Thứ sáu 16/01/2026 01:52
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nâng cao vai trò của chủ thể sản xuất, kinh doanh trong quản lý chỉ dẫn địa lý tại Việt Nam

Chỉ dẫn địa lý là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể. Theo đó, chỉ dẫn địa lý trao quyền sử dụng tên gắn liền với nguồn gốc địa lý của sản phẩm. Bảo hộ pháp lý đối với chỉ dẫn địa lý là cơ sở để ngăn chặn tình trạng hàng giả, hàng nhái và mang lại cho người tiêu dùng sự bảo đảm về nguồn gốc tin cậy của sản phẩm, cũng như chất lượng, danh tiếng gắn liền với truyền thống của địa phương.


Ở Việt Nam, khung pháp lý về chỉ dẫn địa lý được ban hành năm 2005 tại Luật Sở hữu trí tuệ trong bối cảnh Việt Nam chuẩn bị gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Pháp luật về chỉ dẫn địa lý tại Việt Nam được đặc trưng bởi vai trò chủ đạo của Nhà nước trong tất cả các thủ tục, quá trình liên quan tới chỉ dẫn địa lý, từ khâu đăng ký đến quản lý chỉ dẫn địa lý. Trong khi đó, vai trò của người sản xuất, kinh doanh và các tổ chức đại diện của họ được quy định rất mờ nhạt, chỉ mang tư cách là chủ thể được “trao quyền sử dụng” hoặc thực hiện các hoạt động đăng ký, quản lý thông qua “ủy quyền”. Trên cơ sở lý luận về chỉ dẫn địa lý và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam, cũng như kinh nghiệm về chỉ dẫn địa lý của Liên minh Châu Âu, đặc biệt là Cộng hòa Pháp - quốc gia đi đầu trên thế giới về hệ thống chỉ dẫn địa lý, bài viết đề xuất giải pháp để nâng cao vai trò của người sản xuất trong quá trình hình thành và quản lý chỉ dẫn địa lý nhằm đảm bảo quyền lợi của họ, đồng thời thúc đẩy giá trị của chỉ dẫn địa lý trên thị trường trong và ngoài nước.

1. Pháp luật về chỉ dẫn địa lý và thực tiễn thi hành tại Việt Nam

1.1. Quy định của pháp luật Việt Nam về chỉ dẫn địa lý

Chỉ dẫn địa lý (CDĐL) là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể. Ở Việt Nam, trước khi CDĐL được đưa vào Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, “tên gọi xuất xứ” được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 1995. Điều 786 Bộ luật Dân sự năm 1995 định nghĩa: “Tên gọi xuất xứ hàng hóa là tên địa lý của nước, địa phương dùng để chỉ xuất xứ của mặt hàng từ nước, địa phương đó với điều kiện những mặt hàng này có các tính chất, chất lượng đặc thù dựa trên các điều kiện địa lý độc đáo và ưu việt, bao gồm yếu tố tự nhiên, con người hoặc kết hợp cả hai yếu tố đó”. Như vậy, điều kiện của tên gọi xuất xứ hàng hóa là mối liên hệ chặt chẽ giữa tính chất, chất lượng sản phẩm với yếu tố tự nhiên hoặc con người, hoặc cả hai của khu vực địa lý mang chỉ dẫn xuất xứ.

Trong tiến trình hoàn thiện pháp luật để gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), vấn đề CDĐL đã được quy định trong Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 để thay thế “tên gọi xuất xứ hàng hóa”. Theo đó, CDĐL là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể (khoản 22 Điều 4). Để được bảo hộ CDĐL, sản phẩm phải đảm bảo các điều kiện cụ thể như: (i) Sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có nguồn gốc địa lý từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc nước tương ứng với chỉ dẫn địa lý; (ii) Sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có danh tiếng, chất lượng hoặc đặc tính chủ yếu do điều kiện địa lý của khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc nước tương ứng với chỉ dẫn địa lý đó quyết định (Điều 79 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005). Điều kiện địa lý liên quan đến CDĐL là những yếu tố tự nhiên và yếu tố con người quyết định danh tiếng, chất lượng, đặc tính của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý (khoản 1 Điều 82 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005). Như vậy, so với “tên gọi xuất xứ hàng hóa”, điều kiện để được bảo hộ CDĐL chặt chẽ hơn, thể hiện ở sự kết hợp cả hai yếu tố tự nhiên và con người, trong khi “tên gọi xuất xứ hàng hóa” chỉ yêu cầu tối thiểu một trong hai yếu tố này.

Theo Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 và 2019 (Luật Sở hữu trí tuệ), CDĐL thuộc về Nhà nước (khoản 4 Điều 121) và quyền sở hữu do đó không thể chuyển giao. Với tư cách là chủ sở hữu, Nhà nước có quyền đăng ký và quản lý CDĐL và có thể ủy quyền cho tổ chức, cá nhân sản xuất hoặc tổ chức tập thể đại diện người sản xuất thực hiện các nhóm quyền này (Điều 88 và khoản 4 Điều 121). Về quyền sử dụng CDĐL, Nhà nước có thể trao quyền sử dụng cho tổ chức hoặc cá nhân sản xuất sản phẩm mang CDĐL ở khu vực địa lý tương ứng và đưa sản phẩm ra thị trường (khoản 4 Điều 121). Những tổ chức, cá nhân này có quyền gắn CDĐL lên sản phẩm và ngăn cản chủ thể khác sử dụng CDĐL một cách bất hợp pháp (khoản 2 Điều 123). Tuy đã có khung pháp lý căn bản về CDĐL, nhưng một số quy định còn thiếu cụ thể, đặc biệt là các quy định về vai trò, trách nhiệm và quyền lợi của người sản xuất, kinh doanh và tổ chức tập thể đại diện cho họ trong quá trình đăng ký và quản lý CDĐL.

1.2. Thực tiễn thi hành pháp luật về chỉ dẫn địa lý ở Việt Nam

(i) Số lượng đăng ký chỉ dẫn địa lý còn hạn chế so với tiềm năng

Theo số liệu từ Cục Sở hữu trí tuệ, đến tháng 10/2019, có 76 CDĐL được đăng ký tại Việt Nam. Điều đáng nói là, trong số các sản phẩm được đăng ký gắn với dấu hiệu chỉ dẫn nguồn gốc địa lý, CDĐL chỉ chiếm một tỷ lệ khiêm tốn so với nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận.

Thông thường, nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận được các địa phương ưu tiên đăng ký hơn so với CDĐL do điều kiện đăng ký dễ dàng hơn, không phải chứng minh mối liên hệ giữa danh tiếng, chất lượng và điều kiện địa lý của khu vực sản xuất. Tuy nhiên, trên thực tế không phải tất cả các sản phẩm đăng ký nhãn hiệu tập thể đều không đáp ứng được yêu cầu về đặc tính, chất lượng của một CDĐL, nhưng do địa phương không đủ tiềm lực về tài chính cũng như kỹ thuật, do vậy chưa tiến hành thủ tục đăng ký bảo hộ CDĐL[1]. Bên cạnh đó, trong một số trường hợp, việc đăng ký CDĐL còn chịu ảnh hưởng bởi chính sách của một số địa phương về chỉ tiêu đăng ký CDĐL, nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận trong một địa phương[2]. Như vậy, có thể thấy sự phụ thuộc vào Nhà nước (về tài chính, về cơ chế quản lý) của các CDĐL tại địa phương có thể mang lại những ảnh hưởng tiêu cực nhất định đến số lượng CDĐL được đăng ký.

(ii) Vai trò chủ đạo của Nhà nước và sự tham gia hạn chế của chủ thể sản xuất, kinh doanh

Hệ thống CDĐL tại Việt Nam đề cao vai trò chủ đạo của Nhà nước trong toàn bộ các quá trình liên quan tới CDĐL, từ khâu đăng ký đến khâu quản lý. Mặc dù, theo quy định của pháp luật, Nhà nước có thể ủy quyền cho người sản xuất hoặc tổ chức tập thể đại diện người sản xuất để thực hiện các quyền nêu trên, song thực tế cho thấy các cơ quan nhà nước hầu hết vẫn trực tiếp tham gia vào quá trình này. Tuy nhiên, thực tế cũng chỉ ra rằng, vai trò của các cơ quan nhà nước chỉ phát huy tích cực trong khâu đăng ký, đến giai đoạn quản lý hiệu quả lại chưa cao.

Đối lập với vai trò chủ đạo của Nhà nước là vị trí khá mờ nhạt của chủ thể sản xuất, kinh doanh trong hệ thống CDĐL. Vấn đề nằm ở chỗ, pháp luật chỉ quy định địa vị của chủ thể sản xuất, kinh doanh với tư cách là “người sử dụng” CDĐL được Nhà nước trao quyền. Do vậy, người sản xuất chỉ đơn thuần gắn CDĐL lên sản phẩm và ngăn cản người khác sử dụng quyền này một cách bất hợp pháp. Ngoài ra, người sản xuất không có trách nhiệm và quyền lợi trong quá trình đăng ký và quản lý CDĐL, trừ khi có ủy quyền từ phía cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Bên cạnh đó, cơ chế ủy quyền, phạm vi ủy quyền cũng không được pháp luật quy định rõ ràng. Do vậy, sự tham gia của người sản xuất vào quá trình đăng ký và quản lý CDĐL thường không mang tính hệ thống, kém hiệu quả mặc dù họ là chủ thể chính đóng góp “yếu tố con người” làm nên CDĐL. Các tổ chức tập thể đại diện cho người sản xuất, kinh doanh hầu hết không phát huy được vai trò của mình trên thực tiễn, mặc dù trên lý thuyết được coi là chủ thể giữ vị trí quan trọng trong việc tập hợp các nhà sản xuất, chế biến, kinh doanh... để đảm bảo quản lý, phát triển CDĐL một cách bền vững. Thực tế, Luật Sở hữu trí tuệ và các văn bản hướng dẫn thi hành của Việt Nam cũng chưa ghi nhận một cách rõ ràng vị trí, chức năng của loại chủ thể này trong quá trình đăng ký, quản lý CDĐL, từ đó dẫn tới hệ lụy là người sản xuất có nhu cầu sử dụng CDĐL tại địa phương không có động lực để tham gia các tổ chức tập thể và không có cơ chế để ngăn chặn tình trạng “hưởng lợi” của những người sản xuất không tham gia vào các tổ chức tập thể.

(iii) Sự thiếu nhất quán trong mô hình quản lý chỉ dẫn địa lý

Do thiếu quy định cụ thể hóa quy trình, nội dung quản lý CDĐL, nên mỗi địa phương quản lý CDĐL một cách khác nhau. Đối với CDĐL chưa có tổ chức tập thể đại diện người sản xuất, cơ quan nhà nước có thẩm quyền trực tiếp tham gia vào quá trình quản lý. Ở quá trình này, các cơ quan nhà nước vừa thực hiện vai trò quản lý, vừa giám sát và chứng nhận chất lượng sản phẩm. Trong khi ở các quốc gia phát triển trên thế giới, quản lý chất lượng CDĐL luôn được đảm bảo bởi hai quy trình độc lập là quản lý nội bộ (được tiến hành bởi bản thân người sản xuất và tập thể đại diện người sản xuất) và quản lý ngoại vi (được tiến hành bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc tổ chức chứng nhận độc lập).

Đối với CDĐL đã có tổ chức tập thể đại diện người sản xuất, khâu quản lý chất lượng cũng được triển khai khác nhau giữa các tổ chức. Ở một số tổ chức, khâu quản lý nội bộ của tổ chức được tiến hành độc lập với khâu quản lý ngoại vi được đảm nhiệm bởi ban kiểm soát có thành viên từ các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các cơ sở nghiên cứu[3]. Tuy nhiên, ở một số tổ chức khác, khâu quản lý nội bộ có xu hướng kết hợp với quản lý ngoại vi, tức là tổ chức tập thể kết hợp với các cơ quan nhà nước trong quá trình quản lý chất lượng sản phẩm, dẫn đến tính thiếu độc lập trong hai khâu kiểm soát[4]. Như vậy, các sản phẩm cùng được gắn nhãn hiệu CDĐL song khâu quản lý chất lượng của mỗi sản phẩm được tổ chức một cách khác nhau và hiệu quả quản lý khác nhau.

2. Pháp luật về chỉ dẫn địa lý của Liên minh Châu Âu

Chúng tôi dẫn chiếu tới kinh nghiệm của Liên minh Châu Âu (EU), đặc biệt nhấn mạnh vào Cộng hòa Pháp là quốc gia có bề dày lịch sử phát triển CDĐL. Hơn nữa, trong bối cảnh các mặt hàng nông sản của Việt Nam có thể tiếp cận thị trường EU theo Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và EU (EVFTA), nghiên cứu khung pháp lý dành cho CDĐL của EU, đặc biệt là Cộng hòa Pháp - vốn là quốc gia gây nhiều ảnh hưởng đến khung pháp lý chung của EU về CDĐL, sẽ đặc biệt có ý nghĩa cho quá trình cải cách khung pháp lý liên quan của Việt Nam trong thời gian tới.

(i) Mô hình chung Liên minh Châu Âu

Khung pháp lý chung về CDĐL áp dụng đối với EU được ban hành vào năm 1992 trong Quy chế Liên minh Châu Âu số 2081/92 ngày 14/7/1992. Theo đó, đăng ký CDĐL sẽ được thực hiện tại 02 cấp là cấp quốc gia và cấp EU. Năm 2006 đánh dấu sự thay đổi quan trọng của EU về CDĐL, được thể hiện tại Quy chế Liên minh Châu Âu số 516/2006 ngày 20/3/2006. Theo Quy chế này, chỉ tập thể người sản xuất được thực hiện quyền đăng ký đối với CDĐL. Bên cạnh đó, đối với các CDĐL bắt nguồn từ EU, có 02 cấp độ kiểm soát chất lượng là cấp độ vĩ mô (kiểm soát chất lượng tổng thể đối với toàn bộ các CDĐL, được thực hiện bởi cơ quan thẩm quyền quốc gia) và cấp độ vi mô (kiểm soát chất lượng của từng CDĐL theo như bản mô tả trong quá trình đăng ký, được thực hiện bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc tổ chức chứng nhận độc lập đã được thẩm định đạt tiêu chuẩn).

(ii) Mô hình của Cộng hòa Pháp

Trên tinh thần khung pháp lý chung của EU, Cộng hòa Pháp xây dựng khung pháp lý đặc thù cho quốc gia với hai điểm nhấn chính là vai trò chủ đạo của khối tư nhân (chủ thể sản xuất, kinh doanh, tập thể đại diện chủ thể sản xuất, kinh doanh và cơ quan chứng nhận chất lượng độc lập) và hệ thống kiểm soát chất lượng thống nhất[5].

Từ năm 2006, Cộng hòa Pháp quy định mỗi CDĐL phải có một tổ chức đại diện cho người sản xuất, kinh doanh, được gọi chung là Tổ chức Bảo vệ và Quản lý (Organization for Defense and Management). Việc tham gia tổ chức này là bắt buộc đối với tất cả các nhà sản xuất, kinh doanh thỏa mãn điều kiện và có nhu cầu sử dụng CDĐL. Chỉ tổ chức đại diện mới có quyền đăng ký và quản lý CDĐL, trao quyền sử dụng và giám sát việc sử dụng đúng đắn CDĐL đối với tất cả các thành viên, đại diện cho tất cả các thành viên trong các mối quan hệ pháp lý liên quan tới CDĐL. Điều này có sự khác biệt lớn so với trước đây khi cơ quan nhà nước, đại diện là Cơ quan quốc gia quản lý nguồn gốc và chất lượng (INAO), có sự can thiệp khá sâu vào quá trình đăng ký và quản lý CDĐL. Từ năm 2006, việc kiểm soát được tiến hành bởi một tổ chức chứng nhận độc lập do tổ chức đại diện người sản xuất, kinh doanh lựa chọn, đã được kiểm định theo tiêu chuẩn châu Âu và được INAO chấp thuận. Quá trình chứng nhận và kiểm soát chất lượng này được gọi là kiểm soát ngoại vi. Bên cạnh kiểm soát ngoại vi, người sản xuất kinh doanh tự đảm bảo chất lượng cho sản phẩm của mình, còn gọi là tự kiểm soát, và tổ chức đại diện người sản xuất - kinh doanh tiến hành kiểm soát nội bộ. Chi phí của việc chứng nhận, kiểm soát do người sản xuất, kinh doanh sản phẩm mang CDĐL chi trả để giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Mô hình cho thấy tính độc lập của mỗi CDĐL trong quá trình quản lý, kiểm soát chất lượng sản phẩm, đồng thời cũng đảm bảo được tính khách quan, minh bạch, hiệu quả và giảm thiểu sự can thiệp của Nhà nước trong quá trình này.

3. Gợi ý cho Việt Nam

Nghiên cứu hô hình CDĐL của Việt Nam và EU, đặc biệt là Cộng hòa Pháp cho thấy sự khác biệt trong cách tiếp cận về vai trò của các chủ thể trong hệ thống CDĐL. Nếu Việt Nam nhấn mạnh vai trò của chủ thể Nhà nước, được đại diện bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong quá trình đăng ký và quản lý CDĐL, thì Cộng hòa Pháp trao quyền chủ đạo cho chủ thể sản xuất, kinh doanh mà đại diện là Tổ chức Bảo vệ và Quản lý của mỗi CDĐL. Mặc dù, lịch sử hình thành và phát triển hệ thống CDĐL ở mỗi quốc gia khác nhau, kinh nghiệm của Cộng hòa Pháp từ góc nhìn đối sánh cũng mang lại một số gợi ý chính sách cho Việt Nam, thể hiện ở hai góc độ vai trò của Nhà nước và vai trò của chủ thể sản xuất, kinh doanh trong hệ thống CDĐL.

3.1. Vai trò của Nhà nước trong hệ thống chỉ dẫn địa lý

Tại Việt Nam, Nhà nước gần như thực hiện tất cả các khâu liên quan, từ đăng ký đến quản lý CDĐL. Điều này ảnh hưởng đến tính tích cực, chủ động của người sản xuất, kinh doanh và tổ chức đại diện của họ. Vậy hệ thống CDĐL của Việt Nam có nên cải cách theo hướng của Cộng hòa Pháp hay không? Rõ ràng, sự can thiệp sâu của Nhà nước vào hệ thống CDĐL như thực tế ở Việt Nam khiến cho hoạt động của hệ thống trở nên mang tính hành chính, kém hiệu quả và hạn chế sự chủ động từ phía các chủ thể sản xuất, kinh doanh. Song, theo ý kiến chúng tôi, nếu thoát ly hoàn toàn sự can thiệp của Nhà nước như mô hình của Cộng hòa Pháp tại thời điểm này chưa phải là giải pháp tối ưu, thể hiện trên hai khía cạnh sau đây.

Thứ nhất, về góc độ lý thuyết, CDĐL tại Việt Nam bao hàm hai yếu tố: Yếu tố tự nhiên và yếu tố con người. Yếu tố tự nhiên do điều kiện tự nhiên mang lại, trong đó bao gồm các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Theo pháp luật Việt Nam, các nguồn tài nguyên thiên nhiên thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu (Điều 53 Hiến pháp năm 2013). Do vậy, sự tham gia của Nhà nước vào quá trình đăng ký và quản lý CDĐL là tất yếu, do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu của các tài nguyên vốn là một trong các yếu tố cấu thành của CDĐL, đồng thời đảm bảo việc phân phối, sử dụng các tài nguyên này một cách bền vững trong quá trình sản xuất các sản phẩm mang CDĐL. Bên cạnh đó, với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự tham gia của Nhà nước vào quá trình hình thành và phát triển các CDĐL là cần thiết nhằm gắn chúng với các chính sách xóa đói giảm nghèo, phát triển nông thôn, bảo vệ môi trường và bảo tồn đa dạng sinh học[6]. Ngoài ra, do các CDĐL còn được xem như “di sản quốc gia”, “bản sắc quốc gia”, cần phải phát huy vai trò đại diện của Nhà nước trong các tranh chấp liên quan đến CDĐL mang tính quốc tế[7].

Thứ hai, về góc độ thực tiễn, do các CDĐL đều có nguồn gốc từ các địa phương thuộc vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu vùng xa..., năng lực tài chính và kỹ thuật của các chủ thể sản xuất, kinh doanh và các tổ chức đại diện của họ đều hạn chế, thậm chí có nhiều trường hợp các tổ chức đại diện còn chưa được hình thành mặc dù CDĐL đã được đăng ký. Do vậy, các chủ thể sản xuất, kinh doanh và các tổ chức đại diện của họ chưa đủ năng lực độc lập để tiến hành đăng ký và quản lý các CDĐL. Cá biệt, có những trường hợp quyền quản lý đã được Nhà nước ủy quyền cho tổ chức tập thể, song tổ chức không thể đảm đương được trách nhiệm. Hơn nữa, một số CDĐL có thể mang lại lợi ích kinh tế trước mắt và lâu dài cho các chủ thể sản xuất kinh doanh nên họ rất tích cực tham gia đóng góp cho sự phát triển của CDĐL; song trong một số trường hợp CDĐL chỉ mang tính chất “biểu tượng” cho bản sắc địa phương mà ít mang lại giá trị kinh tế, nên sự “bao cấp” của Nhà nước là một tất yếu để đảm bảo CDĐL có thể tồn tại[8]. Chính vì vậy, vai trò tham gia của Nhà nước ở thời điểm hiện tại vẫn thực sự cần thiết cho sự hình thành và phát triển các CDĐL ở Việt Nam.

Vấn đề ở chỗ, sự tham gia của Nhà nước sẽ thể hiện đến đâu, ở mức độ nào, bởi vẫn cần phát huy sự chủ động tích cực của các chủ thể sản xuất, kinh doanh và các tổ chức tập thể. Quan điểm của chúng tôi thể hiện ở sự pha trộn giữa hai mô hình: Mô hình hiện tại của Việt Nam với vai trò chủ đạo của Nhà nước và mô hình của Cộng hòa Pháp với sự chủ động, độc lập của các chủ thể sản xuất, kinh doanh. Cụ thể, Nhà nước sẽ giữ vai trò kiến tạo và phát triển các điều kiện về tài chính, kỹ thuật ban đầu trước khi trao quyền tự chủ cho chủ thể sản xuất kinh doanh và các tổ chức tập thể. Mô hình này không chỉ xuất phát từ lý thuyết về vai trò của Nhà nước đối với các CDĐL mà còn được minh chứng qua kinh nghiệm thực tế của các địa phương.

3.2. Vai trò của các chủ thể sản xuất, kinh doanh và các tổ chức tập thể

Vai trò của các chủ thể sản xuất, kinh doanh và các tổ chức tập thể tại Việt Nam hiện nay khá mờ nhạt. Để thúc đẩy sự phát triển của các CDĐL, vai trò chủ động của loại chủ thể này hết sức cần thiết, thể hiện cả ở phương diện lý thuyết và thực tiễn.

Trước hết, trên cơ sở lý thuyết về SHTT, quyền SHTT là sự trả công xứng đáng cho sự đầu tư vào hoạt động sáng tạo - với tư cách là động lực cho sự phát triển của toàn xã hội. Đối với CDĐL, cộng đồng người sản xuất, kinh doanh là những người đã đầu tư lao động chân tay và lao động trí tuệ để làm nên quy trình, bí quyết và danh tiếng của sản phẩm trong suốt quá trình lịch sử, do vậy quyền pháp lý của họ đối với CDĐL cần phải cao hơn quyền sử dụng CDĐL đơn thuần do Nhà nước trao cho. Bên cạnh đó, thực tế cho thấy, từ quá trình đăng ký đến quá trình quản lý CDĐL, nếu không có sự đóng góp của các chủ thể sản xuất kinh doanh trong việc xây dựng các tiêu chí, tiêu chuẩn đặc thù của CDĐL và đảm bảo các tiêu chí, tiêu chuẩn này trong quá trình sản xuất, kinh doanh, CDĐL không tồn tại. Do vậy, chủ thể sản xuất, kinh doanh cần giữ vai trò chủ động từ giai đoạn hình thành đến quá trình duy trì, phát triển CDĐL.

Tuy nhiên, do tính tập thể của CDĐL, chúng tôi cho rằng, cần có một tổ chức tập thể đại diện cho tất cả các chủ thể sản xuất, kinh doanh nhằm quản lý CDĐL một cách thống nhất và đảm bảo sự tham gia, đóng góp và hưởng lợi một cách công bằng giữa tất cả các thành viên của tổ chức. Đồng thời, tổ chức này cũng chịu trách nhiệm kiểm soát nội bộ chất lượng sản phẩm mang CDĐL. Do vậy, mô hình tổ chức đại diện cho người sản xuất, kinh doanh với tư cách là thực thể duy nhất có quyền đăng ký và quản lý CDĐL như đang áp dụng tại Pháp là mô hình hoàn toàn phù hợp cho Việt Nam. Trên thực tế, loại hình tổ chức này đã và đang tồn tại tại Việt Nam, hoạt động dưới các hình thức, tên gọi khác nhau như “hội”, “hiệp hội”, “hợp tác xã”. Tuy nhiên, hiện nay mức độ phát triển của các tổ chức này không đồng đều và hầu hết chưa đủ mạnh để có thể thực hiện việc đăng ký và quản lý CDĐL một cách độc lập. Thực tiễn này trái với Cộng hòa Pháp - quốc gia có lịch sử hàng thế kỷ phát triển các hiệp hội ngành nghề gắn với các CDĐL nổi tiếng. Vì lý do trên, các tổ chức tập thể tại Việt Nam cần phải có giai đoạn “quá độ” cho đến khi đủ độ “chín” cần thiết để có thể đảm nhiệm sứ mệnh một cách độc lập. Trong giai đoạn “quá độ” đó, sự hỗ trợ từ phía Nhà nước vẫn là cần thiết.

TS. Nguyễn Thi Minh Hạnh

ThS. Trịnh Thị Ngọc Anh

ThS. Lê Thị Yến

Học viện Nông nghiệp Việt Nam





[1]. Lê Thị Thu Hà (2011), Bảo hộ chỉ dẫn địa lý của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, Nxb. Thông tin và Truyền thông, tr. 131.

[2]. Barbara Pick, Delphine Marie-Vivien & Dong Bui Kim (2017), The use of geographical indications in Vietnam: A promising tool for socioeconomic development? Cambridge University Press, tr. 317.

[3]. Xem Quyết định số 1401/QĐ-UBND ngày 25/6/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang về việc ban hành quy định quản lý và sử dụng chỉ dẫn địa lý Phú Quốc cho sản phẩm nước mắm.

[4]. Xem Quyết định số 5879/2011/QĐ-UBND ngày 5/10/2011 của Ủy ban nhân dân huyện Thanh Hà về việc ban hành quy định quản lý và sử dụng chỉ dẫn địa lý Thanh Hà cho sản phẩm quả vải thiều.

[5]. Thông tin tác giả tổng hợp từ: Delphine Marie-Vivien, Laurence Bérard, Jean-Pierre Boutonnet and Francois Casabianca (2017), Are French Geographical Indications Losing their soul? Analyzing recent developments in the governance of the link to the origin in France, World Development Vol. 98, tr. 25-34.

[6]. Xem Irene Calboli & NG-Loy Wee Loon (2017), Geographical Indications at the Crossroads of Trade, Development, and Culture: Focus on Asia-Pacific, Cambridge University Press.

[7]. Xem Huỳnh Ngọc Dương (2018), Thực trạng bảo vệ và phát triển chỉ dẫn địa lý cà phê Buôn Ma Thuột, tại https://socongthuong.daklak.gov.vn/news/tin-xuc-tien-thuong-mai/thuc-trang-bao-ve-va-phat-trien-chi-dan-dia-ly-ca-phe-buon-ma-thuot-490.html (truy cập ngày 25/9/2020).

[8]. Phỏng vấn ông Bùi Quang Minh - Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Ninh (ngày 18/9/2020).

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.

Theo dõi chúng tôi trên: