Thứ tư 02/09/2026 20:47
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp trong bối cảnh hiện nay

Bài viết tập trung phân tích thực trạng hoạt động xây dựng, quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp, đồng thời chỉ ra yêu cầu và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp trong bối cảnh hiện nay.

1. Thực trạng hoạt động xây dựng, quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp

Qua thực tiễn hơn 13 năm thi hành Luật Lý lịch tư pháp năm 2009 cho thấy, hoạt động xây dựng, quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp, một trong những nhiệm vụ trọng tâm của công tác lý lịch tư pháp đã từng bước được chú trọng thực hiện và ngày càng đi vào nền nếp. Các cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp từ Trung ương đến địa phương (Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia thuộc Bộ Tư pháp và Sở Tư pháp của 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương) đã khẩn trương thực hiện nhiệm vụ xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp ngay sau khi Luật Lý lịch tư pháp năm 2009 có hiệu lực thi hành. Hằng năm, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và các Sở Tư pháp thực hiện tiếp nhận hàng trăm nghìn thông tin lý lịch tư pháp từ hơn 2.000 cơ quan đầu mối cung cấp thông tin (Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan Công an, cơ quan Thi hành án dân sự và các cơ quan có liên quan trong quân đội…). Hiện nay, Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp đã được xây dựng tại Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và 63 Sở Tư pháp. Sau hơn 13 năm thi hành Luật Lý lịch tư pháp năm 2009, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia đã thực hiện tiếp nhận, xử lý hơn 02 triệu thông tin lý lịch tư pháp, trên cơ sở đó, tạo lập hơn 1,2 triệu hồ sơ lý lịch tư pháp và gần 800 nghìn thông tin lý lịch tư pháp bổ sung. Các Sở Tư pháp đã thực hiện tiếp nhận, xử lý hơn 06 triệu thông tin lý lịch tư pháp, tạo lập gần 1,3 triệu hồ sơ lý lịch tư pháp và hơn 4,7 triệu thông tin lý lịch tư pháp bổ sung. Đây là một trong những cơ sở dữ liệu quan trọng để Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và các Sở Tư pháp thực hiện khai thác, tra cứu thông tin, phục vụ công tác cấp Phiếu lý lịch tư pháp, đáp ứng kịp thời yêu cầu của người dân, cơ quan, tổ chức.

Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác lý lịch tư pháp được quan tâm, chú trọng ngay từ những ngày đầu tổ chức thi hành Luật Lý lịch tư pháp năm 2009 nhằm phát triển công tác này theo hướng chuyên nghiệp, từng bước hiện đại. Từ năm 2012, Bộ Tư pháp đã xây dựng, triển khai Phần mềm Quản lý lý lịch tư pháp dùng chung cho các Sở Tư pháp và phiên bản cho Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia. Từ đó đến nay, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và các Sở Tư pháp đã sử dụng các phần mềm nói trên để thực hiện tiếp nhận, xử lý thông tin, xây dựng, quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp và cấp Phiếu lý lịch tư pháp. Trên cơ sở đó, Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp điện tử cũng từng bước được xây dựng, tạo lập nhằm đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý lý lịch tư pháp và cấp Phiếu lý lịch tư pháp.

Từ tháng 5/2015, Bộ Tư pháp đã triển khai sử dụng phân hệ trao đổi thông tin lý lịch tư pháp điện tử giữa Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và Sở Tư pháp nhằm từng bước thay thế việc gửi thông tin lý lịch tư pháp bằng văn bản giấy và hạn chế tối đa việc thông tin phải nhập lại nhiều lần. Đến nay, đã có khoảng hơn 1,6 triệu thông tin điện tử được thực hiện trao đổi, cung cấp giữa các Sở Tư pháp và Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia.

Để nâng cao hiệu quả công tác xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp, hằng năm, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia thường xuyên có các văn bản gửi Sở Tư pháp đề nghị tăng cường công tác xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp. Định kỳ 06 tháng và hằng năm, Trung tâm chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan (Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan Công an, cơ quan có liên quan trong Quân đội…) thực hiện rà soát thông tin lý lịch tư pháp đã cung cấp, tiếp nhận để xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp theo quy định của pháp luật, bảo đảm thông tin được cung cấp, tiếp nhận đầy đủ, kịp thời. Để bảo đảm chất lượng thông tin có trong Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp, từ năm 2022, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia đã phối hợp các Sở Tư pháp thực hiện chuẩn hóa thông tin lý lịch tư pháp trong cơ sở dữ liệu tại Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác xây dựng, quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp đang bộc lộ một số hạn chế, bất cập sau đây:

Thứ nhất, công tác xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp chưa đáp ứng yêu cầu của Luật Lý lịch tư pháp năm 2009, vẫn còn tình trạng tồn đọng thông tin chưa được xử lý, cập nhật vào Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp. Tại một số Sở Tư pháp, thông tin được cập nhật chưa đầy đủ, có thiếu sót, ảnh hưởng đến hoạt động khai thác, tra cứu thông tin trong Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp để phục vụ cấp Phiếu lý lịch tư pháp hoặc vẫn còn tình trạng thông tin lý lịch tư pháp sau khi thực hiện tiếp nhận còn chậm được xử lý và cập nhật vào cơ sở dữ liệu. Một số Sở Tư pháp chưa chủ động phối hợp với các cơ quan có liên quan, đặc biệt là Tòa án đề nghị cung cấp bổ sung bản án dẫn đến tình trạng lý lịch tư pháp được lập thiếu các thông tin chi tiết của bản án (tội danh, điều khoản luật được áp dụng...)...

Thứ hai, cơ chế, phương thức phối hợp liên ngành trong cung cấp, trao đổi, thông tin lý lịch tư pháp để xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp chưa hiệu quả, kịp thời. Thông tin lý lịch tư pháp hiện nay được cung cấp cho Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và các Sở Tư pháp chủ yếu bằng văn bản giấy theo phương thức thủ công qua đường văn thư, bưu chính dẫn đến tình trạng thông tin bị thất lạc, tiếp nhận không kịp thời.

Thứ ba, việc chia sẻ, kết nối Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác có liên quan chưa được thực hiện đồng bộ, hiệu quả. Một số Sở Tư pháp chưa chủ động khai thác, tra cứu Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp để phục vụ cấp Phiếu lý lịch tư pháp.

Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập này có thể kể đến như: Một số Sở Tư pháp chưa nhận thức đầy đủ về ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp. Nguồn nhân lực, trang thiết bị, cơ sở vật chất tại nhiều địa phương chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác xây dựng, quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp. Tại hầu hết các Sở Tư pháp, cán bộ làm công tác lý lịch tư pháp còn thiếu về số lượng và chủ yếu là kiêm nhiệm. Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp còn chưa đồng bộ, chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác này. Hoạt động xử lý, cập nhật thông tin vào Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp tại Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và các Sở Tư pháp chủ yếu được thực hiện trực tuyến (online) trên Hệ thống Phần mềm Quản lý lý lịch tư pháp và được kết nối giữa Trung ương và các địa phương trên toàn quốc. Tuy nhiên, Phần mềm này được xây dựng và đưa vào sử dụng từ năm 2012, chưa được nâng cấp nên nhiều lúc bị gián đoạn, chậm, lỗi kết nối. Quy trình khai thác, tra cứu thông tin tại Cơ sở dữ liệu của Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia còn phức tạp, qua nhiều bước, một số tính năng khai thác, tra cứu Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp trên Phần mềm chưa hoàn thiện. Quy trình nghiệp vụ tiếp nhận, xử lý thông tin, xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp được xây dựng từ khi Luật Lý lịch tư pháp năm 2009 mới có hiệu lực nên đã bộc lộ những hạn chế, vướng mắc, không còn phù hợp với thực tiễn hiện nay.

2. Yêu cầu nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp trong bối cảnh hiện nay

2.1. Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động xây dựng, quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp từ yêu cầu hội nhập quốc tế

Trong bối cảnh hợp tác quốc tế sâu rộng như hiện nay, các yêu cầu liên quan đến bảo đảm quyền con người, quyền bảo vệ, tiếp cận thông tin về cá nhân, trong đó, có quyền tiếp cận thông tin lý lịch tư pháp, quyền yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp ngày càng thu hút sự quan tâm của cộng đồng quốc tế. Việt Nam đã gia nhập các công ước về quyền con người như Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền năm 1948, Công ước về các quyền dân sự và chính trị năm 1966. Các quy định pháp luật của Việt Nam về lý lịch tư pháp cũng thể hiện rõ nét vấn đề bảo đảm quyền con người thông qua các quy định về phạm vi quản lý lý lịch tư pháp, chế định xóa án tích, quyền tiếp cận thông tin lý lịch tư pháp, vấn đề xây dựng, quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp.

Theo quy định của Luật Lý lịch tư pháp năm 2009, cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp có trách nhiệm quản lý và theo dõi thông tin lý lịch tư pháp của công dân Việt Nam bị Tòa án nước ngoài kết án trong trường hợp bản án, trích lục bản án hình sự của người đó được cung cấp theo điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực hình sự hoặc theo nguyên tắc “có đi có lại”. Kết quả rà soát sơ bộ cho thấy, đến nay, Việt Nam đã tham gia ký kết 17 điều ước quốc tế song phương, 16 điều ước quốc tế đa phương, còn 06 điều ước quốc tế song phương đã đàm phán, chờ phê chuẩn chính thức. Theo đó, một số hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự giữa Việt Nam và nước ngoài như các hiệp định với Ba Lan, Tiệp Khắc (Séc và Slovakia kế thừa), Nga, Hungary có quy định về việc hai bên gửi cho nhau thông tin về bản án hình sự có hiệu lực pháp luật hoặc các thông tin về án tích của công dân hai nước, trong đó, có thể quy định nhằm mục đích truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc không quy định cụ thể mục đích sử dụng các thông tin này. Đến nay, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia đã tiếp nhận hàng nghìn thông tin lý lịch tư pháp là các trích lục án tích do cơ quan có thẩm quyền của các nước như Séc, Nga, Slovakia, Ba Lan, Hungary cung cấp cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao trên cơ sở các điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực hình sự mà Việt Nam đã ký kết với các nước này.

Đồng thời, cũng theo quy định của Luật Lý lịch tư pháp năm 2009, cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp có trách nhiệm quản lý và theo dõi thông tin lý lịch tư pháp của công dân nước ngoài bị Tòa án Việt Nam kết án. Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu hiện nay, nhiều quốc gia đang đặc biệt quan tâm đến mối đe dọa của tội phạm nước ngoài đối với các vấn đề trong nước nên họ có nhu cầu trao đổi, chia sẻ thông tin liên quan đến lý lịch tư pháp của công dân nước ngoài đang sinh sống tại quốc gia đó để có biện pháp phòng ngừa phù hợp đối với các mối đe dọa của tội phạm nước ngoài và có chế tài phù hợp đối với những đối tượng phạm tội.

2.2. Yêu cầu nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp trong giai đoạn mới

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang tác động, ảnh hưởng sâu rộng tới mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội của các quốc gia, trong đó có Việt Nam. Ngày 27/9/2019, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 52-NQ/TW về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Một trong những chủ trương, chính sách của Nghị quyết này là: “Hoàn thiện pháp luật, chính sách về dữ liệu, quản trị dữ liệu, tạo thuận lợi cho việc tạo dựng, kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu bảo đảm an toàn, an ninh mạng trong nước, tiến tới kết nối với khu vực ASEAN và quốc tế”.

Ngày 07/3/2019, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 17/NQ-CP về một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển Chính phủ điện tử giai đoạn 2019 - 2020, định hướng đến 2025. Một trong các quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết này là: “Đổi mới phương thức phục vụ, lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm, lấy sự hài lòng của cá nhân, tổ chức là thước đo quan trọng trong phát triển Chính phủ điện tử; bảo đảm gắn kết chặt chẽ, đồng bộ ứng dụng công nghệ thông tin với cải cách hành chính, đổi mới lề lối, phương thức làm việc, xác định ứng dụng công nghệ thông tin là công cụ hữu hiệu hỗ trợ, thúc đẩy cải cách hành chính”. Trên cơ sở đó, ngày 28/3/2019, Bộ trưởng Bộ Tư pháp có Quyết định số 702b/QĐ-BTP ban hành Kế hoạch hành động của Ngành Tư pháp triển khai thực hiện Nghị quyết số 17/NQ-CP với một trong các mục đích là: “Ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin trong tất cả các hoạt động và lĩnh vực công tác của Ngành Tư pháp trừ các hoạt động và lĩnh vực công tác có yêu cầu giữ bí mật thông tin theo quy định của pháp luật, trong đó chú trọng đến các lĩnh vực: Lý lịch tư pháp…”. Ngày 07/5/2021, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký Quyết định số 682/QĐ-BTP ban hành Kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin, phát triển Chính phủ số và bảo đảm an toàn thông tin mạng trong hoạt động của Ngành Tư pháp giai đoạn 2021 - 2025, trong đó xác định: “Xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp điện tử” là một nhiệm vụ trọng tâm về ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác lý lịch tư pháp.

Bên cạnh đó, nhằm đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện, giải quyết thủ tục hành chính, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 45/2020/NĐ-CP ngày 08/4/2020 về thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử; Nghị định số 107/2021/NĐ-CP ngày 06/12/2021 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 61/2018/NĐ-CP ngày 23/4/2018 của Chính phủ về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính.

Ngày 06/01/2022, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 06/QĐ-TTg phê duyệt Đề án Phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030 (Đề án 06). Theo đó, thủ tục cấp Phiếu lý lịch tư pháp được xác định là 01 trong 25 dịch vụ công thiết yếu, thực hiện trực tuyến theo Đề án 06.

Ngày 05/01/2024, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 01/NQ-CP về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách năm 2024 (Nghị quyết số 01/NQ-CP). Một trong những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện Nghị quyết này đã được xác định, đó là: “Tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong các lĩnh vực hành chính tư pháp… tăng cường xây dựng, hoàn thiện Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp, bảo đảm thông tin lý lịch tư pháp luôn được cập nhật đầy đủ, kịp thời…”.

Những chủ trương, chính sách của Đảng, Chính phủ về các giải pháp nhằm thực hiện chủ động cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, yêu cầu xây dựng Chính phủ điện tử, đặc biệt là các nhiệm vụ thực hiện Đề án 06, Nghị quyết số 01/NQ-CP cũng như xuất phát từ chính thực tiễn công tác lý lịch tư pháp trong thời gian qua đã và đang đặt ra những yêu cầu phải đổi mới, hoàn thiện và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động xây dựng, quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp.

3. Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động xây dựng, quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp

Xuất phát thực tiễn công tác xây dựng, quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp hiện nay, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động này, cụ thể như sau:

Thứ nhất, tiếp tục triển khai có hiệu quả Luật Lý lịch tư pháp năm 2009; xác định đúng vai trò của công tác lý lịch tư pháp trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội và bảo đảm thực hiện quyền công dân; thúc đẩy cải cách hành chính, cải cách tư pháp. Tăng cường nhận thức về vai trò, vị trí, tầm quan trọng của công tác xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp tới các bộ, ngành, địa phương và nhất là người đứng đầu. Nghiên cứu đề xuất đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp; phát huy vai trò chủ động của cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp, gắn công tác xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp và cấp Phiếu lý lịch tư pháp. Ưu tiên đầu tư nguồn lực cho công tác xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp; tập trung xử lý, cập nhật thông tin lý lịch tư pháp kịp thời, đầy đủ, chính xác; bảo đảm thực hiện mục tiêu 100% thông tin lý lịch tư pháp được tiếp nhận, xử lý, cập nhật vào Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp, đáp ứng yêu cầu của Luật Lý lịch tư pháp năm 2009. Nghiên cứu, đổi mới quy trình tiếp nhận, xử lý thông tin, xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp theo hướng chú trọng kiểm soát chất lượng cơ sở dữ liệu, bảo đảm nguyên tắc cơ sở dữ liệu “đúng, đủ, sạch, sống”, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn.

Thứ hai, nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về lý lịch tư pháp để nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác lý lịch tư pháp nói chung, hoạt động xây dựng, quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp nói riêng, nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới. Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm 2015) đã giao cho cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp có trách nhiệm cập nhật thông tin về tình hình án tích của người bị kết án và khi có yêu cầu thì thực hiện cấp Phiếu lý lịch tư pháp xác nhận cá nhân đó “không có án tích” nếu có đủ các điều kiện theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015. Đây là chế định thể hiện tính nhân văn, nhân đạo của pháp luật hình sự của Nhà nước ta nhưng cũng đặt ra nhiệm vụ mới, nặng nề và khó khăn cho các cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp. Để thực hiện tốt và hiệu quả nhiệm vụ nêu trên, cần nghiên cứu hoàn thiện thể chế về lý lịch tư pháp, nâng cao chất lượng hoạt động của cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp, đặc biệt là trong công tác phối hợp với các cơ quan trong cung cấp thông tin để xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp.

Thứ ba, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý lý lịch tư pháp, đặc biệt là hoạt động xây dựng, quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp. Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực này cần được đặc biệt chú trọng, nâng cao hiệu quả để đáp ứng yêu cầu của Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, trong đó trọng tâm là nghiên cứu, triển khai thực hiện trao đổi, cung cấp thông tin lý lịch tư pháp dưới dạng dữ liệu điện tử để xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp, hạn chế dần việc cung cấp, tiếp nhận thông tin dưới dạng văn bản giấy. Đồng thời, khẩn trương triển khai thực hiện số hóa Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp ngay từ khâu tiếp nhận, xử lý thông tin lý lịch tư pháp để xây dựng, tạo lập Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp điện tử; thực hiện kết nối, chia sẻ, liên thông dữ liệu với Cổng Dịch vụ công quốc gia, Cổng Dịch vụ công cấp tỉnh nhằm phục vụ cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến theo yêu cầu của Đề án 06.

Thứ tư, nghiên cứu bổ sung nguồn thông tin lý lịch tư pháp được cung cấp, xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp thông qua một số kênh hợp tác quốc tế khác. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, Việt Nam luôn chú trọng mở rộng và phát triển quan hệ với các nước trong khu vực cũng như trên toàn thế giới: Năm 1991, Cảnh sát Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Cảnh sát hình sự quốc tế (INTERPOL); năm 1995, Việt Nam đã gia nhập Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) và cũng trong năm này, Việt Nam tham gia Hiệp hội Tư lệnh Cảnh sát các nước ASEAN (ASEANAPOL); tháng 11/1998, Việt Nam trở thành thành viên của Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC); Việt Nam đã phê chuẩn nhiều công ước của Liên Hợp quốc về kiểm soát ma túy, phòng, chống tham nhũng và tham gia các tổ chức pháp luật và tư pháp quốc tế như Hội nghị La Hay về Tư pháp quốc tế… Do đó, cần nghiên cứu bổ sung nguồn thông tin lý lịch tư pháp được cung cấp thông qua các hoạt động hợp tác quốc tế nêu trên. Đồng thời, cũng cần xác định cụ thể các điều kiện để ghi nhận các thông tin lý lịch tư pháp được tiếp nhận từ nguồn này vào Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp của Việt Nam.

Thứ năm, tăng cường hợp tác quốc tế để trao đổi, chia sẻ, học tập kinh nghiệm của các quốc gia có hệ thống lý lịch tư pháp phát triển, phục vụ quá trình xây dựng, quản lý Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp và cấp Phiếu lý lịch tư pháp, đáp ứng tốt nhất yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Đồng thời, chú trọng đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực làm công tác lý lịch tư pháp, đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.

Có thể khẳng định, xây dựng Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp luôn được coi là hoạt động cơ bản, nền tảng, có vai trò đặc biệt quan trọng của công tác lý lịch tư pháp. Trong bối cảnh hiện nay, hoạt động này cần được quan tâm đầu tư đúng mức, nhằm phát triển công tác lý lịch tư pháp theo hướng chuyên nghiệp, từng bước hiện đại, góp phần xây dựng nền hành chính nhà nước phục vụ nhân dân, chuyên nghiệp, pháp quyền, hiện đại, hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, xây dựng Chính phủ điện tử, phục vụ công cuộc thực hiện chuyển đổi số, phát triển kinh tế số, xây dựng xã hội số./.

ThS. Đỗ Thị Thúy Lan

Phó Giám đốc Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia, Bộ Tư pháp

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 405), tháng 5/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: