Thứ năm 25/06/2026 11:50
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số ý kiến về khởi tố vụ án hình sự

Khởi tố vụ án hình sự là quy trình tố tụng đầu vào khi các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng xác định một vụ việc có dấu hiệu của tội phạm khi có một trong các căn cứ luật định, để từ đó tiến hành một loạt các hoạt động tiếp theo đó là điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự. Bài viết nghiên cứu các quy định về khởi tố vụ án trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 có so sánh, đối chiếu với Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và đề xuất kiến nghị hoàn thiện một số quy định có liên quan đến vấn đề khởi tố vụ án hình sự.


1. Quy định về khởi tố vụ án hình sự

Khởi tố vụ án là giai đoạn đầu tiên mà trong đó cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền căn cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng hình sự tiến hành việc xác định có hay không các dấu hiệu của tội phạm trong hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện, đồng thời ban hành quyết định về việc khởi tố (hoặc không khởi tố) vụ án hình sự liên quan đến hành vi đó[1]. Quy định về thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự không chỉ được quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 mà còn được quy định tại Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự[2], Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân[3], Luật Tổ chức Tòa án nhân dân[4]. Vì vậy, khi xác định có dấu hiệu tội phạm dựa trên một trong các căn cứ quy định Điều 143 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì các cơ quan và người có thẩm quyền trong các cơ quan sau, có quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự:

Thứ nhất, các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra gồm: Các cơ quan của Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư; các cơ quan của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.

Thứ hai, các cơ quan tiến hành tố tụng gồm: Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân, Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân, Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân các cấp và Hội đồng xét xử.

2. So sánh với Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003

Nếu như Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 tại chương khởi tố vụ án hình sự quy định 10 điều luật từ Điều 100 đến Điều 109 thì Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã bổ sung, hoàn chỉnh thêm một số quy định và nâng lên thành 20 điều luật từ Điều 143 đến Điều 162. Ngoài việc chuẩn hóa từ ngữ pháp lý, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 còn có những điểm mới so với Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, cụ thể như sau:

Một là, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 chỉ quy định duy nhất một điều luật về nhiệm vụ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố (Điều 103). Trong khi đó, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 giải thích cụ thể thế nào là tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố (Điều 144), tuy khái niệm này không có nhiều sự thay đổi so với cách giải thích từ ngữ tại Thông tư liên tịch số 06/2013/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC ngày 02/8/2013 của Bộ Công an, Bộ Quốc Phòng, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành hành quy định của bộ luật tố tụng hình sự về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, nhưng đã thể hiện sự đầy đủ, tính chính xác cao, dễ hiểu và quan trọng hơn nữa nó được nâng lên thành một quy định trong luật. Bên cạnh đó, nếu như trước đây Viện kiểm sát chỉ có trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết của cơ quan điều tra đối với tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố thì Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định Viện kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong trường hợp phát hiện cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà Viện kiểm sát đã yêu cầu bằng văn bản nhưng không được khắc phục. Đây là quy định mới của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 nhằm cụ thể hóa quy định của Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 vào pháp luật tố tụng hình sự[5]. Ngoài ra, còn quy định cụ thể về thủ tục tiếp nguồn tin, thời hạn giải quyết và các hoạt động được tiến hành trong giai đoạn này. Một trong những quy định mới quan trọng, giải quyết được những khó khăn vướng mắc trước đây đó là quy định về việc tạm đình chỉ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố (Điều 148) khi cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố đang trong thời hạn xác minh, yêu cầu cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc cung cấp tài liệu, đồ vật có liên quan đến nguồn tin về tội phạm hay như việc cần trưng cầu giám định, định giá tài sản mà kết quả của nó là căn cứ để khởi tố hoặc không khởi tố vụ án (ví dụ: Các vụ án cần giám định tuổi; tình trạng năng lực hành vi; các vụ án quy định giá trị tài sản bị chiếm đoạt…) mà thời hạn giải quyết nguồn tin đã hết, đồng thời quy định việc phục hồi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố (Điều 149) khi những vấn đề trên đã được giải quyết.

Hai là, phân định rõ thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát, hội đồng xét xử. Trong đó, quy định 03 trường hợp Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố vụ án hình sự gồm: Viện kiểm sát hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án hình sự của cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; Viện kiểm sát trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; Viện kiểm sát trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm hoặc theo yêu cầu khởi tố của Hội đồng xét xử. Một điểm đáng chú ý nữa là đối với những vụ án chỉ được khởi tố theo yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của người bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về thể chất hoặc đã chết thì người đã yêu cầu có thể rút yêu cầu bất cứ khi nào mà không bị giới hạn về thời điểm như Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 là phải trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm, còn Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cho phép rút đơn yêu cầu bất kỳ giai đoạn nào, kể cả tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, vấn đề này đã được hướng dẫn cụ thể tại Công văn số 254/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về việc người đã yêu cầu khởi tố vụ án hình sự rút yêu cầu theo quy định tại Điều 155Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Ba là, bổ sung thêm một trong các căn cứ không khởi tố vụ án hình sự khi tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 155, 156, và 226 của Bộ luật Hình sự khi bị hại hoặc người đại diện của bị hại không có yêu cầu khởi tố, đồng thời phân định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố với việc tiếp nhận và kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm, cũng như chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự. Hay nói cách khác là có sự tách bạch khi quy định chức năng hiến định của Viện kiểm sát là chức năng thực hành quyền công tố với chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp. Bên cạnh đó, quy định trách nhiệm của cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong việc thực hiện các yêu cầu, quyết định của Viện kiểm sát.

3. Một số kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật về khởi tố vụ án hình sự

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã có những quy định mới, những sửa đổi, bổ sung nhằm khắc phục những hạn chế, tồn tại, vướng mắc trong một thời gian dài khi các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện theo các quy định trước đây, việc loại bỏ những quy định cũ không còn phù hợp, bổ sung các quy định mới đầy đủ, kịp thời thể hiện quan điểm của Đảng, nhà nước ta trong công cuộc cải cách tư pháp, đáp ứng được thực tiễn, cũng như nhất quán trong việc áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự của các cơ quan tư pháp. Tuy nhiên, việc nghiên cứu, phân tích các quy định để tiếp tục hoàn thiện trong thời gian tới là cần thiết. Qua nghiên cứu, tác giả nhận thấy cần tiếp tục sửa đổi, bổ sung một số quy định có liên quan đến khởi tố vụ án hình sự như sau:

Thứ nhất, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định Viện kiểm sát có thẩm quyền trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong trường hợp như đã phân tích ở trên, khi đó mọi trình tự, thủ tục, thời hạn mà Viện kiểm sát tiến hành giải quyết phải tuân thủ như đối với trường hợp Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Vấn đề ở chỗ, nếu trường hợp phải tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin khi thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 148 thì Viện kiểm sát có quyền ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin về tội phạm theo điều này và đó cũng là một trong các nhiệm vụ quyền hạn của Viện kiểm sát (điểm b khoản 2 Điều 41 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015). Tuy nhiên, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 lại không có quy định về thẩm quyền phục hồi giải quyết nguồn tin khi một trong các lý do tạm đình chỉ không còn nữa, mà nhiệm vụ này chỉ quy định cho cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (Điều 149) là chưa hợp lý. Do đó, tác giả đề xuất nên bổ sung vào khoản 1 Điều 149 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 như sau: “Khi lý do tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố không còn, cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát ra quyết định phục hồi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố…”.

Thứ hai, hội đồng xét xử ra quyết định khởi tố hoặc yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện có việc bỏ lọt tội phạm và trong 24 giờ phải gửi quyết định đó kèm theo tài liệu liên quan đến Viện kiểm sát cùng cấp. Trong khi đó, quyền thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự thuộc về cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát (Điều 156). Như vậy, hội đồng xét xử đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự thì không có thẩm quyền thay đổi, bổ sung trong mọi trường hợp và như thế sẽ bất cập khi hội đồng xét xử phát hiện ra quyết định khởi tố của mình là không đúng với hành vi phạm tội xảy ra hoặc trường hợp còn có thể khởi tố thêm một hoặc nhiều tội phạm khác nhưng không thể thực hiện việc thay đổi hay bổ sung vì luật không cho phép, trong khi cũng chưa có quy định về việc cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát có quyền thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự của hội đồng xét xử, mà chỉ có trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị lên Tòa án trên một cấp khi cho rằng quyết định khởi tố vụ án của hội đồng xét xử không có căn cứ (điểm c khoản 1 Điều 161). Vì vậy, theo tác giả cần bổ sung thêm chủ thể có thẩm quyền thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự là hội đồng xét xử vào Điều 156 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Thứ ba, một trong những sửa đổi, bổ sung của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đó việc quy định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại, tuy nhiên các căn cứ không khởi tố vụ án hình sự được quy định tại Điều 157 Bộ luật Hình sự năm 2015 chưa thể hiện đầy đủ nội hàm trách nhiệm hình sự của cá nhân và pháp nhân thương mại. Mặc dù, thủ tục tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân đã được quy định riêng tại chương XXIX Bộ luật Hình sự năm 2015, nhưng tại chương này chỉ có quy định về tạm đình chỉ, đình chỉ vụ án, nghĩa là khi này vụ án đã được khởi tố (Điều 443 Bộ luật Hình sự năm 2015). Bởi lẽ trên, tác giả cho rằng nên bổ sung thêm vào khoản 4 Điều 157 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định trường hợp không được khởi tố vụ bao gồm cả pháp nhân thương mại, theo hướng như sau: “Người hoặc pháp nhân thương mại mà hành vi phạm tội của họ đã bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật” thì sẽ hợp lý hơn. Hơn nữa, cần bổ sung thêm vào khoản 8 cùng điều luật trên đối với trường hợp người đại diện của bị hại không yêu cầu khởi tố trong trường hợp nào? Để tương thích với quy định các trường hợp khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại, vì nếu chỉ quy định là người đại diện của bị hại thì phạm vi sẽ rất rộng bao gồm cả các trường hợp đại diệncủa bị hại theo quy định tại khoản 5 Điều 62 Bộ luật Hình sự năm 2015. Vì vậy, chúng tôi thấy rằng cần bổ sung vào khoản 8 như sau: “…bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết không yêu cầu khởi tố”.

Phạm Văn Tuân

Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp


[1] Lê Cảm, Một số vẫn đề lý luận chung về các giai đoạn tố tụng hình sự, Tạp chí kiểm sát, số 02, năm 2004, tr.26.

[2] Từ điều Điều 19 đến Điều 40 Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự.

[3] Xem điểm a khoản 3 Điều 13; khoản 3, 9 Điều 14; khoản 4 Điều 16; điểm e khoản 2 Điều 22; điểm g khoản 2 Điều 25 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014.

[4] Điểm d khoản 3 Điều 2 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014.

[5] Xem khoản 4 Điều 12 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1111/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026 - 2030 (Kế hoạch), đánh dấu bước triển khai quan trọng Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 130/2025/QH15 (Luật năm 2025) được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 (ngày 10/12/2025), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 gồm 11 Chương và 107 Điều quy định về hoạt động hàng không dân dụng, bao gồm các quy định về tàu bay, cảng hàng không, nhân viên hàng không, hoạt động bay, vận tải hàng không thương mại, hàng không chuyên dùng, hàng không chung, an toàn hàng không, an ninh hàng không, trách nhiệm dân sự và các hoạt động khác có liên quan đến hàng không dân dụng.
Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Quy định mới tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 49/2026/NĐ-CP với cơ chế đồng thuận trên 75% được kỳ vọng khơi thông hàng nghìn dự án, sẽ tháo gỡ một trong những vướng mắc lớn nhất trong quá trình triển khai các dự án có sử dụng đất.
Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Ngày 10/12/2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 chính thức thông qua Luật số 132/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026).
Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 thay thế Pháp lệnh Dân số số 06/2004/PL-UBTVQH11 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15). Một trong những thay đổi căn bản của Luật Dân số năm 2025 là chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Những nội dung liên quan đến dân số và phát triển đã được thể hiện trong việc hướng tới giải quyết đồng bộ các vấn đề về quy mô dân số, cơ cấu dân số, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.
Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.

Theo dõi chúng tôi trên: