Thứ bảy 04/04/2026 23:29
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số ý kiến về khởi tố vụ án hình sự

Khởi tố vụ án hình sự là quy trình tố tụng đầu vào khi các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng xác định một vụ việc có dấu hiệu của tội phạm khi có một trong các căn cứ luật định, để từ đó tiến hành một loạt các hoạt động tiếp theo đó là điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự. Bài viết nghiên cứu các quy định về khởi tố vụ án trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 có so sánh, đối chiếu với Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và đề xuất kiến nghị hoàn thiện một số quy định có liên quan đến vấn đề khởi tố vụ án hình sự.


1. Quy định về khởi tố vụ án hình sự

Khởi tố vụ án là giai đoạn đầu tiên mà trong đó cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền căn cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng hình sự tiến hành việc xác định có hay không các dấu hiệu của tội phạm trong hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện, đồng thời ban hành quyết định về việc khởi tố (hoặc không khởi tố) vụ án hình sự liên quan đến hành vi đó[1]. Quy định về thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự không chỉ được quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 mà còn được quy định tại Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự[2], Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân[3], Luật Tổ chức Tòa án nhân dân[4]. Vì vậy, khi xác định có dấu hiệu tội phạm dựa trên một trong các căn cứ quy định Điều 143 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì các cơ quan và người có thẩm quyền trong các cơ quan sau, có quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự:

Thứ nhất, các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra gồm: Các cơ quan của Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư; các cơ quan của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.

Thứ hai, các cơ quan tiến hành tố tụng gồm: Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân, Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân, Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân các cấp và Hội đồng xét xử.

2. So sánh với Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003

Nếu như Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 tại chương khởi tố vụ án hình sự quy định 10 điều luật từ Điều 100 đến Điều 109 thì Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã bổ sung, hoàn chỉnh thêm một số quy định và nâng lên thành 20 điều luật từ Điều 143 đến Điều 162. Ngoài việc chuẩn hóa từ ngữ pháp lý, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 còn có những điểm mới so với Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, cụ thể như sau:

Một là, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 chỉ quy định duy nhất một điều luật về nhiệm vụ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố (Điều 103). Trong khi đó, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 giải thích cụ thể thế nào là tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố (Điều 144), tuy khái niệm này không có nhiều sự thay đổi so với cách giải thích từ ngữ tại Thông tư liên tịch số 06/2013/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC ngày 02/8/2013 của Bộ Công an, Bộ Quốc Phòng, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành hành quy định của bộ luật tố tụng hình sự về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, nhưng đã thể hiện sự đầy đủ, tính chính xác cao, dễ hiểu và quan trọng hơn nữa nó được nâng lên thành một quy định trong luật. Bên cạnh đó, nếu như trước đây Viện kiểm sát chỉ có trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết của cơ quan điều tra đối với tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố thì Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định Viện kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong trường hợp phát hiện cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà Viện kiểm sát đã yêu cầu bằng văn bản nhưng không được khắc phục. Đây là quy định mới của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 nhằm cụ thể hóa quy định của Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 vào pháp luật tố tụng hình sự[5]. Ngoài ra, còn quy định cụ thể về thủ tục tiếp nguồn tin, thời hạn giải quyết và các hoạt động được tiến hành trong giai đoạn này. Một trong những quy định mới quan trọng, giải quyết được những khó khăn vướng mắc trước đây đó là quy định về việc tạm đình chỉ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố (Điều 148) khi cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố đang trong thời hạn xác minh, yêu cầu cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc cung cấp tài liệu, đồ vật có liên quan đến nguồn tin về tội phạm hay như việc cần trưng cầu giám định, định giá tài sản mà kết quả của nó là căn cứ để khởi tố hoặc không khởi tố vụ án (ví dụ: Các vụ án cần giám định tuổi; tình trạng năng lực hành vi; các vụ án quy định giá trị tài sản bị chiếm đoạt…) mà thời hạn giải quyết nguồn tin đã hết, đồng thời quy định việc phục hồi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố (Điều 149) khi những vấn đề trên đã được giải quyết.

Hai là, phân định rõ thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát, hội đồng xét xử. Trong đó, quy định 03 trường hợp Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố vụ án hình sự gồm: Viện kiểm sát hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án hình sự của cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; Viện kiểm sát trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; Viện kiểm sát trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm hoặc theo yêu cầu khởi tố của Hội đồng xét xử. Một điểm đáng chú ý nữa là đối với những vụ án chỉ được khởi tố theo yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của người bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về thể chất hoặc đã chết thì người đã yêu cầu có thể rút yêu cầu bất cứ khi nào mà không bị giới hạn về thời điểm như Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 là phải trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm, còn Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cho phép rút đơn yêu cầu bất kỳ giai đoạn nào, kể cả tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, vấn đề này đã được hướng dẫn cụ thể tại Công văn số 254/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về việc người đã yêu cầu khởi tố vụ án hình sự rút yêu cầu theo quy định tại Điều 155Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Ba là, bổ sung thêm một trong các căn cứ không khởi tố vụ án hình sự khi tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 155, 156, và 226 của Bộ luật Hình sự khi bị hại hoặc người đại diện của bị hại không có yêu cầu khởi tố, đồng thời phân định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố với việc tiếp nhận và kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm, cũng như chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự. Hay nói cách khác là có sự tách bạch khi quy định chức năng hiến định của Viện kiểm sát là chức năng thực hành quyền công tố với chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp. Bên cạnh đó, quy định trách nhiệm của cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong việc thực hiện các yêu cầu, quyết định của Viện kiểm sát.

3. Một số kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật về khởi tố vụ án hình sự

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã có những quy định mới, những sửa đổi, bổ sung nhằm khắc phục những hạn chế, tồn tại, vướng mắc trong một thời gian dài khi các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện theo các quy định trước đây, việc loại bỏ những quy định cũ không còn phù hợp, bổ sung các quy định mới đầy đủ, kịp thời thể hiện quan điểm của Đảng, nhà nước ta trong công cuộc cải cách tư pháp, đáp ứng được thực tiễn, cũng như nhất quán trong việc áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự của các cơ quan tư pháp. Tuy nhiên, việc nghiên cứu, phân tích các quy định để tiếp tục hoàn thiện trong thời gian tới là cần thiết. Qua nghiên cứu, tác giả nhận thấy cần tiếp tục sửa đổi, bổ sung một số quy định có liên quan đến khởi tố vụ án hình sự như sau:

Thứ nhất, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định Viện kiểm sát có thẩm quyền trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong trường hợp như đã phân tích ở trên, khi đó mọi trình tự, thủ tục, thời hạn mà Viện kiểm sát tiến hành giải quyết phải tuân thủ như đối với trường hợp Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Vấn đề ở chỗ, nếu trường hợp phải tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin khi thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 148 thì Viện kiểm sát có quyền ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin về tội phạm theo điều này và đó cũng là một trong các nhiệm vụ quyền hạn của Viện kiểm sát (điểm b khoản 2 Điều 41 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015). Tuy nhiên, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 lại không có quy định về thẩm quyền phục hồi giải quyết nguồn tin khi một trong các lý do tạm đình chỉ không còn nữa, mà nhiệm vụ này chỉ quy định cho cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (Điều 149) là chưa hợp lý. Do đó, tác giả đề xuất nên bổ sung vào khoản 1 Điều 149 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 như sau: “Khi lý do tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố không còn, cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát ra quyết định phục hồi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố…”.

Thứ hai, hội đồng xét xử ra quyết định khởi tố hoặc yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện có việc bỏ lọt tội phạm và trong 24 giờ phải gửi quyết định đó kèm theo tài liệu liên quan đến Viện kiểm sát cùng cấp. Trong khi đó, quyền thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự thuộc về cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát (Điều 156). Như vậy, hội đồng xét xử đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự thì không có thẩm quyền thay đổi, bổ sung trong mọi trường hợp và như thế sẽ bất cập khi hội đồng xét xử phát hiện ra quyết định khởi tố của mình là không đúng với hành vi phạm tội xảy ra hoặc trường hợp còn có thể khởi tố thêm một hoặc nhiều tội phạm khác nhưng không thể thực hiện việc thay đổi hay bổ sung vì luật không cho phép, trong khi cũng chưa có quy định về việc cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát có quyền thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự của hội đồng xét xử, mà chỉ có trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị lên Tòa án trên một cấp khi cho rằng quyết định khởi tố vụ án của hội đồng xét xử không có căn cứ (điểm c khoản 1 Điều 161). Vì vậy, theo tác giả cần bổ sung thêm chủ thể có thẩm quyền thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự là hội đồng xét xử vào Điều 156 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Thứ ba, một trong những sửa đổi, bổ sung của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đó việc quy định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại, tuy nhiên các căn cứ không khởi tố vụ án hình sự được quy định tại Điều 157 Bộ luật Hình sự năm 2015 chưa thể hiện đầy đủ nội hàm trách nhiệm hình sự của cá nhân và pháp nhân thương mại. Mặc dù, thủ tục tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân đã được quy định riêng tại chương XXIX Bộ luật Hình sự năm 2015, nhưng tại chương này chỉ có quy định về tạm đình chỉ, đình chỉ vụ án, nghĩa là khi này vụ án đã được khởi tố (Điều 443 Bộ luật Hình sự năm 2015). Bởi lẽ trên, tác giả cho rằng nên bổ sung thêm vào khoản 4 Điều 157 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định trường hợp không được khởi tố vụ bao gồm cả pháp nhân thương mại, theo hướng như sau: “Người hoặc pháp nhân thương mại mà hành vi phạm tội của họ đã bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật” thì sẽ hợp lý hơn. Hơn nữa, cần bổ sung thêm vào khoản 8 cùng điều luật trên đối với trường hợp người đại diện của bị hại không yêu cầu khởi tố trong trường hợp nào? Để tương thích với quy định các trường hợp khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại, vì nếu chỉ quy định là người đại diện của bị hại thì phạm vi sẽ rất rộng bao gồm cả các trường hợp đại diệncủa bị hại theo quy định tại khoản 5 Điều 62 Bộ luật Hình sự năm 2015. Vì vậy, chúng tôi thấy rằng cần bổ sung vào khoản 8 như sau: “…bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết không yêu cầu khởi tố”.

Phạm Văn Tuân

Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp


[1] Lê Cảm, Một số vẫn đề lý luận chung về các giai đoạn tố tụng hình sự, Tạp chí kiểm sát, số 02, năm 2004, tr.26.

[2] Từ điều Điều 19 đến Điều 40 Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự.

[3] Xem điểm a khoản 3 Điều 13; khoản 3, 9 Điều 14; khoản 4 Điều 16; điểm e khoản 2 Điều 22; điểm g khoản 2 Điều 25 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014.

[4] Điểm d khoản 3 Điều 2 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014.

[5] Xem khoản 4 Điều 12 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ tại Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.

Theo dõi chúng tôi trên: