Chủ nhật 16/08/2026 05:33
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nâng cao hiệu quả mô hình nhân dân tự quản trong bảo đảm trật tự, an toàn giao thông, trật tự xã hội trên đường thủy nội địa

Bài viết đề cập đến thực trạng xây dựng, duy trì hoạt động các mô hình nhân dân tự quản trong bảo đảm trật tự, an toàn giao thông, trật tự xã hội trên đường thủy nội địa. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác này trong thời gian tới.

1. Thực trạng xây dựng, duy trì hoạt động các mô hình nhân dân tự quản trong bảo đảm trật tự, an toàn giao thông, trật tự xã hội trên đường thủy nội địa ở nước ta thời gian qua[1]

Việt Nam là một trong ít những quốc gia có mạng lưới đường thủy nội địa phân bổ rộng khắp cả nước (có 57/63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có đường thủy nội địa đi qua với khoảng gần 20 triệu dân thường xuyên sinh sống, làm việc và tham gia hoạt động trên đường thủy nội địa). Bờ biển dài trên 3.260 km đi qua 28 tỉnh, thành phố (gồm 125 đơn vị hành chính cấp huyện, trong đó có 12 huyện đảo) tạo thành vùng biển nội thủy rộng hàng triệu km2, trên đó có khoảng 3.000 hòn đảo nối với dài hàng nghìn km đường từ bờ ra đảo và nối các đảo tạo thành mạng lưới giao thông đường thủy liên hoàn, kết nối với các loại hình giao thông vận tải trong nước và quốc tế[2]. Với vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên thuận lợi, đường thủy nội địa Việt Nam có vị trí rất quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng - an ninh của đất nước. Tuy nhiên, cùng với những thuận lợi trên, đường thủy nội địa là địa bàn đặc thù, phức tạp, tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây mất ổn định về an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội. Thực tế này đòi hỏi Đảng, Nhà nước ta phải có những chủ trương, chính sách phù hợp để xây dựng thế trận lòng dân tham gia bảo vệ độc lập chủ quyền lãnh thổ, an ninh trật tự. Từ nhiệm vụ chính trị này, Bộ Công an xác định công tác xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc mà trọng tâm là xây dựng các mô hình nhân dân tự quản là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong công tác bảo đảm an ninh trật tự. Thực hiện Chỉ thị số 20/CT-TTg ngày 03/10/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường thực hiện các giải pháp cấp bách nhằm ngăn chặn tai nạn giao thông hàng hải và đường thủy nội địa và chỉ đạo của Bộ Công an, lực lượng Cảnh sát đường thủy đã bám sát yêu cầu, nhiệm vụ chính trị, công tác chuyên môn để tập trung chỉ đạo, làm tốt công tác tham mưu cho cấp ủy, chính quyền và lãnh đạo Công an các cấp có chỉ đạo kịp thời, hiệu quả công tác xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc trên đường thủy nội địa ở địa bàn cơ sở.

Theo thống kê của Cục Cảnh sát giao thông (Bộ Công an), hiện nay, trên toàn quốc có 612 mô hình nhân dân tự quản trên đường thủy nội địa và trên 1.000 mô hình tổ đội đoàn kết trên biển của bà con ngư dân được thành lập dưới sự hướng dẫn của lực lượng Bộ đội Biên phòng và Công an các cấp. Trong 248 mô hình tập thể nhân dân tự quản về trật tự, an toàn giao thông và trật tự xã hội hoạt động trên 134 đoạn tuyến sông, kênh, hồ với số cá nhân nòng cốt lên đến 28.170 người trực tiếp tham gia, lực lượng Cảnh sát đường thủy trực tiếp xây dựng, chỉ đạo, ra quyết định thành lập, đôn đốc, hướng dẫn xây dựng 95 tập thể tự quản; 251 mô hình văn hóa giao thông đường thủy nội địa… Qua thời gian tổ chức thực hiện, hiệu quả hoạt động của các mô hình đã từng bước được nâng cao thông qua lượng thông tin trao đổi với lực lượng Công an các cấp giúp công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trên đường thủy nội địa. Trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, tỷ lệ điều tra, khám phá, ngăn chặn các hành vi phạm tội, vi phạm pháp luật được nâng cao. Tính riêng đợt cao điểm đấu tranh phòng, chống buôn lậu và gian lận thương mại trên đường thủy từ năm 2019 đến hết tháng 6/2023, thông qua nguồn tin quần chúng, lực lượng Cảnh sát đường thủy đã đấu tranh, triệt phá 130 vụ việc chuyển cơ quan Cảnh sát điều tra khởi tố 16 vụ, 22 đối tượng.

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, quá trình xây dựng chỉ đạo hoạt động của lực lượng Cảnh sát đường thủy và các lực lượng liên quan đối với các loại mô hình nhân dân tự quản trong công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông và trật tự xã hội trên đường thủy nội địa còn nhiều hạn chế, bất cập như: Hiệu quả hoạt động của các mô hình còn thấp, chủ yếu mang tính hình thức, chưa mang tính thường xuyên, liên tục; các tiêu chí hoạt động còn mang tính chung chung, chưa rõ ràng; các thành viên tham gia mô hình nhân dân tự quản về trật tự, an toàn giao thông và trật tự xã hội ở nhiều nơi, nhiều đơn vị còn chưa xác định rõ chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình; sự chỉ đạo của các cấp, các ngành có liên quan đến lĩnh vực này thiếu tính thống nhất...

Những tồn tại, hạn chế nêu trên chủ yếu xuất phát từ một số nguyên nhân sau:

- Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về xây dựng và duy trì chế độ hoạt động của các mô hình nhân dân tự quản về trật tự, an toàn giao thông và trật tự xã hội trên đường thủy nội địa còn thiếu, chưa tạo được sự đột phá trong khâu chỉ đạo tổ chức thực hiện.

- Công tác chỉ đạo, triển khai xây dựng các loại mô hình nhân dân tự quản của cấp ủy, chính quyền, Công an các cấp tuy đã có chuyển biến nhưng chưa thực sự sâu sắc, nhiều nơi, cấp ủy còn chưa thực sự quan tâm, chỉ đạo xây dựng cơ chế, chế độ hoạt động của mô hình nhân dân tự quản về trật tự, an toàn giao thông và trật tự xã hội trên đường thủy nội địa.

- Lực lượng Cảnh sát đường thủy có quân số ít, nhiều cán bộ còn thiếu kinh nghiệm, tinh thần trách nhiệm chưa cao, có bệnh thành tích, chưa thực sự phát huy vai trò lực lượng nòng cốt trong tham mưu cho cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp chỉ đạo đẩy mạnh phát triển phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc trong lĩnh vực bảo đảm trật tự, an toàn giao thông và trật tự xã hội, vì bình yên sông nước trên đường thủy ở cơ sở.

- Các thành viên tham gia hoạt động của mô hình nhân dân tự quản về trật tự, an toàn giao thông và trật tự xã hội trên đường thủy nội địa chưa được tuyên truyền, giáo dục để thấy được quyền lợi, nghĩa vụ của mình, chưa được tạo điều kiện, hướng dẫn kinh nghiệm nên khi thực hiện còn lúng túng, vướng mắc và chưa thực sự hiệu quả.

- Nhiều nơi, chính quyền, đoàn thể chưa thực sự quan tâm, xây dựng, chỉ đạo hoạt động mô hình nhân dân tự quản trong phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, chủ yếu còn qua loa, phiến diện, không thiết thực.

2. Giải pháp nâng cao hiệu quả mô hình nhân dân tự quản trong bảo đảm trật tự, an toàn giao thông và trật tự xã hội trên đường thủy nội địa trong thời gian tới

Để nâng cao hiệu quả công tác xây dựng, duy trì hoạt động các mô hình nhân dân tự quản trong bảo đảm trật tự, an toàn giao thông và trật tự xã hội trên đường thủy nội địa, lực lượng Cảnh sát đường thủy cần thực hiện tốt một số nội dung sau:

Thứ nhất, tham mưu bổ sung và hoàn chỉnh các quy định pháp lý đối với công tác triển khai, xây dựng và duy trì hoạt động của các mô hình nhân dân tự quản về trật tự, an toàn giao thông và trật tự xã hội trên đường thủy nội địa.

Liên quan đến công tác xây dựng, duy trì hoạt động các mô hình nhân dân tự quản trong bảo đảm trật tự, an toàn giao thông và trật tự xã hội trên đường thủy nội địa trong những năm qua, Đảng và Nhà nước cũng như Bộ Công an đã có nhiều văn bản chỉ đạo như: Chỉ thị số 09-CT/TW ngày 01/12/2011 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc trong tình hình mới; Chỉ thị số 18-CT/TW ngày 04/9/2012 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa và khắc phục ùn tắc giao thông; Chỉ thị số 23-CT/TW ngày 25/5/2023 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trong tình hình mới. Tuy nhiên, các văn bản trên vẫn chưa cụ thể hóa được các quy định về trình tự, thủ tục quy trình công tác; chưa có văn bản nào quy định cụ thể việc xây dựng quy chế hoạt động, quyền lợi, trách nhiệm của các mô hình nhân dân tự quản trên đường thủy nội địa cũng như quy định về việc phân công, phân cấp quan hệ phối hợp giữa các lực lượng trong việc xây dựng, duy trì hoạt động của các mô hình nhân dân tự quản về bảo đảm trật tự, an toàn giao thông và trật tự xã hội trên đường thủy nội địa ở các cấp.

Thứ hai, tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo trong việc xây dựng mô hình tự quản trong bảo đảm trật tự, an toàn giao thông và trật tự xã hội trên đường thủy nội địa.

Lực lượng Cảnh sát đường thủy căn cứ vào tình hình thực tiễn trong việc xây dựng, duy trì mô hình nhân dân tự quản về trật tự, an toàn giao thông và trật tự xã hội để tiến hành tham mưu, đề xuất Bộ Công an xây dựng kế hoạch tham mưu Chính phủ chỉ đạo Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố chỉ đạo Sở Giao thông vận tải, Ban An toàn giao thông tỉnh và chính quyền cơ sở (đặc biệt là cấp xã) tăng cường vai trò của các tổ chức tự quản trong quản lý, bảo đảm an toàn đối với hoạt động vận tải khách ngang sông, đối với các phương tiện nhỏ, phương tiện gia đình, phương tiện thô sơ góp phần bảo đảm trật tự, an toàn giao thông và trật tự xã hội trên các tuyến đường thủy nội địa.

Thông qua kết quả tổng hợp rà soát, đánh giá tình hình, kết quả hoạt động của các mô hình nhân dân tự quản, lực lượng Cảnh sát đường thủy tham mưu cho các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương các cấp cũng như lực lượng Công an địa phương tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo trong việc triển khai xây dựng các mô hình mới, tiếp tục duy trì, phát huy hiệu quả và nhân rộng các mô hình nhân dân tự quản trong toàn quốc. Lực lượng Cảnh sát đường thủy trực tiếp nghiên cứu, đánh giá, tổng hợp tình hình trật tự, an toàn giao thông và trật tự xã hội trên đường thủy nội địa, căn cứ vào trình tự, thủ tục, thẩm quyền thực tiễn để tổ chức tham mưu cho lãnh đạo Bộ Công an, Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia có văn bản hướng dẫn, công nhận các mô hình đạt chuẩn theo yêu cầu của Ban Chỉ đạo cấp trung ương và Ban An toàn giao thông các tỉnh, thành phố, từ đó, chỉ đạo nhân rộng ra toàn quốc. Tổng hợp nghiên cứu hoàn chỉnh, ban hành các văn bản pháp luật hướng dẫn trình tự, thủ tục xây dựng hồ sơ nghiệp vụ công tác xây dựng mô hình nhân dân tự quản trong phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc để chỉ đạo lực lượng Cảnh sát đường thủy tổ chức thực hiện. Nghiên cứu xây dựng những tiêu chí cụ thể, trình tự các bước, các nội dung trong việc xây dựng mô hình nhân dân tự quản để chỉ đạo, nhân rộng và thống nhất thực hiện toàn diện trên địa bàn cả nước.

Thứ ba, tăng cường đào tạo nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, chiến sỹ Cảnh sát đường thủy làm công tác xây dựng, phát triển mô hình nhân dân tự quản về trật tự, an toàn giao thông và trật tự xã hội.

Thường xuyên chỉ đạo, mở các lớp bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, các lớp tập huấn cho cán bộ, chiến sỹ tham gia xây dựng các mô hình nhân dân tự quản về trật tự, an toàn giao thông và trật tự xã hội để nâng cao trình độ, kỹ năng xây dựng các mô hình nhân dân tự quản. Hàng năm, phối hợp với các cơ quan chức năng trong và ngoài ngành Công an tổ chức tham quan, học tập trao đổi kinh nghiệm ở những mô hình điểm đạt tiêu chuẩn, chất lượng để nắm bắt các phương pháp, cách làm hay, góp phần phát triển, nhân rộng các mô hình “Văn hóa giao thông đường thủy”.

Tham mưu, đề xuất lãnh đạo Bộ Công an, Cục Cảnh sát giao thông tổ chức các cuộc hội thảo, báo cáo khoa học về công tác xây dựng và duy trì hoạt động của các mô hình nhân dân tự quản trong bảo đảm trật tự, an toàn giao thông và trật tự xã hội trên đường thủy nội địa. Lực lượng Cảnh sát đường thủy cần phối hợp với các học viện, trường đại học, trung cấp Công an nhân dân như: Học viện Cảnh sát nhân dân, Đại học Cảnh sát nhân dân, Trung cấp Cảnh sát giao thông tham gia biên soạn giáo trình, bài giảng, chuyên đề về xây dựng, duy trì hoạt động của các mô hình nhân dân tự quản trong công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông và trật tự xã hội trên đường thủy nội địa để làm các tài liệu giảng dạy trong nhà trường nhằm trang bị đầy đủ kiến thức cả về lý luận và thực tiễn để không ngừng nâng cao chất lượng học sinh, sinh viên chuyên ngành Cảnh sát đường thủy, sau khi tốt nghiệp ra trường có thể đáp ứng kịp thời yêu cầu công tác chuyên môn nói chung và trong xây dựng, duy trì hoạt động của các mô hình nhân dân tự quản về bảo đảm trật tự, an toàn giao thông và trật tự xã hội trên đường thủy nội địa nói riêng.

Thứ tư, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân tham gia mô hình nhân dân tự quản về trật tự, an toàn giao thông và trật tự xã hội trên đường thủy nội địa.

Nhận thức được vị trí, vai trò quan trọng của quần chúng nhân dân trong công tác xây dựng, duy trì hoạt động và nhân rộng mô hình nhân dân tự quản về trật tự, an toàn giao thông và trật tự xã hội, lực lượng Cảnh sát đường thủy cần phải tăng cường đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục thuyết phục quần chúng nhân dân tham gia xây dựng mô hình nhân dân tự quản về trật tự, an toàn giao thông và trật tự xã hội trên đường thủy nội địa. Lực lượng Cảnh sát đường thủy phải đầu tư từ việc xây dựng kế hoạch, nội dung, phương pháp tuyên truyền sao cho phù hợp với nhận thức của người dân ở các vùng, miền sông nước khác nhau. Tuyên truyền, giáo dục, phổ biến kiến thức pháp luật để nhân dân hiểu được tầm quan trọng của mô hình nhân dân tự quản trong công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông và trật tự xã hội trên đường thủy nội địa; tuyên truyền để quần chúng nhân dân thấy được vị trí, vai trò của mình trong các mô hình đó và thấy được quyền lợi cũng như trách nhiệm của quần chúng nhân dân khi tham gia các mô hình nhân dân tự quản. Song song với tuyên truyền là giáo dục nhằm nâng cao nhận thức về mô hình nhân dân tự quản cho quần chúng nhân dân, cũng như nâng cao nhận thức về pháp luật, đồng thời, phải xây dựng các quy trình, các văn bản để hướng dẫn quần chúng nhân dân thực hiện nội dung bảo đảm trật tự, an toàn giao thông và trật tự xã hội trên đường thủy nội địa trong mô hình nhân dân tự quản. Lực lượng Cảnh sát đường thủy phối hợp với các mô hình nhân dân tự quản ở địa phương thường xuyên tổ chức các cuộc vận động xây dựng phong trào “Văn hóa giao thông với bình yên sông nước”, chương trình “Vì an toàn trẻ em trên sông nước” để tuyên truyền, vận động người đi trên phương tiện đường thủy mặc áo phao, sử dụng dụng cụ nổi cứu sinh cá nhân. Từng bước đa dạng hóa các hình thức, biện pháp tuyên truyền như: Tuyên truyền trực tiếp, tuyên tuyền trực quan (bằng tờ rơi, áp phích, khẩu hiệu…) và tuyên truyền trên phương tiện thông tin đại chúng, trong đó, chú trọng hình thức tuyên truyền trên hệ thống phát thanh, truyền thanh cơ sở, tập trung vào vùng có nhiều phương tiện nhỏ, phương tiện của gia đình, vùng sông nước xa xôi, hẻo lánh.

Thứ năm, phát huy vai trò của chính quyền, đoàn thể ở các địa phương trong việc xây dựng, chỉ đạo hoạt động mô hình trong phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, trong đó, có mô hình nhân dân tự quản về trật tự, an toàn giao thông và trật tự xã hội trên đường thủy nội địa.

Chính quyền, đoàn thể ở các địa phương có vị trí và vai trò quan trọng trong việc tham gia xây dựng, duy trì hoạt động của các mô hình nhân dân tự quản về bảo đảm trật tự, an toàn giao thông và trật tự xã hội, do đó lực lượng Cảnh sát đường thủy cần tập trung xây dựng mô hình tự quản trong khối các cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức xã hội có hoạt động liên quan đến đường thủy. Thường xuyên tổ chức các buổi trao đổi, tọa đàm sơ kết, tổng kết về hoạt động phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc kết hợp tự quản, văn hóa giao thông với bình yên sông nước ở tổng công ty vận tải miền Bắc, miền Nam để rút kinh nghiệm chỉ đạo nhân rộng.

Để phát huy hiệu quả vai trò của các đoàn thể, cơ quan, doanh nghiệp trong việc tham gia xây dựng, duy trì hoạt động của các mô hình nhân dân tự quản về bảo đảm trật tự, an toàn giao thông và trật tự xã hội trên đường thủy nội địa, lực lượng Cảnh sát đường thủy cần phải xác định rõ trách nhiệm và gắn quyền lợi của các cơ quan, doanh nghiệp đó với phong trào xây dựng, duy trì hoạt động mô hình nhân dân tự quản về bảo đảm trật tự, an toàn giao thông và trật tự xã hội trên đường thủy nội địa.

Trung tá Đặng Xuân Quỳnh

Phòng Quản lý đào tạo và bồi dưỡng nâng cao, Học viện Cảnh sát nhân dân

[1]. Tham khảo: Cục Cảnh sát giao thông (C08), Bộ Công an, Báo cáo tổng kết công tác năm (từ năm 2019 đến tháng 6/2023); Cục Cảnh sát giao thông (C08), Bộ Công an, Báo cáo tổng kết công tác xây dựng mô hình nhân dân tự quản trên đường thủy nội địa.

[2]. https://ttdn.vn/bien-gioi-bien-dao/tang-cuong-quan-ly-van-tai-duong-thuy-noi-dia-tu-bo-ra-dao-93420, truy cập ngày 30/11/2023.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 394), tháng 12/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Tóm tắt: Pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập là một bộ phận của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật, có vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên cơ sở làm rõ khái niệm, đặc trưng và các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện, nghiên cứu phân tích thực trạng pháp luật hiện hành, chỉ ra những kết quả đạt được và các hạn chế. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số cho người cao tuổi

Hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số cho người cao tuổi

Tóm tắt: Chuyển đổi số đặt ra yêu cầu cấp thiết cần đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, nhất là đối với các nhóm đối tượng đặc thù có năng lực số hạn chế. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số trên cơ sở chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và yêu cầu của chuyển đổi số; đánh giá thực trạng quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Thông qua trường hợp cảnh báo về “hợp đồng kỳ nghỉ”, nghiên cứu làm rõ những hạn chế trong việc tiếp cận thông tin pháp luật của người cao tuổi trên môi trường số, từ đó, chỉ ra những bất cập của pháp luật hiện hành. Trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các quy định pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số.
Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Trong đợt tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật năm 2026 - một nhiệm vụ trọng yếu được triển khai theo Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới - nguyên tắc “6 rõ” đã được xác lập như một chuẩn mực kỹ thuật và quản trị cốt lõi. Nội dung của nguyên tắc này bao gồm: rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền và rõ kết quả.
Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Ngày 30/7 hằng năm được Đại hội đồng Liên hợp quốc chọn là Ngày Thế giới phòng, chống mua bán người (World Day Against Trafficking in Persons) nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về những hậu quả nghiêm trọng của tội phạm mua bán người, đồng thời kêu gọi các quốc gia tăng cường hợp tác, triển khai các giải pháp phòng ngừa, đấu tranh và bảo vệ nạn nhân.

Theo dõi chúng tôi trên: