Thứ năm 25/06/2026 06:05
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về thương mại điện tử ở Việt Nam trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0

Bài viết phân tích các yếu tố tác động đến hiệu lực thi hành pháp luật về thương mại điện tử ở Việt Nam và đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về thương mại điện tử ở Việt Nam trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0.

Ở Việt Nam, sự xuất hiện và phát triển không ngừng của thương mại điện tử (TMĐT) đã tạo ra những thay đổi có tính đột phá trong nền kinh tế thị trường, làm mới quan hệ thương mại truyền thống và phát sinh nhiều vấn đề cần phải được điều chỉnh bởi pháp luật và quản lý bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Hiện nay, hệ thống quy định pháp luật của Việt Nam về TMĐT đang dần được hoàn thiện, bao trùm điều chỉnh nhiều quan hệ xã hội bao hàm hoặc chịu tác động của thương mại điện tử như: Quan hệ cạnh tranh, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, thuế, quan hệ hợp đồng, đầu tư, an ninh mạng… Tuy nhiên, để đưa các quy định pháp luật thực sự đi vào cuộc sống cần phải có cơ chế thực thi hiệu quả. Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, khi những sáng kiến, phát minh tân tiến liên tục ra đời làm thay đổi nhanh chóng các biểu hiện, sự tồn tại của các quan hệ TMĐT, cần có những giải pháp phù hợp để nâng cao hiệu lực thi hành pháp luật về TMĐT để vừa quản lý, vừa thúc đẩy hoạt động này phát triển mạnh mẽ theo định hướng của Đảng và Nhà nước.

1. Các yếu tố tác động đến hiệu lực thi hành pháp luật về thương mại điện tử ở Việt Nam

Thứ nhất, tính đầy đủ, đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật về TMĐT: Đây là yếu tố tiên quyết, quan trọng quyết định đến hiệu quả của hoạt động thi hành pháp luật về TMĐT. Lĩnh vực TMĐT mang tính đặc thù, tiềm ẩn nhiều rủi ro trong quá trình giao dịch, kinh doanh, do đó đòi hỏi phải có các giải pháp về mặt kỹ thuật cũng như cơ sở pháp lý đầy đủ để bảo vệ quyền lợi của các bên tham gia. Theo đó, cần xây dựng chính sách, tạo môi trường thuận lợi trong lĩnh vực thương mại điện tử; xây dựng một hệ thống pháp luật đầy đủ, thống nhất và cụ thể để điều chỉnh các quan hệ TMĐT. Chính sách, đường lối định hướng nội dung pháp luật và nội dung pháp luật là cơ sở để các chủ thể có liên quan thi hành trên thực tế. Qua đó, các cơ quan có thẩm quyền có căn cứ để thực hiện chức năng quản lý, giám sát; các cá nhân, tổ chức không lúng túng khi tiếp cận với TMĐT, thực hiện các hành vi có liên quan đến TMĐT một cách đúng đắn, không làm ảnh hưởng đến lợi ích của cá nhân, tổ chức khác cũng như lợi ích chung của cộng đồng. Do vậy, để công tác thi hành pháp luật về TMĐT đạt được hiệu quả cao, cần phải có một hệ thống pháp luật về TMĐT đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, có tính dự liệu, bao quát cao, phù hợp với điều kiện thực tế phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam.

Thứ hai, chất lượng quản lý nhà nước về TMĐT: Để TMĐT phát triển bền vững, cần có sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước. TMĐT có những đặc thù khác biệt so với thương mại truyền thống, do đó để bảo đảm hài hòa lợi ích của các chủ thể trong TMĐT cũng như bảo đảm trật tự trong nền kinh tế thì TMĐT cần được Nhà nước quản lý chặt chẽ. Nếu các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ về quản lý TMĐT, đồng thời triển khai có hiệu quả các biện pháp tuyên truyền, phổ biến pháp luật về TMĐT đến các chủ thể trong TMĐT thì pháp luật về TMĐT sẽ thực sự phát huy được hiệu lực và nhanh chóng đi vào đời sống. Do đó, để hoạt động quản lý TMĐT đạt hiệu quả cao thì Nhà nước phải xây dựng hệ thống các cơ quan quản lý từ trung ương đến địa phương, đầu tư hạ tầng công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, nâng cao nhận thức của xã hội về TMĐT và tạo lập môi trường pháp lý vững chắc.

Thứ ba, ý thức pháp luật của các chủ thể tham gia quan hệ TMĐT: Pháp luật về TMĐT có đi vào cuộc sống được hay không phụ thuộc phần nhiều vào ý thức chấp hành pháp luật của các chủ thể tham gia quan hệ TMĐT. Việc tuân thủ pháp luật, thực hiện đúng quy định của pháp luật của các chủ thể gồm: Cá nhân, tổ chức là chủ sở hữu các website bán hàng, gian hàng trên sàn giao dịch điện tử hoặc kinh doanh trên các trang mạng xã hội, quảng cáo trên các phương tiện truyền thông nhằm mục đích thương mại, người mua hàng hóa, dịch vụ... sẽ bảo đảm không chỉ quyền lợi cho chính họ mà còn bảo đảm trật tự an toàn xã hội, tạo niềm tin cho các cá nhân tổ chức tham gia TMĐT, thúc đẩy TMĐT phát triển theo chiều hướng tích cực.

2. Giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về thương mại điện tử ở Việt Nam trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0

Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 với sự hỗ trợ của sức mạnh số và công nghệ thông tin đã tạo nên những thay đổi đột phá, trở thành chuỗi cung ứng thông minh, đem lại hiệu quả cho nền TMĐT, tạo ra nhiều cơ hội thuận lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam trong lĩnh vực TMĐT. Tuy nhiên, cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 cũng tạo ra áp lực đổi mới, sáng tạo đối với các nhà kinh doanh TMĐT, bởi vì phải có kiến thức nền tảng thật tốt thì doanh nghiệp mới có thể phân tích sâu sắc vấn đề, đưa ra giải pháp thật sự hiệu quả. Để nắm bắt cơ hội phát triển, để vượt qua những thách thức, cần xây dựng và áp dụng các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về TMĐT, cụ thể:

Thứ nhất, nhanh chóng hoàn thiện các quy định pháp luật về TMĐT, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho các cơ quan quản lý, các chủ thể tham gia quan hệ TMĐT áp dụng, thực thi trên thực tế.

Với những điểm mới[1] của Nghị định số 85/2021/NĐ-CP ngày 25/9/2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 52/2013/NĐ-CP ngày 16/5/2013 của Chính phủ về TMĐT đã góp phần hạn chế phần nào những “lỗ hổng” của pháp luật về TMĐT từ trước đến nay. Tuy nhiên, trong thời gian tới, cần tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật về TMĐT, cụ thể như: Rà soát, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý liên quan đến quản lý thuế trong TMĐT; quản lý hải quan đối với các hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thông qua hoạt động TMĐT; quản lý mạng xã hội có hoạt động TMĐT; các quy định về giao dịch điện tử, thanh toán điện tử, điều chỉnh, bổ sung quy định về chế tài xử lý vi phạm đối với một số hành vi vi phạm pháp luật về TMĐT trên mạng xã hội...

Thứ hai, tăng cường năng lực và hiệu quả công tác của cơ quan quản lý nhà nước về thương mại điện tử cho phù hợp với yêu cầu thực tế.

Sự phát triển của TMĐT cùng với sự bùng nổ của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 làm phát sinh các đối tượng điều chỉnh mới, với những biểu hiện tồn tại đa dạng và liên tục thay đổi, đòi hỏi các cơ quan quản lý nhà nước cần phải có cách tiếp cận mới và phương pháp quản lý mới. Do quản lý TMĐT nhất thiết và cần thiết phải thực hiện trên nền tảng số nên các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền phải ứng dụng công nghệ để thực hiện chức năng quản lý và luôn nắm rõ được sự thay đổi công nghệ trong suốt quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao.

Bên cạnh đó, cần xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ban, ngành trong việc xử lý, giải quyết các vấn đề liên quan đến TMĐT, đặc biệt là đối với việc thu thuế những người kinh doanh trên mạng xã hội[2]. Để thực hiện hiệu quả nội dung này, cần đẩy mạnh việc triển khai chính quyền điện tử, chính quyền số tạo cơ sở quản lý tốt hơn đối với hoạt động TMĐT trên phạm vi toàn quốc.

Ngoài ra, cần thực hiện nghiêm túc, hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trong lĩnh vực TMĐT để triệt tiêu tận gốc những vi phạm trong hoạt động TMĐT. Các cơ quan quản lý nhà nước liên quan phải nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật bảo vệ người tiêu dùng trong giao dịch điện tử; phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm những hành vi lợi dụng giao dịch điện tử để lừa đảo, xâm phạm quyền lợi của người tiêu dùng. Việc giám sát hoạt động TMĐT được tiến hành trực tuyến trên môi trường mạng bằng phương tiện điện tử, thiết bị số với các nội dung chính là: (i) Giám sát việc chấp hành pháp luật về TMĐT của tổ chức, cá nhân trực tiếp tham gia hoặc có liên quan đến hoạt động TMĐT; (ii) Giám sát tình hình hoạt động TMĐT trên môi trường mạng; (iii) Giám sát hoạt động của website TMĐT; hoạt động của phần mềm, ứng dụng TMĐT cài đặt trên phương tiện điện tử, thiết bị số; (iv) Giám sát hoạt động kinh doanh phần mềm, ứng dụng, thông tin số, nội dung số, xuất bản phẩm điện tử trên môi trường mạng; (v) Giám sát hoạt động ứng dụng, chuyển giao công nghệ trong TMĐT; (vi) Giám sát hoạt động đánh giá tín nhiệm website TMĐT, hoạt động đánh giá và chứng nhận chính sách bảo vệ thông tin cá nhân, hoạt động chứng thực hợp đồng điện tử; (vii) Giám sát an toàn thông tin trong hoạt động TMĐT.

Thứ ba, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ của đội ngũ công chức trong các cơ quan quản lý nhà nước về TMĐT.

TMĐT càng phát triển, hoạt động giao dịch thương mại càng dễ dàng thì càng đem lại thách thức lớn cho công tác quản lý. Do đó, cần chú trọng đến việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ trực tiếp quản lý hoạt động này. Việc đào tạo bồi dưỡng trước hết tập trung vào vấn đề nâng cao nhận thức, hiểu biết, có khả năng phân tích, dự liệu những ảnh hưởng của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đến sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung, lĩnh vực TMĐT nói riêng; đồng thời, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn sâu về công nghệ thông tin cũng như các kiến thức pháp luật cần thiết về TMĐT. Quá trình đào tạo, bồi dưỡng phải được tiến hành thường xuyên để nhanh chóng bắt kịp với sự phát triển của công nghệ điện tử. Để đạt được hiệu quả cao, cần kết hợp kiểm tra, giám sát, cấp chứng chỉ theo những điều kiện nhất định để nâng cao trách nhiệm của cán bộ trong việc học tập, coi đây là nhiệm vụ cần phải hoàn thành.

Thứ tư, nâng cao nhận thức và ý thức pháp luật của các chủ thể trong quan hệ TMĐT.

Có thể thấy, một trong những khó khăn, bất cập ảnh hưởng đến việc phát triển TMĐT bền vững, an toàn và hiệu quả ở nước ta thời gian qua là nhận thức và ý thức tuân thủ pháp luật của các chủ thể tham gia quan hệ TMĐT còn hạn chế. Bởi vậy, để khắc phục tình trạng trên, các doanh nghiệp kinh doanh TMĐT ngoài việc thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật, cần phải tập trung đầu tư nhiều hơn nữa cho việc phát triển hoạt động TMĐT, trong đó cần phải xây dựng được lòng tin đối với người tiêu dùng, thường xuyên đổi mới và nâng cao chất lượng dịch vụ cũng như sản phẩm để bảo đảm quyền lợi cho khách hàng; đặc biệt, cần cam kết bảo mật thông tin, tôn trọng sự riêng tư, giao hàng đúng nơi, đúng hạn, trả lời và giải quyết các khiếu nại của người tiêu dùng một cách kịp thời, thỏa đáng... Về phía người tiêu dùng, cần phải có những kiến thức nhất định để thực hiện các giao dịch điện tử an toàn, tránh bị kẻ gian lợi dụng lừa đảo. Cùng với đó, phải tích cực có những phản hồi, đánh giá đúng đắn về các nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ qua mạng; xây dựng văn hóa bài trừ hàng giả, hàng nhái, không gián tiếp tiếp tay cho những chủ thể kinh doanh hàng giả, hàng nhái trên mạng điện tử.

Để nâng cao nhận thức và ý thức của các cá nhân tổ chức tham gia vào hoạt động TMĐT, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về TMĐT một cách thường xuyên, liên tục, với nhiều hình thức đa dạng và dễ hiểu, phù hợp với từng đối tượng. Trong thời đại công nghệ phát triển, việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật về TMĐT cũng nên gắn với những phương thức hiện đại hóa thông qua các ứng dụng công nghệ số như: Hình ảnh, video đăng tải trên các webside/ứng dụng; các chuyên mục tuyên truyền trên các phương tiện truyền thông đại chúng; gửi tin nhắn, thông báo qua phần mềm Zalo, Facebook... Hiện nay, các ngân hàng thường có cách tuyên truyền thông qua tin nhắn gửi trên phần mềm Internet banking với những nội dung liên quan đến việc cảnh báo và hướng dẫn khách hàng nhận diện các hành vi lừa đảo liên quan đến thanh toán điện tử. Cách làm này giúp cho người tiêu dùng nhanh chóng tiếp nhận được thông tin và bảo vệ được quyền lợi của bản thân. Đây cũng là giải pháp hiệu quả có thể sử dụng trong việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật về TMĐT. Nội dung tuyên truyền, phổ biến có thể chia nhỏ theo từng vấn đề, từng đối tượng, không nhất thiết phải là những chuyên đề dài như hội nghị, hội thảo.

Mặt khác, pháp luật cần quy định cụ thể về nhiệm vụ tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật của các cơ quan liên quan cũng như Ủy ban nhân dân các cấp để cung cấp những kiến thức, những kỹ năng cần thiết cho các chủ thể tham gia hoạt động TMĐT để họ có thể chủ động chấp hành, tuân thủ pháp luật một cách tự giác, thường trực cũng như có thể tự bảo vệ mình khi tham gia hoạt động TMĐT. Khi việc tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật đúng phương pháp, các cá nhân tổ chức còn có những phản hồi kịp thời để sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật phù hợp và quan trọng hơn là các chủ thể này còn có ý thức tự bảo vệ nhau bằng những cảnh báo cho mọi người kịp thời để tránh các rủi ro. Phải có nguồn kinh phí phù hợp và chính sách đào tạo kỹ năng cho chính những người làm công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật trong các cơ quan có chức năng đảm trách nhiệm vụ này bằng các quy định pháp luật.

Thứ năm, phát huy vai trò của các tổ chức phi Chính phủ trong việc nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật TMĐT.

Các hội, hiệp hội phi Chính phủ có liên quan đến TMĐT (điển hình là: Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam (VECOM)), không có thẩm quyền áp dụng pháp luật nhưng lại có vai trò rất quan trọng trong việc tác động đến nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật và văn hóa kinh doanh của các hội viên. Hội viên của tổ chức này thường là các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân trực tiếp kinh doanh bằng TMĐT hoặc là bên cung ứng ứng dụng TMĐT phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh, cung cấp các dịch vụ về TMĐT. Phạm vi hoạt động của tổ chức trải rộng trên cả nước, do vậy sẽ dễ dàng thực hiện việc tuyên truyền, phổ biến các kiến thức về TMĐT cũng như các quy định của pháp luật về TMĐT; đồng thời, tiếp nhận các phản hồi từ những thành viên về thực trạng pháp luật, thực tiễn thi hành pháp luật TMĐT ở Việt Nam và trên cơ sở đó, có những đóng góp trong việc xây dựng, sửa đổi pháp luật nhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội trong lĩnh vực này. Đây cũng là kênh thông tin quan trọng, hỗ trợ đắc lực cho các chủ thể tham gia TMĐT các kiến thức pháp luật để chấp hành pháp luật cũng như bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Chính vì thế, các cơ quan nhà nước cần khuyến khích, tạo điều kiện phát triển và giữ mối liên hệ với các tổ chức này để phát huy được vai trò của họ trong việc tăng cường hiệu quả công tác thi hành pháp luật về TMĐT.

Thứ sáu, tăng cường hợp tác quốc tế về TMĐT và các lĩnh vực liên quan.

Để bắt kịp sự phát triển của thế giới trong lĩnh vực này, cũng như nâng cao hiệu quả quản lý TMĐT phù hợp với yêu cầu hội nhập, Việt Nam cần tích cực hợp tác quốc tế về TMĐT. Giải pháp đưa ra là, tiếp tục thực hiện những chương trình hợp tác với các tổ chức kinh tế thương mại quốc tế và khu vực, các tổ chức thương mại của Liên Hợp quốc, đối tác trong các hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương mà Việt Nam đã ký kết. Nhà nước cần có cơ chế khuyến khích các tổ chức xã hội nghề nghiệp, các doanh nghiệp hợp tác với các đối tác nước ngoài tạo môi trường phát triển TMĐT quốc tế, tăng cường hoạt động kinh doanh trực tuyến qua biên giới và chuyển giao công nghệ. Tăng cường trao đổi, học tập kinh nghiệm các quốc gia tiên tiến về xây dựng và thực thi pháp luật về TMĐT; liên kết hợp tác trong các chương trình đào tạo nguồn nhân lực cho cơ quan quản lý nhà nước về thương mại điện tử[3]. Do đó, cần tiếp tục thực hiện và mở rộng phạm vi đối thoại với các quốc gia trên thế giới để có thêm những kinh nghiệm quý báu, những thông tin hữu ích phục vụ cho từng giai đoạn phát triển của đất nước trong lĩnh vực TMĐT.

Hơn hai thập kỷ kể từ khi TMĐT có mặt và phát triển tại Việt Nam, Nhà nước ta đã rất nỗ lực trong việc thể chế hóa và đưa những quy định pháp luật về TMĐT vào trong đời sống kinh - xã hội. Tuy nhiên, với tính chất đặc thù, cũng như đặc điểm cấu trúc phát triển phức tạp, hoạt động TMĐT vẫn luôn đặt ra những “bài toán khó” trong công tác quản lý. Trong những giai đoạn phát triển tiếp theo, để đạt được hiệu quả cao trong việc thi hành pháp luật về TMĐT, cần tiếp tục đánh giá thực trạng pháp luật, thi hành pháp luật để nhìn nhận rõ những hạn chế còn tồn tại, tìm ra nguyên nhân của các hạn chế đó để xây dựng các giải pháp phù hợp. Bức tranh toàn cảnh của TMĐT trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đã chỉ ra tiềm năng và thách thức đối với Việt Nam, do đó, cần tập trung nguồn lực để bảo đảm thực hiện mục tiêu kép là xây dựng cơ chế điều chỉnh, quản lý hiệu quả đối với TMĐT kết hợp với thúc đẩy phát triển lĩnh vực này một cách mạnh mẽ.

ThS. Võ Thị Hồng Lan

Viện Nghiên cứu lập pháp thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội

ThS. Nguyễn Thị Huyền Trang

Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Vĩnh Phúc

[1]. Như: Có thêm chủ thể của hoạt động thương mại điện tử là dịch vụ logistic; quy định cụ thể về trách nhiệm cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ của người bán; bắt buộc công bố về chính sách kiểm hàng trên website thương mại điện tử; các hoạt động mua bán hàng hóa trên mạng xã hội Facebook, Instagram, Zalo… trở thành đối tượng được điều chỉnh của pháp luật thương mại điện tử, người tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động mua bán phải trả phí và thực hiện đăng ký theo quy định; bổ sung trách nhiệm của thương nhân, tổ chức cung cấp sàn giao dịch thương mại điện tử; đăng ký thiết lập website thương mại điện tử chỉ cần nộp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh bản sao; quy định chi tiết về thủ tục đăng ký hoạt động chứng thực hợp đồng điện tử; quy định thêm về hoạt động thương mại điện tử của thương nhân, tổ chức nước ngoài.

[2]. Ví dụ: Cục Thuế cần phối hợp với Sở Thông tin và Truyền thông, Sở Công Thương, các nhà mạng và ngân hàng cùng quản lý, giám sát số lượng hàng hóa, doanh thu của người kinh doanh để đối chiếu với việc kê khai của người nộp thuế.

[3]. Ví dụ, từ năm 2011, Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số và Cục Chính sách thương mại và Thông tin Nhật Bản đã thường xuyên trao đổi, hợp tác thông qua Chương trình Đối thoại chính sách pháp luật TMĐT và kinh tế số. Thông qua các cuộc đối thoại, phía Việt Nam có cơ hội được tìm hiểu, trao đổi về các giải pháp chuyển đổi số, phát triển TMĐT trong đó bao hàm cả nội dung thực thi pháp luật TMĐT qua từng thời kì. Chương trình đem lại hiệu quả thiết thực cho việc định hướng phát triển và quản lý hoạt động TMĐT ở Việt Nam.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1111/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026 - 2030 (Kế hoạch), đánh dấu bước triển khai quan trọng Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 130/2025/QH15 (Luật năm 2025) được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 (ngày 10/12/2025), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 gồm 11 Chương và 107 Điều quy định về hoạt động hàng không dân dụng, bao gồm các quy định về tàu bay, cảng hàng không, nhân viên hàng không, hoạt động bay, vận tải hàng không thương mại, hàng không chuyên dùng, hàng không chung, an toàn hàng không, an ninh hàng không, trách nhiệm dân sự và các hoạt động khác có liên quan đến hàng không dân dụng.
Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Quy định mới tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 49/2026/NĐ-CP với cơ chế đồng thuận trên 75% được kỳ vọng khơi thông hàng nghìn dự án, sẽ tháo gỡ một trong những vướng mắc lớn nhất trong quá trình triển khai các dự án có sử dụng đất.
Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Ngày 10/12/2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 chính thức thông qua Luật số 132/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026).
Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 thay thế Pháp lệnh Dân số số 06/2004/PL-UBTVQH11 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15). Một trong những thay đổi căn bản của Luật Dân số năm 2025 là chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Những nội dung liên quan đến dân số và phát triển đã được thể hiện trong việc hướng tới giải quyết đồng bộ các vấn đề về quy mô dân số, cơ cấu dân số, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.
Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.

Theo dõi chúng tôi trên: