Thứ ba 17/03/2026 19:30
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về hoạt động giám sát của Quốc hội đối với Viện kiểm sát nhân dân

Thể chế hóa Hiến pháp năm 2013, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 là cơ sở pháp lý quan trọng cho hoạt động giám sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội, trong đó có lĩnh vực hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND).

Tóm tắt: Trong bài viết này, tác giả phân tích, đánh giá những thành tựu và hạn chế trong hoạt động giám sát của Quốc hội đối với Viện kiểm sát nhân dân, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả và tính khả thi trong thực tiễn của hoạt động này.

Abstract: In this article, the author analyzes and evaluates the achievements and limitations of the National Assembly's supervision over the People's Procuracy, thereby proposing some solutions to improve the efficiency and feasibility in the practice of this activity.

Trong bộ máy Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước” (khoản 1 Điều 69 Hiến pháp năm 2013). Việc thực hiện quyền giám sát tối cao của Quốc hội có ý nghĩa hết sức quan trọng, thể hiện vai trò của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước, bảo đảm tôn trọng và phát huy quyền dân chủ của nhân dân nhằm góp phần xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.

Thể chế hóa Hiến pháp năm 2013, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 là cơ sở pháp lý quan trọng cho hoạt động giám sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội, trong đó có lĩnh vực hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND).

1. Thực tiễn thi hành pháp luật thực hiện hoạt động giám sát của Quốc hội đối với Viện kiểm sát nhân dân

1.1. Kết quả đạt được

Thực hiện Hiến pháp năm 2013 và Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015, Quốc hội giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước nói chung và VKSND nói riêng nhằm bảo đảm cho các cơ quan này hoàn thành nhiệm vụ, quyền hạn đã được quy định, làm cho bộ máy nhà nước hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, bảo đảm nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp[1], góp phần bảo đảm cho Ngành Kiểm sát nhân dân thực hiện tốt hơn các chức năng, nhiệm vụ của mình.

Từ năm 2013 đến nay, Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội luôn chú trọng tăng cường thực hiện quyền giám sát đối với các cơ quan tư pháp, trong đó có quyền giám sát đối với VKSND và đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Thông qua các hoạt động thực hiện quyền giám sát, đã kịp thời phát hiện và có các kiến nghị nhằm điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện chính sách, pháp luật có liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND, bảo đảm mọi quy định của pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh, thống nhất; kịp thời có nhiều kiến nghị xác đáng gửi đến cơ quan trung ương và chính quyền địa phương nghiên cứu, hoàn thiện[2]. Đây cũng là cơ sở để Quốc hội tổ chức lấy phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn, trong đó có Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao[3]…

1.2. Hạn chế, tồn tại và nguyên nhân

Bên cạnh kết quả đạt được, hoạt động giám sát của Quốc hội nói chung vẫn còn những hạn chế nhất định, chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao trong hoạt động của Quốc hội, làm cho chất lượng giám sát còn thiếu hiệu quả, thể hiện trên các nội dung như:

- Việc xác định mục đích giám sát chưa rõ ràng, dẫn đến việc xác định đối tượng giám sát dàn trải. Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp năm 2013 đều quy định Quốc hội có chức năng giám sát tối cao đối với hoạt động của bộ máy nhà nước. Có ý kiến cho rằng, sự quy định quá nhiều chủ thể do Quốc hội giám sát làm cho công việc giám sát của Quốc hội Việt Nam thiếu đi một trọng tâm cần phải giám sát là hoạt động của Chính phủ - hành pháp[4].

- Hình thức giám sát còn chưa đa dạng nên thiếu hiệu quả. Tại các kỳ họp Quốc hội cũng như các phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Viện trưởng VKSND tối cao thường xuyên phải báo cáo công tác về trách nhiệm, nhiệm vụ, quyền hạn của mình cũng như Ngành Kiểm sát nhân dân. Tuy nhiên, Ủy ban Thường vụ Quốc hội chưa có giải thích, hướng dẫn cụ thể về yêu cầu cần thể hiện trong các báo cáo. Điều đó làm cho VKSND tối cao thường bị lúng túng trong việc chuẩn bị nội dung báo cáo.

- Việc thực hiện quyền giám sát thông qua hoạt động giám sát chuyên đề đối với VKSND có nội dung khá rộng trong khi thời gian và nguồn lực thực hiện của các cơ quan của Quốc hội có hạn.

- Việc theo dõi, giám sát đến cùng các vấn đề đã chất vấn chưa được thực hiện triệt để.

- Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã chỉ đạo Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội tiến hành giám sát thường xuyên việc thực hiện pháp luật về khiếu nại, tố cáo của công dân đối với VKSND. Mặc dù, VKSND chỉ giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực tư pháp, nhưng do điều kiện khối lượng công việc thuộc lĩnh vực phụ trách rất lớn; không ít vụ việc diễn ra từ nhiều năm trước, qua các thời kỳ, chính sách pháp luật thay đổi hoặc các cơ quan có thẩm quyền giải quyết chưa trả lời... nên thực hiện quyền giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của VKSND chưa được quan tâm đúng mức, chưa dành đủ nguồn lực để thực hiện, dẫn đến hiệu quả công tác chưa cao. Cơ chế thực hiện, nhất là trong giám sát các vụ việc cụ thể còn chưa rõ trách nhiệm, quy trình, cách thức thực hiện và hậu quả pháp lý.

Qua nghiên cứu thực tiễn hoạt động giám sát của Quốc hội đối với VKSND có thể nhận định nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại nêu trên là:

Thứ nhất, hệ thống pháp luật điều chỉnh về hoạt động giám sát của Quốc hội nói chung và đối với VKSND nói riêng chưa hoàn thiện, thiếu cụ thể. Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 còn quy định chung chung, đồng thời, nhiều quy định pháp luật về việc thực hiện quyền giám sát nằm tản mạn ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau, thậm chí giữa các văn bản pháp luật về cùng một vấn đề cũng có mâu thuẫn với nhau, dẫn đến việc thực hiện chức năng giám sát của Quốc hội còn gặp nhiều khó khăn. Thiếu các quy định về trình tự, thủ tục giám sát một cách hữu hiệu.

Ngoài ra, việc chưa có quy định cụ thể, rõ ràng, đầy đủ về chế tài sau giám sát và thực tế ban hành các kết luận giám sát mới chỉ dừng lại ở việc “nhắc nhở”, đưa ra “lời khuyên”… làm cho đối tượng chịu sự giám sát không chịu sự ràng buộc cụ thể.

Thứ hai, cơ cấu tổ chức bộ máy của Quốc hội chưa đáp ứng được yêu cầu thực hiện quyền giám sát một cách toàn diện. Chức năng giám sát của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội là chức năng chung, được giao nhiệm vụ cho các cơ quan của Quốc hội nên khó bảo đảm hiệu quả nếu không được đầu tư đầy đủ về tổ chức và cán bộ. Đồng thời, mặc dù đã có sự chỉ đạo, điều hòa của Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhưng một số cơ quan của Quốc hội chưa thực hiện theo đúng kế hoạch, dẫn đến việc thực hiện quyền giám sát trùng lặp về địa điểm, thành phần trong cùng một thời điểm.

Trong lĩnh vực kiểm sát, số lượng các văn bản do VKSND tối cao ban hành là rất lớn. Bên cạnh đó, Ủy ban Tư pháp của Quốc hội phải phụ trách nhiều cơ quan như Tòa án nhân dân tối cao, VKSND tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Thanh tra Chính phủ. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng, hiệu quả giám sát của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội đối với văn bản pháp luật do VKSND tối cao ban hành.

Ngoài ra, cơ cấu tổ chức bộ máy của Quốc hội chưa được thiết kế đầy đủ để thực hiện chức năng giám sát nên cũng dẫn đến sự thiếu hụt về nguồn tài chính, điều kiện vật chất và những nhân sự có chuyên môn cần thiết, nhất là về mặt thông tin, tư liệu và việc xử lý các thông tin đó.

Thứ ba, chất lượng báo cáo của các cơ quan liên quan gửi tới Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội còn hạn chế, chưa bảo đảm đúng thời hạn nên đã ảnh hưởng nhất định đến chất lượng giám sát. Một số báo cáo kết quả giám sát còn mang tính chất thống kê, phản ánh tình hình mà chưa đi sâu phân tích nguyên nhân, hạn chế cũng như làm rõ trách nhiệm của người đứng đầu; các giải pháp, kiến nghị còn chung chung, chưa đủ để tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong công tác… dẫn đến tồn tại tiếp diễn, kéo dài. Việc sử dụng thông tin từ hoạt động kiểm toán, thanh tra, kiểm tra và hoạt động nghiên cứu để phục vụ cho yêu cầu thẩm tra, xem xét báo cáo còn hạn chế.

Thứ tư, trình độ và năng lực giám sát của một số đại biểu Quốc hội chưa bảo đảm yêu cầu. Khoản 2 Điều 3 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 quy định: “Hiệu quả hoạt động của Quốc hội được bảo đảm bằng hiệu quả của các kỳ họp của Quốc hội, hoạt động của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, đoàn đại biểu Quốc hội, các đại biểu Quốc hội và hiệu quả của sự phối hợp hoạt động với Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các cơ quan, tổ chức khác”. Như vậy, có thể thấy rằng, hiệu quả thực hiện quyền giám sát của Quốc hội nói chung và đối với VKSND nói riêng có phụ thuộc vào hoạt động thực hiện quyền giám sát của các đại biểu Quốc hội. Để bảo đảm thực hiện tốt công tác giám sát, các đại biểu Quốc hội cần phải có trình độ, năng lực và phẩm chất nhất định. Hiện nay, năng lực giám sát của đại biểu Quốc hội kiêm nhiệm chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu thực hiện quyền giám sát. Các đại biểu Quốc hội không đủ điều kiện thời gian, vật chất và thiếu thông tin, kỹ năng giám sát để thực hiện chức năng giám sát một cách có hiệu quả. Bên cạnh đó, khi thực hiện quyền giám sát của mình thông qua các hoạt động giám sát, đối với hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội tại các kỳ họp Quốc hội, một số đại biểu Quốc hội còn e ngại trong chất vấn vì tâm lý chung ngại đụng chạm, nể nang trong việc chất vấn, đặc biệt là các chất vấn mang tính “truy kích” để làm rõ trách nhiệm của những người bị chất vấn.

2. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội đối với Viện kiểm sát nhân dân

2.1. Tiếp tục hoàn thiện thể chế về hoạt động giám sát của Quốc hội

Thứ nhất, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 cần bổ sung các quy định cụ thể về trình tự, thủ tục thực hiện một số quyền giám sát của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội được quy định trong Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014, như quyền yêu cầu cung cấp tài liệu, quyền cử thành viên để xem xét, xác minh…, bảo đảm áp dụng trực tiếp các quy định mà không cần chờ văn bản hướng dẫn thi hành.

Thứ hai, cần quy định Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành nghị quyết riêng về giám sát đối với VKSND. Bởi lẽ, theo quy định của Hiến pháp năm 2013, VKSND là cơ quan thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong các vụ án, vụ việc nhất định và các vụ án, vụ việc này thường có nhiều khiếu nại gửi đến Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các Ủy ban của Quốc hội, đại biểu Quốc hội và đoàn đại biểu Quốc hội, do đó, cần thiết phải có nghị quyết riêng quy định cụ thể về giám sát việc giải quyết vụ án, vụ việc do VKSND thực hiện. Trong nghị quyết này, cần có một số nội dung cơ bản như: Tiêu chí vụ án đưa vào chương trình giám sát phải là vụ án đã được VKSND tối cao giải quyết có dấu hiệu vi phạm pháp luật gây ảnh hưởng chung đến việc thực hiện những vấn đề quan trọng của đất nước hoặc có dấu hiệu vi phạm pháp luật xuất phát từ những nguyên nhân quy phạm pháp luật không rõ ràng…; xác định phạm vi quyền giám sát vụ án; xác định mục đích, hậu quả giám sát vụ án tập trung vào việc truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với các chủ thể có liên quan như kiểm sát viên, Viện trưởng VKSND tối cao…

Thứ ba, đổi mới các phương thức thực hiện hoạt động giám sát của Quốc hội. Đối với việc xem xét báo cáo của Viện trưởng VKSND tối cao, cần quy định trọng tâm nên tập trung vào xem xét, đánh giá kết quả hoạt động thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp; tình hình chấp hành các quy định pháp luật; kết quả giải quyết khiếu nại của công dân; tình hình xây dựng và củng cố tổ chức bộ máy và các điều kiện cơ sở vật chất, các vấn đề quan trọng khác thuộc VKSND…

Thứ tư, quy định cụ thể, chi tiết hơn trong luật về hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn nhằm cụ thể hóa quyền, nghĩa vụ và trình tự, thủ tục trong hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn, như quyền và nghĩa vụ của đại biểu Quốc hội khi thực hiện chất vấn, của các chủ thể trả lời chất vấn; trình tự, thủ tục từ bước chuẩn bị chất vấn, trả lời chất vấn đến sau phiên chất vấn tại kỳ họp Quốc hội; hoạt động chất vấn giữa hai kỳ họp Quốc hội, trong đó có việc xác định vấn đề cần chất vấn, chủ thể trả lời chất vấn, trách nhiệm của chủ thể trả lời chất vấn để làm căn cứ cho việc giám sát thực hiện lời hứa… Tại phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, sau khi kết thúc phiên chất vấn và trả lời chất vấn định kỳ, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ra nghị quyết nhằm nâng cao tính pháp lý của các kết luận, quyết định của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Thứ năm, cần xác định quá trình theo dõi, đôn đốc thực hiện kiến nghị sau giám sát là quá trình tiếp tục của hoạt động giám sát, coi đây là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục, chưa có kết quả thực hiện kiến nghị sau giám sát đồng nghĩa với việc hoạt động giám sát chưa kết thúc. Đặc biệt, những vấn đề sau giám sát được kiến nghị nhiều lần nhưng chưa được giải quyết cần tổ chức tái giám sát để nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong hoạt động giám sát. Trong trường hợp cần thiết, Quốc hội ban hành nghị quyết về thực hiện kiến nghị giám sát. Đây là biện pháp sử dụng vai trò quyền lực nhà nước để bảo đảm tính nghiêm minh trong giám sát, buộc các bên liên quan phải thực hiện.

2.2. Tăng cường các điều kiện bảo đảm cho việc thực hiện quyền giám sát của Quốc hội

- Bảo đảm điều kiện về thông tin cho các đại biểu Quốc hội thực hiện quyền giám sát đối với VKSND là vấn đề cần phải được chú trọng. Pháp luật cần quy định chế tài cụ thể đối với những trường hợp cung cấp thông tin không chính xác, làm sai lệch do thiếu trách nhiệm, không tích cực, dẫn đến việc cung cấp thông tin chậm trễ, không kịp thời.

- Cần nghiên cứu xây dựng chế độ định mức phục vụ cho hoạt động thực hiện quyền giám sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội đối với VKSND sao cho phù hợp với nhu cầu thực tiễn, đời sống xã hội.

- Nghiên cứu xây dựng cơ quan hoặc bộ phận chuyên môn thực hiện chức năng giám sát của Quốc hội, nhất là qua thực tiễn thực hiện giám sát của Quốc hội đối với VKSND cho thấy, yêu cầu này thực sự là cấp bách để mang lại hiệu quả cao nhất.

- Nâng cao năng lực của đại biểu Quốc hội khi thực hiện quyền giám sát đối với VKSND.

Tóm lại, việc thực hiện quyền giám sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội đối với VKSND đã có những bước chuyển biến tích cực, góp phần quan trọng vào việc phát huy vai trò của Quốc hội - cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tuy nhiên, quyền giám sát đó vẫn chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Hiệu quả giám sát chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu, nguyện vọng của nhân dân. Một trong những nguyên nhân cơ bản là quyền giám sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội đối với VKSND chưa được nghiên cứu một cách thấu đáo để có được nhận thức thống nhất. Trước những đòi hỏi đó, hoạt động giám sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội đối với VKSND cần đổi mới để bảo đảm đúng theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, phù hợp với thực tế khách quan, đáp ứng yêu cầu bảo vệ, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay.

ThS. Lê Thu Hà
Khoa Nhà nước và pháp luật, Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội



[1]. Khoản 3 Điều 2 Hiến pháp năm 2013.

[2]. Ví dụ như: Nghị quyết số 55/2017/QH14 ngày 24/11/2017 của Quốc hội về hoạt động chất vấn tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XIV đã yêu cầu Viện trưởng VKSND tối cao thực hiện quyết liệt những vấn đề đã cam kết trước Quốc hội và cử tri cả nước, làm cơ sở để Quốc hội giám sát việc thực hiện, đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng của nhân dân.

[3]. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2018), Báo cáo tổng hợp kết quả hoạt động giám sát của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, các đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội năm 2018, Hà Nội.

[4]. TS. Bùi Sỹ Lợi, Tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội, https://quochoi.vn/_catalogs/masterpage/TVPortal.Publishing.Subsite.aspx?ItemID=30677.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Theo dõi chúng tôi trên: