Thứ ba 08/09/2026 16:22
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về thương mại điện tử ở Việt Nam trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0

Bài viết phân tích các yếu tố tác động đến hiệu lực thi hành pháp luật về thương mại điện tử ở Việt Nam và đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về thương mại điện tử ở Việt Nam trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0.

Ở Việt Nam, sự xuất hiện và phát triển không ngừng của thương mại điện tử (TMĐT) đã tạo ra những thay đổi có tính đột phá trong nền kinh tế thị trường, làm mới quan hệ thương mại truyền thống và phát sinh nhiều vấn đề cần phải được điều chỉnh bởi pháp luật và quản lý bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Hiện nay, hệ thống quy định pháp luật của Việt Nam về TMĐT đang dần được hoàn thiện, bao trùm điều chỉnh nhiều quan hệ xã hội bao hàm hoặc chịu tác động của thương mại điện tử như: Quan hệ cạnh tranh, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, thuế, quan hệ hợp đồng, đầu tư, an ninh mạng… Tuy nhiên, để đưa các quy định pháp luật thực sự đi vào cuộc sống cần phải có cơ chế thực thi hiệu quả. Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, khi những sáng kiến, phát minh tân tiến liên tục ra đời làm thay đổi nhanh chóng các biểu hiện, sự tồn tại của các quan hệ TMĐT, cần có những giải pháp phù hợp để nâng cao hiệu lực thi hành pháp luật về TMĐT để vừa quản lý, vừa thúc đẩy hoạt động này phát triển mạnh mẽ theo định hướng của Đảng và Nhà nước.

1. Các yếu tố tác động đến hiệu lực thi hành pháp luật về thương mại điện tử ở Việt Nam

Thứ nhất, tính đầy đủ, đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật về TMĐT: Đây là yếu tố tiên quyết, quan trọng quyết định đến hiệu quả của hoạt động thi hành pháp luật về TMĐT. Lĩnh vực TMĐT mang tính đặc thù, tiềm ẩn nhiều rủi ro trong quá trình giao dịch, kinh doanh, do đó đòi hỏi phải có các giải pháp về mặt kỹ thuật cũng như cơ sở pháp lý đầy đủ để bảo vệ quyền lợi của các bên tham gia. Theo đó, cần xây dựng chính sách, tạo môi trường thuận lợi trong lĩnh vực thương mại điện tử; xây dựng một hệ thống pháp luật đầy đủ, thống nhất và cụ thể để điều chỉnh các quan hệ TMĐT. Chính sách, đường lối định hướng nội dung pháp luật và nội dung pháp luật là cơ sở để các chủ thể có liên quan thi hành trên thực tế. Qua đó, các cơ quan có thẩm quyền có căn cứ để thực hiện chức năng quản lý, giám sát; các cá nhân, tổ chức không lúng túng khi tiếp cận với TMĐT, thực hiện các hành vi có liên quan đến TMĐT một cách đúng đắn, không làm ảnh hưởng đến lợi ích của cá nhân, tổ chức khác cũng như lợi ích chung của cộng đồng. Do vậy, để công tác thi hành pháp luật về TMĐT đạt được hiệu quả cao, cần phải có một hệ thống pháp luật về TMĐT đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, có tính dự liệu, bao quát cao, phù hợp với điều kiện thực tế phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam.

Thứ hai, chất lượng quản lý nhà nước về TMĐT: Để TMĐT phát triển bền vững, cần có sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước. TMĐT có những đặc thù khác biệt so với thương mại truyền thống, do đó để bảo đảm hài hòa lợi ích của các chủ thể trong TMĐT cũng như bảo đảm trật tự trong nền kinh tế thì TMĐT cần được Nhà nước quản lý chặt chẽ. Nếu các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ về quản lý TMĐT, đồng thời triển khai có hiệu quả các biện pháp tuyên truyền, phổ biến pháp luật về TMĐT đến các chủ thể trong TMĐT thì pháp luật về TMĐT sẽ thực sự phát huy được hiệu lực và nhanh chóng đi vào đời sống. Do đó, để hoạt động quản lý TMĐT đạt hiệu quả cao thì Nhà nước phải xây dựng hệ thống các cơ quan quản lý từ trung ương đến địa phương, đầu tư hạ tầng công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, nâng cao nhận thức của xã hội về TMĐT và tạo lập môi trường pháp lý vững chắc.

Thứ ba, ý thức pháp luật của các chủ thể tham gia quan hệ TMĐT: Pháp luật về TMĐT có đi vào cuộc sống được hay không phụ thuộc phần nhiều vào ý thức chấp hành pháp luật của các chủ thể tham gia quan hệ TMĐT. Việc tuân thủ pháp luật, thực hiện đúng quy định của pháp luật của các chủ thể gồm: Cá nhân, tổ chức là chủ sở hữu các website bán hàng, gian hàng trên sàn giao dịch điện tử hoặc kinh doanh trên các trang mạng xã hội, quảng cáo trên các phương tiện truyền thông nhằm mục đích thương mại, người mua hàng hóa, dịch vụ... sẽ bảo đảm không chỉ quyền lợi cho chính họ mà còn bảo đảm trật tự an toàn xã hội, tạo niềm tin cho các cá nhân tổ chức tham gia TMĐT, thúc đẩy TMĐT phát triển theo chiều hướng tích cực.

2. Giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về thương mại điện tử ở Việt Nam trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0

Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 với sự hỗ trợ của sức mạnh số và công nghệ thông tin đã tạo nên những thay đổi đột phá, trở thành chuỗi cung ứng thông minh, đem lại hiệu quả cho nền TMĐT, tạo ra nhiều cơ hội thuận lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam trong lĩnh vực TMĐT. Tuy nhiên, cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 cũng tạo ra áp lực đổi mới, sáng tạo đối với các nhà kinh doanh TMĐT, bởi vì phải có kiến thức nền tảng thật tốt thì doanh nghiệp mới có thể phân tích sâu sắc vấn đề, đưa ra giải pháp thật sự hiệu quả. Để nắm bắt cơ hội phát triển, để vượt qua những thách thức, cần xây dựng và áp dụng các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về TMĐT, cụ thể:

Thứ nhất, nhanh chóng hoàn thiện các quy định pháp luật về TMĐT, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho các cơ quan quản lý, các chủ thể tham gia quan hệ TMĐT áp dụng, thực thi trên thực tế.

Với những điểm mới[1] của Nghị định số 85/2021/NĐ-CP ngày 25/9/2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 52/2013/NĐ-CP ngày 16/5/2013 của Chính phủ về TMĐT đã góp phần hạn chế phần nào những “lỗ hổng” của pháp luật về TMĐT từ trước đến nay. Tuy nhiên, trong thời gian tới, cần tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật về TMĐT, cụ thể như: Rà soát, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý liên quan đến quản lý thuế trong TMĐT; quản lý hải quan đối với các hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thông qua hoạt động TMĐT; quản lý mạng xã hội có hoạt động TMĐT; các quy định về giao dịch điện tử, thanh toán điện tử, điều chỉnh, bổ sung quy định về chế tài xử lý vi phạm đối với một số hành vi vi phạm pháp luật về TMĐT trên mạng xã hội...

Thứ hai, tăng cường năng lực và hiệu quả công tác của cơ quan quản lý nhà nước về thương mại điện tử cho phù hợp với yêu cầu thực tế.

Sự phát triển của TMĐT cùng với sự bùng nổ của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 làm phát sinh các đối tượng điều chỉnh mới, với những biểu hiện tồn tại đa dạng và liên tục thay đổi, đòi hỏi các cơ quan quản lý nhà nước cần phải có cách tiếp cận mới và phương pháp quản lý mới. Do quản lý TMĐT nhất thiết và cần thiết phải thực hiện trên nền tảng số nên các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền phải ứng dụng công nghệ để thực hiện chức năng quản lý và luôn nắm rõ được sự thay đổi công nghệ trong suốt quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao.

Bên cạnh đó, cần xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ban, ngành trong việc xử lý, giải quyết các vấn đề liên quan đến TMĐT, đặc biệt là đối với việc thu thuế những người kinh doanh trên mạng xã hội[2]. Để thực hiện hiệu quả nội dung này, cần đẩy mạnh việc triển khai chính quyền điện tử, chính quyền số tạo cơ sở quản lý tốt hơn đối với hoạt động TMĐT trên phạm vi toàn quốc.

Ngoài ra, cần thực hiện nghiêm túc, hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trong lĩnh vực TMĐT để triệt tiêu tận gốc những vi phạm trong hoạt động TMĐT. Các cơ quan quản lý nhà nước liên quan phải nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật bảo vệ người tiêu dùng trong giao dịch điện tử; phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm những hành vi lợi dụng giao dịch điện tử để lừa đảo, xâm phạm quyền lợi của người tiêu dùng. Việc giám sát hoạt động TMĐT được tiến hành trực tuyến trên môi trường mạng bằng phương tiện điện tử, thiết bị số với các nội dung chính là: (i) Giám sát việc chấp hành pháp luật về TMĐT của tổ chức, cá nhân trực tiếp tham gia hoặc có liên quan đến hoạt động TMĐT; (ii) Giám sát tình hình hoạt động TMĐT trên môi trường mạng; (iii) Giám sát hoạt động của website TMĐT; hoạt động của phần mềm, ứng dụng TMĐT cài đặt trên phương tiện điện tử, thiết bị số; (iv) Giám sát hoạt động kinh doanh phần mềm, ứng dụng, thông tin số, nội dung số, xuất bản phẩm điện tử trên môi trường mạng; (v) Giám sát hoạt động ứng dụng, chuyển giao công nghệ trong TMĐT; (vi) Giám sát hoạt động đánh giá tín nhiệm website TMĐT, hoạt động đánh giá và chứng nhận chính sách bảo vệ thông tin cá nhân, hoạt động chứng thực hợp đồng điện tử; (vii) Giám sát an toàn thông tin trong hoạt động TMĐT.

Thứ ba, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ của đội ngũ công chức trong các cơ quan quản lý nhà nước về TMĐT.

TMĐT càng phát triển, hoạt động giao dịch thương mại càng dễ dàng thì càng đem lại thách thức lớn cho công tác quản lý. Do đó, cần chú trọng đến việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ trực tiếp quản lý hoạt động này. Việc đào tạo bồi dưỡng trước hết tập trung vào vấn đề nâng cao nhận thức, hiểu biết, có khả năng phân tích, dự liệu những ảnh hưởng của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đến sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung, lĩnh vực TMĐT nói riêng; đồng thời, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn sâu về công nghệ thông tin cũng như các kiến thức pháp luật cần thiết về TMĐT. Quá trình đào tạo, bồi dưỡng phải được tiến hành thường xuyên để nhanh chóng bắt kịp với sự phát triển của công nghệ điện tử. Để đạt được hiệu quả cao, cần kết hợp kiểm tra, giám sát, cấp chứng chỉ theo những điều kiện nhất định để nâng cao trách nhiệm của cán bộ trong việc học tập, coi đây là nhiệm vụ cần phải hoàn thành.

Thứ tư, nâng cao nhận thức và ý thức pháp luật của các chủ thể trong quan hệ TMĐT.

Có thể thấy, một trong những khó khăn, bất cập ảnh hưởng đến việc phát triển TMĐT bền vững, an toàn và hiệu quả ở nước ta thời gian qua là nhận thức và ý thức tuân thủ pháp luật của các chủ thể tham gia quan hệ TMĐT còn hạn chế. Bởi vậy, để khắc phục tình trạng trên, các doanh nghiệp kinh doanh TMĐT ngoài việc thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật, cần phải tập trung đầu tư nhiều hơn nữa cho việc phát triển hoạt động TMĐT, trong đó cần phải xây dựng được lòng tin đối với người tiêu dùng, thường xuyên đổi mới và nâng cao chất lượng dịch vụ cũng như sản phẩm để bảo đảm quyền lợi cho khách hàng; đặc biệt, cần cam kết bảo mật thông tin, tôn trọng sự riêng tư, giao hàng đúng nơi, đúng hạn, trả lời và giải quyết các khiếu nại của người tiêu dùng một cách kịp thời, thỏa đáng... Về phía người tiêu dùng, cần phải có những kiến thức nhất định để thực hiện các giao dịch điện tử an toàn, tránh bị kẻ gian lợi dụng lừa đảo. Cùng với đó, phải tích cực có những phản hồi, đánh giá đúng đắn về các nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ qua mạng; xây dựng văn hóa bài trừ hàng giả, hàng nhái, không gián tiếp tiếp tay cho những chủ thể kinh doanh hàng giả, hàng nhái trên mạng điện tử.

Để nâng cao nhận thức và ý thức của các cá nhân tổ chức tham gia vào hoạt động TMĐT, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về TMĐT một cách thường xuyên, liên tục, với nhiều hình thức đa dạng và dễ hiểu, phù hợp với từng đối tượng. Trong thời đại công nghệ phát triển, việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật về TMĐT cũng nên gắn với những phương thức hiện đại hóa thông qua các ứng dụng công nghệ số như: Hình ảnh, video đăng tải trên các webside/ứng dụng; các chuyên mục tuyên truyền trên các phương tiện truyền thông đại chúng; gửi tin nhắn, thông báo qua phần mềm Zalo, Facebook... Hiện nay, các ngân hàng thường có cách tuyên truyền thông qua tin nhắn gửi trên phần mềm Internet banking với những nội dung liên quan đến việc cảnh báo và hướng dẫn khách hàng nhận diện các hành vi lừa đảo liên quan đến thanh toán điện tử. Cách làm này giúp cho người tiêu dùng nhanh chóng tiếp nhận được thông tin và bảo vệ được quyền lợi của bản thân. Đây cũng là giải pháp hiệu quả có thể sử dụng trong việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật về TMĐT. Nội dung tuyên truyền, phổ biến có thể chia nhỏ theo từng vấn đề, từng đối tượng, không nhất thiết phải là những chuyên đề dài như hội nghị, hội thảo.

Mặt khác, pháp luật cần quy định cụ thể về nhiệm vụ tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật của các cơ quan liên quan cũng như Ủy ban nhân dân các cấp để cung cấp những kiến thức, những kỹ năng cần thiết cho các chủ thể tham gia hoạt động TMĐT để họ có thể chủ động chấp hành, tuân thủ pháp luật một cách tự giác, thường trực cũng như có thể tự bảo vệ mình khi tham gia hoạt động TMĐT. Khi việc tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật đúng phương pháp, các cá nhân tổ chức còn có những phản hồi kịp thời để sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật phù hợp và quan trọng hơn là các chủ thể này còn có ý thức tự bảo vệ nhau bằng những cảnh báo cho mọi người kịp thời để tránh các rủi ro. Phải có nguồn kinh phí phù hợp và chính sách đào tạo kỹ năng cho chính những người làm công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật trong các cơ quan có chức năng đảm trách nhiệm vụ này bằng các quy định pháp luật.

Thứ năm, phát huy vai trò của các tổ chức phi Chính phủ trong việc nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật TMĐT.

Các hội, hiệp hội phi Chính phủ có liên quan đến TMĐT (điển hình là: Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam (VECOM)), không có thẩm quyền áp dụng pháp luật nhưng lại có vai trò rất quan trọng trong việc tác động đến nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật và văn hóa kinh doanh của các hội viên. Hội viên của tổ chức này thường là các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân trực tiếp kinh doanh bằng TMĐT hoặc là bên cung ứng ứng dụng TMĐT phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh, cung cấp các dịch vụ về TMĐT. Phạm vi hoạt động của tổ chức trải rộng trên cả nước, do vậy sẽ dễ dàng thực hiện việc tuyên truyền, phổ biến các kiến thức về TMĐT cũng như các quy định của pháp luật về TMĐT; đồng thời, tiếp nhận các phản hồi từ những thành viên về thực trạng pháp luật, thực tiễn thi hành pháp luật TMĐT ở Việt Nam và trên cơ sở đó, có những đóng góp trong việc xây dựng, sửa đổi pháp luật nhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội trong lĩnh vực này. Đây cũng là kênh thông tin quan trọng, hỗ trợ đắc lực cho các chủ thể tham gia TMĐT các kiến thức pháp luật để chấp hành pháp luật cũng như bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Chính vì thế, các cơ quan nhà nước cần khuyến khích, tạo điều kiện phát triển và giữ mối liên hệ với các tổ chức này để phát huy được vai trò của họ trong việc tăng cường hiệu quả công tác thi hành pháp luật về TMĐT.

Thứ sáu, tăng cường hợp tác quốc tế về TMĐT và các lĩnh vực liên quan.

Để bắt kịp sự phát triển của thế giới trong lĩnh vực này, cũng như nâng cao hiệu quả quản lý TMĐT phù hợp với yêu cầu hội nhập, Việt Nam cần tích cực hợp tác quốc tế về TMĐT. Giải pháp đưa ra là, tiếp tục thực hiện những chương trình hợp tác với các tổ chức kinh tế thương mại quốc tế và khu vực, các tổ chức thương mại của Liên Hợp quốc, đối tác trong các hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương mà Việt Nam đã ký kết. Nhà nước cần có cơ chế khuyến khích các tổ chức xã hội nghề nghiệp, các doanh nghiệp hợp tác với các đối tác nước ngoài tạo môi trường phát triển TMĐT quốc tế, tăng cường hoạt động kinh doanh trực tuyến qua biên giới và chuyển giao công nghệ. Tăng cường trao đổi, học tập kinh nghiệm các quốc gia tiên tiến về xây dựng và thực thi pháp luật về TMĐT; liên kết hợp tác trong các chương trình đào tạo nguồn nhân lực cho cơ quan quản lý nhà nước về thương mại điện tử[3]. Do đó, cần tiếp tục thực hiện và mở rộng phạm vi đối thoại với các quốc gia trên thế giới để có thêm những kinh nghiệm quý báu, những thông tin hữu ích phục vụ cho từng giai đoạn phát triển của đất nước trong lĩnh vực TMĐT.

Hơn hai thập kỷ kể từ khi TMĐT có mặt và phát triển tại Việt Nam, Nhà nước ta đã rất nỗ lực trong việc thể chế hóa và đưa những quy định pháp luật về TMĐT vào trong đời sống kinh - xã hội. Tuy nhiên, với tính chất đặc thù, cũng như đặc điểm cấu trúc phát triển phức tạp, hoạt động TMĐT vẫn luôn đặt ra những “bài toán khó” trong công tác quản lý. Trong những giai đoạn phát triển tiếp theo, để đạt được hiệu quả cao trong việc thi hành pháp luật về TMĐT, cần tiếp tục đánh giá thực trạng pháp luật, thi hành pháp luật để nhìn nhận rõ những hạn chế còn tồn tại, tìm ra nguyên nhân của các hạn chế đó để xây dựng các giải pháp phù hợp. Bức tranh toàn cảnh của TMĐT trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đã chỉ ra tiềm năng và thách thức đối với Việt Nam, do đó, cần tập trung nguồn lực để bảo đảm thực hiện mục tiêu kép là xây dựng cơ chế điều chỉnh, quản lý hiệu quả đối với TMĐT kết hợp với thúc đẩy phát triển lĩnh vực này một cách mạnh mẽ.

ThS. Võ Thị Hồng Lan

Viện Nghiên cứu lập pháp thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội

ThS. Nguyễn Thị Huyền Trang

Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Vĩnh Phúc

[1]. Như: Có thêm chủ thể của hoạt động thương mại điện tử là dịch vụ logistic; quy định cụ thể về trách nhiệm cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ của người bán; bắt buộc công bố về chính sách kiểm hàng trên website thương mại điện tử; các hoạt động mua bán hàng hóa trên mạng xã hội Facebook, Instagram, Zalo… trở thành đối tượng được điều chỉnh của pháp luật thương mại điện tử, người tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động mua bán phải trả phí và thực hiện đăng ký theo quy định; bổ sung trách nhiệm của thương nhân, tổ chức cung cấp sàn giao dịch thương mại điện tử; đăng ký thiết lập website thương mại điện tử chỉ cần nộp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh bản sao; quy định chi tiết về thủ tục đăng ký hoạt động chứng thực hợp đồng điện tử; quy định thêm về hoạt động thương mại điện tử của thương nhân, tổ chức nước ngoài.

[2]. Ví dụ: Cục Thuế cần phối hợp với Sở Thông tin và Truyền thông, Sở Công Thương, các nhà mạng và ngân hàng cùng quản lý, giám sát số lượng hàng hóa, doanh thu của người kinh doanh để đối chiếu với việc kê khai của người nộp thuế.

[3]. Ví dụ, từ năm 2011, Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số và Cục Chính sách thương mại và Thông tin Nhật Bản đã thường xuyên trao đổi, hợp tác thông qua Chương trình Đối thoại chính sách pháp luật TMĐT và kinh tế số. Thông qua các cuộc đối thoại, phía Việt Nam có cơ hội được tìm hiểu, trao đổi về các giải pháp chuyển đổi số, phát triển TMĐT trong đó bao hàm cả nội dung thực thi pháp luật TMĐT qua từng thời kì. Chương trình đem lại hiệu quả thiết thực cho việc định hướng phát triển và quản lý hoạt động TMĐT ở Việt Nam.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Trong bước chuyển mình của đất nước bước vào kỷ nguyên mới, văn hóa đang được đặt ở vị trí ngày càng quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia. Cùng với đó, con người được xác định là trung tâm của sự nghiệp phát triển văn hóa khi vừa là chủ thể sáng tạo, gìn giữ, vừa là lực lượng trực tiếp biến những giá trị ấy thành nguồn lực phát triển cho đất nước.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.

Theo dõi chúng tôi trên: