Điều 74 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 có quy định:

- Người bào chữa được tham gia từ khi khởi tố bị can;

- Trong trường hợp bắt, tạm giữ người thì người bào chữa được tham gia từ khi người bị bắt có mặt tại trụ sở của cơ quan điều tra, cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc từ khi có quyết định tạm giữ.

Tuy nhiên, với chủ thể là pháp nhân thương mại phạm tội thì sẽ không có trường hợp bị bắt, bị tạm giữ, mà pháp nhân thương mại chỉ có thể thuộc diện là bị can, bị cáo. Theo đó, để trở thành bị can, bị cáo trong vụ án hình sự thì phải có quyết định khởi tố bị can, quyết định đưa vụ án ra xét xử của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Như vậy, luật sư chỉ được tham gia bào chữa cho pháp nhân thương mại khi pháp nhân đó bị khởi tố bị can.

Trên thực tế, tất cả các vụ án liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật hoặc hành vi có dấu hiệu phạm tội của pháp nhân thương mại bị cơ quan có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra thụ lý và giải quyết đều không có sự tham gia của luật sư trong giai đoạn tiền khởi tố. Điều này không có nghĩa là các pháp nhân thương mại không mời luật sư bào chữa cho mình, mà Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 không quy định luật sư được chấp nhận bào chữa cho pháp nhân trong giai đoạn này, vì vậy, các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng từ chối chấp nhận luật sư bào chữa cho pháp nhân thương mại tham gia từ giai đoạn tiền khởi tố. Theo đó, các pháp nhân thương mại phải thực hiện quyền tự mình bào chữa. Để đảm bảo quyền và lợi ích tốt nhất cho mình, các pháp nhân thương mại phần lớn triển khai ký hợp đồng dịch vụ pháp lý với luật sư tư vấn. Theo đó, luật sư tư vấn tham gia bảo vệ lợi ích cho pháp nhân chiếm tỷ lệ rất cao, hầu như vụ án nào liên quan đến tố tụng đều có sự tham gia của luật sư tư vấn. Thực tiễn, có nhiều pháp nhân thành lập Ban pháp chế tại công ty, thành viên hoạt động trong ban này là những người có bằng tốt nghiệp đại học chuyên ngành luật, nhiều công ty còn cử người tham gia học khóa đào tạo luật sư tại Học viện Tư pháp, do đó, họ không ký hợp đồng với luật sư để tư vấn pháp luật. Song, các hoạt động được cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tổ chức tiến hành trên thực tiễn sẽ không có sự tham gia của luật sư bào chữa và luật sư tư vấn càng không được tham gia, như: Hoạt động khám xét, gọi, hỏi liên quan đến hành vi điều tra, xác minh; hoạt động khám nghiệm hiện trường... đều không có sự tham gia của luật sư bào chữa, luật sư tư vấn. Việc này đã làm ảnh hưởng lớn đến quyền và lợi ích của pháp nhân thương mại đang thuộc diện bị tiến hành kiểm tra, xác minh về các hành vi vi phạm pháp luật hoặc có dấu hiệu của tội phạm. Bởi lẽ, khi luật sư không được pháp luật quy định cho tham gia từ giai đoạn này, thì họ sẽ không thể tham gia các hoạt động mà cơ quan điều tra, cơ quan tiến hành một số hoạt động điều tra tiến hành theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Theo đó, luật sư sẽ không nắm bắt hết được vấn đề, không được tiếp xúc, trao đổi, kiến nghị những nội dung và vấn đề quan trọng với cơ quan điều tra, cơ quan có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra để bảo vệ quyền và lợi ích tốt nhất cho pháp nhân.

2. Nguyên nhân của những tồn tại trong việc thực hiện bảo vệ quyền và lợi ích của pháp nhân thương mại trong vụ án hình sự

Hoạt động bảo vệ quyền và lợi ích cho pháp nhân thương mại khi vào vòng quay tố tụng rất cần ở giai đoạn tiền khởi tố vụ án, khởi tố bị can, chiếm tỷ lệ 99,9% số vụ án liên quan đến pháp nhân thương mại có dấu hiệu của hành vi vi phạm pháp luật.

Theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 57 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cũng đã quy định về quyền của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố thì những người này có quyền tự bảo vệ hoặc nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố có quyền có mặt khi lấy lời khai của người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố; được đưa chứng cứ tài liệu, đồ vật; được có mặt khi đối chất, nhận dạng… (khoản 3 Điều 83 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015). Tuy nhiên, trên thực tế, pháp nhân thương mại là đối tượng bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố đều phải tự thực hiện việc tự bảo vệ quyền lợi cho mình bằng cách thuê luật sư tư vấn bởi lẽ:

Một là, trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 không có khái niệm thế nào là người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố nên cũng không rõ “người” này có bao gồm cả cá nhân hay pháp nhân thương mại hay không? Việc quy định không rõ này có thể dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau, trong đó, có thể có cách hiểu bất lợi cho pháp nhân là “người” phải là một con người cụ thể, tức là cá nhân.

Hai là, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và các văn bản hướng dẫn chưa có quy định về thủ tục đăng ký bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố nên trên thực tiễn có thể dẫn đến sự tùy tiện của cơ quan hoặc người có thẩm quyền. Không giống như luật sư bào chữa cho bị can, bị cáo được đăng ký vào sổ bào chữa và có văn bản thông báo cho người bào chữa về việc họ bào chữa, đối với luật sư tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của pháp nhân thương mại bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố, pháp luật chưa quy định thủ tục đăng ký bảo vệ này. Trên thực tế, cơ quan điều tra đã áp dụng quy định này khác nhau và họ thường không cho người bảo vệ quyền lợi của pháp nhân thương mại tham gia trong giai đoạn giải quyết tố giác, tin báo tội phạm

Ba là, nếu coi pháp nhân thương mại người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố thì ngoài quyền tự bảo vệ, họ chỉ có thể nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình chứ không phải nhờ người bào chữa cho mình. Theo quy định tại khoản 3 Điều 83 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định về quyền của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp là người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố rất hạn chế so với quyền của người bào chữa như họ không có quyền xem biên bản hoạt động tố tụng, đề nghị tiến hành hoạt động tố tụng, thu thập chứng cứ tài liệu, đọc, ghi chép, sao chụp tài liệu… Việc pháp luật quy định như vậy ảnh hưởng rất lớn đến quyền và lợi ích của pháp nhân thương mại.

Bốn là, pháp nhân thương mại khi thực hiện quyền tự mình bào chữa do Luật quy định giai đoạn này chưa được sự tham gia của luật sư bào chữa, bảo vệ vì pháp nhân chưa bị khởi tố bị can, cho thấy hiệu quả không cao. Điều này là do những nguyên nhân sau: (i) Đại diện hợp pháp cho pháp nhân là người được pháp nhân cử ra, nhiều trường hợp không nắm bắt được bản chất của sự việc, nên khai không chuẩn xác; (ii) Những người này không giỏi và không chuyên sâu về lĩnh vực pháp luật mà họ tham gia làm đại diện cho pháp nhân, bản thân họ không có kỹ năng đọc, nghiên cứu, sao chép hồ sơ nên rất hạn chế khi tham gia; (iii) Nếu là luật sư tư vấn được cử làm đại diện hợp pháp cho công ty thì sẽ vấp phải những câu hỏi liên quan đến hoạt động của công ty thì lại không biết để trả lời, ảnh hưởng đến công ty rất lớn, chưa kể đến luật sư tư vấn có nhiều trình độ khác nhau, chưa thực sự đồng đều về chất lượng, một số luật sư kỹ năng hành nghề còn nhiều hạn chế, một số khác nhận vụ việc tư vấn nhưng không thuộc chuyên ngành chuyên sâu của bản thân… theo đó, hiệu quả không cao, nhiều vụ án còn đẩy pháp nhân vào bế tắc, gây thiệt hại cho pháp nhân thương mại

3. Một số kiến nghị

Việc tham gia của luật sư bào chữa, bảo vệ trong giai đoạn đầu đối với những vụ án đang thuộc diện điều tra xác minh các tố giác, tin báo về tội phạm là hết sức cần thiết và quan trọng. Theo đó, luật sư sẽ bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp cho các pháp nhân, đồng thời luật sư còn giúp các cơ quan tiến hành tố tụng, các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng giải quyết vụ án được khách quan, toàn diện và đầy đủ. Thực tiễn đã chứng minh rằng những vụ án mà có luật sư tham gia thì hiệu quả đạt được rất cao, tuy nhiên, hầu hết các vụ án giải quyết ở giai đoạn này đều không được các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đồng ý có luật sư tham gia. Vì vậy, tác giả kiến nghị như sau:

Thứ nhất, cần có văn bản hướng dẫn luật, quy định rõ trong gian đoạn giải quyết tin báo, tố giác tội phạm, pháp nhân thương mại là đối tượng bị tố giác cũng có quyền nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình. Người đó có thể là luật sư, người đại diện của người bị buộc tội, bào chữa viên nhân dân, trợ giúp viên pháp lý.

Thứ hai, cần có văn bản hướng dẫn quy định rõ về thủ tục đăng ký bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của pháp nhân thương mại bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố. Theo đó, để được tham gia với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích cho pháp nhân thương mại bị tố giác, bị kiến nghị thì những người này cũng phải làm thủ tục “đăng ký bào chữa” theo quy định của pháp luật giống như thủ tục “đăng ký bào chữa” đối với người bị buộc tội vậy.

Thứ ba, cần phải có quy định trong luật để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp là pháp nhân thương mại sản xuất, kinh doanh ổn định, tránh ảnh hưởng lớn đến quyền lợi của các doanh nghiệp, chúng tôi kiến nghị nếu pháp nhân thương mại bị tố giác hoặc bị kiến nghị khởi tố thì người đại diện theo pháp luật của pháp nhân đó có thể nhờ người bào chữa vì suy cho cùng việc bào chữa cũng là bảo vệ quyền và lợi ích của pháp nhân thương mại. Những người này có thể là luật sư, bào chữa viên nhân dân… thực hiện các quyền theo quy định tại Điều 73 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Thứ tư, để nâng cao hơn nữa chất lượng bào chữa, bảo vệ cho pháp nhân thương mại, cần có lớp bồi dưỡng chuyên sâu về các kiến thức liên quan đến việc bào chữa, bảo vệ cho các đối tượng này của Liên đoàn Luật sư cho các luật sư.

Từ thực tiễn giải quyết các vụ án liên quan đến pháp nhân thương mại nêu trên, cũng như tìm ra được những nguyên nhân dẫn đến việc giải quyết kém hiệu quả trên thực tiễn là một trong những vấn đề quan trọng đặt ra, cần hoàn thiện các quy định của pháp luật liên quan đến lĩnh vực này vì các quy định của pháp luật hiện hành cho thấy chưa thực sự bảo đảm quyền bào chữa, bảo vệ cho đối tượng là pháp nhân thương mại./.

Nguyễn Thanh Mai & Nguyễn Kim Chi

Học viện Tư pháp

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: