Thứ ba 22/09/2026 08:18
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nâng cao vai trò của chủ thể sản xuất, kinh doanh trong quản lý chỉ dẫn địa lý tại Việt Nam

Chỉ dẫn địa lý là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể. Theo đó, chỉ dẫn địa lý trao quyền sử dụng tên gắn liền với nguồn gốc địa lý của sản phẩm. Bảo hộ pháp lý đối với chỉ dẫn địa lý là cơ sở để ngăn chặn tình trạng hàng giả, hàng nhái và mang lại cho người tiêu dùng sự bảo đảm về nguồn gốc tin cậy của sản phẩm, cũng như chất lượng, danh tiếng gắn liền với truyền thống của địa phương.


Ở Việt Nam, khung pháp lý về chỉ dẫn địa lý được ban hành năm 2005 tại Luật Sở hữu trí tuệ trong bối cảnh Việt Nam chuẩn bị gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Pháp luật về chỉ dẫn địa lý tại Việt Nam được đặc trưng bởi vai trò chủ đạo của Nhà nước trong tất cả các thủ tục, quá trình liên quan tới chỉ dẫn địa lý, từ khâu đăng ký đến quản lý chỉ dẫn địa lý. Trong khi đó, vai trò của người sản xuất, kinh doanh và các tổ chức đại diện của họ được quy định rất mờ nhạt, chỉ mang tư cách là chủ thể được “trao quyền sử dụng” hoặc thực hiện các hoạt động đăng ký, quản lý thông qua “ủy quyền”. Trên cơ sở lý luận về chỉ dẫn địa lý và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam, cũng như kinh nghiệm về chỉ dẫn địa lý của Liên minh Châu Âu, đặc biệt là Cộng hòa Pháp - quốc gia đi đầu trên thế giới về hệ thống chỉ dẫn địa lý, bài viết đề xuất giải pháp để nâng cao vai trò của người sản xuất trong quá trình hình thành và quản lý chỉ dẫn địa lý nhằm đảm bảo quyền lợi của họ, đồng thời thúc đẩy giá trị của chỉ dẫn địa lý trên thị trường trong và ngoài nước.

1. Pháp luật về chỉ dẫn địa lý và thực tiễn thi hành tại Việt Nam

1.1. Quy định của pháp luật Việt Nam về chỉ dẫn địa lý

Chỉ dẫn địa lý (CDĐL) là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể. Ở Việt Nam, trước khi CDĐL được đưa vào Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, “tên gọi xuất xứ” được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 1995. Điều 786 Bộ luật Dân sự năm 1995 định nghĩa: “Tên gọi xuất xứ hàng hóa là tên địa lý của nước, địa phương dùng để chỉ xuất xứ của mặt hàng từ nước, địa phương đó với điều kiện những mặt hàng này có các tính chất, chất lượng đặc thù dựa trên các điều kiện địa lý độc đáo và ưu việt, bao gồm yếu tố tự nhiên, con người hoặc kết hợp cả hai yếu tố đó”. Như vậy, điều kiện của tên gọi xuất xứ hàng hóa là mối liên hệ chặt chẽ giữa tính chất, chất lượng sản phẩm với yếu tố tự nhiên hoặc con người, hoặc cả hai của khu vực địa lý mang chỉ dẫn xuất xứ.

Trong tiến trình hoàn thiện pháp luật để gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), vấn đề CDĐL đã được quy định trong Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 để thay thế “tên gọi xuất xứ hàng hóa”. Theo đó, CDĐL là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể (khoản 22 Điều 4). Để được bảo hộ CDĐL, sản phẩm phải đảm bảo các điều kiện cụ thể như: (i) Sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có nguồn gốc địa lý từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc nước tương ứng với chỉ dẫn địa lý; (ii) Sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có danh tiếng, chất lượng hoặc đặc tính chủ yếu do điều kiện địa lý của khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc nước tương ứng với chỉ dẫn địa lý đó quyết định (Điều 79 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005). Điều kiện địa lý liên quan đến CDĐL là những yếu tố tự nhiên và yếu tố con người quyết định danh tiếng, chất lượng, đặc tính của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý (khoản 1 Điều 82 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005). Như vậy, so với “tên gọi xuất xứ hàng hóa”, điều kiện để được bảo hộ CDĐL chặt chẽ hơn, thể hiện ở sự kết hợp cả hai yếu tố tự nhiên và con người, trong khi “tên gọi xuất xứ hàng hóa” chỉ yêu cầu tối thiểu một trong hai yếu tố này.

Theo Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 và 2019 (Luật Sở hữu trí tuệ), CDĐL thuộc về Nhà nước (khoản 4 Điều 121) và quyền sở hữu do đó không thể chuyển giao. Với tư cách là chủ sở hữu, Nhà nước có quyền đăng ký và quản lý CDĐL và có thể ủy quyền cho tổ chức, cá nhân sản xuất hoặc tổ chức tập thể đại diện người sản xuất thực hiện các nhóm quyền này (Điều 88 và khoản 4 Điều 121). Về quyền sử dụng CDĐL, Nhà nước có thể trao quyền sử dụng cho tổ chức hoặc cá nhân sản xuất sản phẩm mang CDĐL ở khu vực địa lý tương ứng và đưa sản phẩm ra thị trường (khoản 4 Điều 121). Những tổ chức, cá nhân này có quyền gắn CDĐL lên sản phẩm và ngăn cản chủ thể khác sử dụng CDĐL một cách bất hợp pháp (khoản 2 Điều 123). Tuy đã có khung pháp lý căn bản về CDĐL, nhưng một số quy định còn thiếu cụ thể, đặc biệt là các quy định về vai trò, trách nhiệm và quyền lợi của người sản xuất, kinh doanh và tổ chức tập thể đại diện cho họ trong quá trình đăng ký và quản lý CDĐL.

1.2. Thực tiễn thi hành pháp luật về chỉ dẫn địa lý ở Việt Nam

(i) Số lượng đăng ký chỉ dẫn địa lý còn hạn chế so với tiềm năng

Theo số liệu từ Cục Sở hữu trí tuệ, đến tháng 10/2019, có 76 CDĐL được đăng ký tại Việt Nam. Điều đáng nói là, trong số các sản phẩm được đăng ký gắn với dấu hiệu chỉ dẫn nguồn gốc địa lý, CDĐL chỉ chiếm một tỷ lệ khiêm tốn so với nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận.

Thông thường, nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận được các địa phương ưu tiên đăng ký hơn so với CDĐL do điều kiện đăng ký dễ dàng hơn, không phải chứng minh mối liên hệ giữa danh tiếng, chất lượng và điều kiện địa lý của khu vực sản xuất. Tuy nhiên, trên thực tế không phải tất cả các sản phẩm đăng ký nhãn hiệu tập thể đều không đáp ứng được yêu cầu về đặc tính, chất lượng của một CDĐL, nhưng do địa phương không đủ tiềm lực về tài chính cũng như kỹ thuật, do vậy chưa tiến hành thủ tục đăng ký bảo hộ CDĐL[1]. Bên cạnh đó, trong một số trường hợp, việc đăng ký CDĐL còn chịu ảnh hưởng bởi chính sách của một số địa phương về chỉ tiêu đăng ký CDĐL, nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận trong một địa phương[2]. Như vậy, có thể thấy sự phụ thuộc vào Nhà nước (về tài chính, về cơ chế quản lý) của các CDĐL tại địa phương có thể mang lại những ảnh hưởng tiêu cực nhất định đến số lượng CDĐL được đăng ký.

(ii) Vai trò chủ đạo của Nhà nước và sự tham gia hạn chế của chủ thể sản xuất, kinh doanh

Hệ thống CDĐL tại Việt Nam đề cao vai trò chủ đạo của Nhà nước trong toàn bộ các quá trình liên quan tới CDĐL, từ khâu đăng ký đến khâu quản lý. Mặc dù, theo quy định của pháp luật, Nhà nước có thể ủy quyền cho người sản xuất hoặc tổ chức tập thể đại diện người sản xuất để thực hiện các quyền nêu trên, song thực tế cho thấy các cơ quan nhà nước hầu hết vẫn trực tiếp tham gia vào quá trình này. Tuy nhiên, thực tế cũng chỉ ra rằng, vai trò của các cơ quan nhà nước chỉ phát huy tích cực trong khâu đăng ký, đến giai đoạn quản lý hiệu quả lại chưa cao.

Đối lập với vai trò chủ đạo của Nhà nước là vị trí khá mờ nhạt của chủ thể sản xuất, kinh doanh trong hệ thống CDĐL. Vấn đề nằm ở chỗ, pháp luật chỉ quy định địa vị của chủ thể sản xuất, kinh doanh với tư cách là “người sử dụng” CDĐL được Nhà nước trao quyền. Do vậy, người sản xuất chỉ đơn thuần gắn CDĐL lên sản phẩm và ngăn cản người khác sử dụng quyền này một cách bất hợp pháp. Ngoài ra, người sản xuất không có trách nhiệm và quyền lợi trong quá trình đăng ký và quản lý CDĐL, trừ khi có ủy quyền từ phía cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Bên cạnh đó, cơ chế ủy quyền, phạm vi ủy quyền cũng không được pháp luật quy định rõ ràng. Do vậy, sự tham gia của người sản xuất vào quá trình đăng ký và quản lý CDĐL thường không mang tính hệ thống, kém hiệu quả mặc dù họ là chủ thể chính đóng góp “yếu tố con người” làm nên CDĐL. Các tổ chức tập thể đại diện cho người sản xuất, kinh doanh hầu hết không phát huy được vai trò của mình trên thực tiễn, mặc dù trên lý thuyết được coi là chủ thể giữ vị trí quan trọng trong việc tập hợp các nhà sản xuất, chế biến, kinh doanh... để đảm bảo quản lý, phát triển CDĐL một cách bền vững. Thực tế, Luật Sở hữu trí tuệ và các văn bản hướng dẫn thi hành của Việt Nam cũng chưa ghi nhận một cách rõ ràng vị trí, chức năng của loại chủ thể này trong quá trình đăng ký, quản lý CDĐL, từ đó dẫn tới hệ lụy là người sản xuất có nhu cầu sử dụng CDĐL tại địa phương không có động lực để tham gia các tổ chức tập thể và không có cơ chế để ngăn chặn tình trạng “hưởng lợi” của những người sản xuất không tham gia vào các tổ chức tập thể.

(iii) Sự thiếu nhất quán trong mô hình quản lý chỉ dẫn địa lý

Do thiếu quy định cụ thể hóa quy trình, nội dung quản lý CDĐL, nên mỗi địa phương quản lý CDĐL một cách khác nhau. Đối với CDĐL chưa có tổ chức tập thể đại diện người sản xuất, cơ quan nhà nước có thẩm quyền trực tiếp tham gia vào quá trình quản lý. Ở quá trình này, các cơ quan nhà nước vừa thực hiện vai trò quản lý, vừa giám sát và chứng nhận chất lượng sản phẩm. Trong khi ở các quốc gia phát triển trên thế giới, quản lý chất lượng CDĐL luôn được đảm bảo bởi hai quy trình độc lập là quản lý nội bộ (được tiến hành bởi bản thân người sản xuất và tập thể đại diện người sản xuất) và quản lý ngoại vi (được tiến hành bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc tổ chức chứng nhận độc lập).

Đối với CDĐL đã có tổ chức tập thể đại diện người sản xuất, khâu quản lý chất lượng cũng được triển khai khác nhau giữa các tổ chức. Ở một số tổ chức, khâu quản lý nội bộ của tổ chức được tiến hành độc lập với khâu quản lý ngoại vi được đảm nhiệm bởi ban kiểm soát có thành viên từ các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các cơ sở nghiên cứu[3]. Tuy nhiên, ở một số tổ chức khác, khâu quản lý nội bộ có xu hướng kết hợp với quản lý ngoại vi, tức là tổ chức tập thể kết hợp với các cơ quan nhà nước trong quá trình quản lý chất lượng sản phẩm, dẫn đến tính thiếu độc lập trong hai khâu kiểm soát[4]. Như vậy, các sản phẩm cùng được gắn nhãn hiệu CDĐL song khâu quản lý chất lượng của mỗi sản phẩm được tổ chức một cách khác nhau và hiệu quả quản lý khác nhau.

2. Pháp luật về chỉ dẫn địa lý của Liên minh Châu Âu

Chúng tôi dẫn chiếu tới kinh nghiệm của Liên minh Châu Âu (EU), đặc biệt nhấn mạnh vào Cộng hòa Pháp là quốc gia có bề dày lịch sử phát triển CDĐL. Hơn nữa, trong bối cảnh các mặt hàng nông sản của Việt Nam có thể tiếp cận thị trường EU theo Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và EU (EVFTA), nghiên cứu khung pháp lý dành cho CDĐL của EU, đặc biệt là Cộng hòa Pháp - vốn là quốc gia gây nhiều ảnh hưởng đến khung pháp lý chung của EU về CDĐL, sẽ đặc biệt có ý nghĩa cho quá trình cải cách khung pháp lý liên quan của Việt Nam trong thời gian tới.

(i) Mô hình chung Liên minh Châu Âu

Khung pháp lý chung về CDĐL áp dụng đối với EU được ban hành vào năm 1992 trong Quy chế Liên minh Châu Âu số 2081/92 ngày 14/7/1992. Theo đó, đăng ký CDĐL sẽ được thực hiện tại 02 cấp là cấp quốc gia và cấp EU. Năm 2006 đánh dấu sự thay đổi quan trọng của EU về CDĐL, được thể hiện tại Quy chế Liên minh Châu Âu số 516/2006 ngày 20/3/2006. Theo Quy chế này, chỉ tập thể người sản xuất được thực hiện quyền đăng ký đối với CDĐL. Bên cạnh đó, đối với các CDĐL bắt nguồn từ EU, có 02 cấp độ kiểm soát chất lượng là cấp độ vĩ mô (kiểm soát chất lượng tổng thể đối với toàn bộ các CDĐL, được thực hiện bởi cơ quan thẩm quyền quốc gia) và cấp độ vi mô (kiểm soát chất lượng của từng CDĐL theo như bản mô tả trong quá trình đăng ký, được thực hiện bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc tổ chức chứng nhận độc lập đã được thẩm định đạt tiêu chuẩn).

(ii) Mô hình của Cộng hòa Pháp

Trên tinh thần khung pháp lý chung của EU, Cộng hòa Pháp xây dựng khung pháp lý đặc thù cho quốc gia với hai điểm nhấn chính là vai trò chủ đạo của khối tư nhân (chủ thể sản xuất, kinh doanh, tập thể đại diện chủ thể sản xuất, kinh doanh và cơ quan chứng nhận chất lượng độc lập) và hệ thống kiểm soát chất lượng thống nhất[5].

Từ năm 2006, Cộng hòa Pháp quy định mỗi CDĐL phải có một tổ chức đại diện cho người sản xuất, kinh doanh, được gọi chung là Tổ chức Bảo vệ và Quản lý (Organization for Defense and Management). Việc tham gia tổ chức này là bắt buộc đối với tất cả các nhà sản xuất, kinh doanh thỏa mãn điều kiện và có nhu cầu sử dụng CDĐL. Chỉ tổ chức đại diện mới có quyền đăng ký và quản lý CDĐL, trao quyền sử dụng và giám sát việc sử dụng đúng đắn CDĐL đối với tất cả các thành viên, đại diện cho tất cả các thành viên trong các mối quan hệ pháp lý liên quan tới CDĐL. Điều này có sự khác biệt lớn so với trước đây khi cơ quan nhà nước, đại diện là Cơ quan quốc gia quản lý nguồn gốc và chất lượng (INAO), có sự can thiệp khá sâu vào quá trình đăng ký và quản lý CDĐL. Từ năm 2006, việc kiểm soát được tiến hành bởi một tổ chức chứng nhận độc lập do tổ chức đại diện người sản xuất, kinh doanh lựa chọn, đã được kiểm định theo tiêu chuẩn châu Âu và được INAO chấp thuận. Quá trình chứng nhận và kiểm soát chất lượng này được gọi là kiểm soát ngoại vi. Bên cạnh kiểm soát ngoại vi, người sản xuất kinh doanh tự đảm bảo chất lượng cho sản phẩm của mình, còn gọi là tự kiểm soát, và tổ chức đại diện người sản xuất - kinh doanh tiến hành kiểm soát nội bộ. Chi phí của việc chứng nhận, kiểm soát do người sản xuất, kinh doanh sản phẩm mang CDĐL chi trả để giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Mô hình cho thấy tính độc lập của mỗi CDĐL trong quá trình quản lý, kiểm soát chất lượng sản phẩm, đồng thời cũng đảm bảo được tính khách quan, minh bạch, hiệu quả và giảm thiểu sự can thiệp của Nhà nước trong quá trình này.

3. Gợi ý cho Việt Nam

Nghiên cứu hô hình CDĐL của Việt Nam và EU, đặc biệt là Cộng hòa Pháp cho thấy sự khác biệt trong cách tiếp cận về vai trò của các chủ thể trong hệ thống CDĐL. Nếu Việt Nam nhấn mạnh vai trò của chủ thể Nhà nước, được đại diện bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong quá trình đăng ký và quản lý CDĐL, thì Cộng hòa Pháp trao quyền chủ đạo cho chủ thể sản xuất, kinh doanh mà đại diện là Tổ chức Bảo vệ và Quản lý của mỗi CDĐL. Mặc dù, lịch sử hình thành và phát triển hệ thống CDĐL ở mỗi quốc gia khác nhau, kinh nghiệm của Cộng hòa Pháp từ góc nhìn đối sánh cũng mang lại một số gợi ý chính sách cho Việt Nam, thể hiện ở hai góc độ vai trò của Nhà nước và vai trò của chủ thể sản xuất, kinh doanh trong hệ thống CDĐL.

3.1. Vai trò của Nhà nước trong hệ thống chỉ dẫn địa lý

Tại Việt Nam, Nhà nước gần như thực hiện tất cả các khâu liên quan, từ đăng ký đến quản lý CDĐL. Điều này ảnh hưởng đến tính tích cực, chủ động của người sản xuất, kinh doanh và tổ chức đại diện của họ. Vậy hệ thống CDĐL của Việt Nam có nên cải cách theo hướng của Cộng hòa Pháp hay không? Rõ ràng, sự can thiệp sâu của Nhà nước vào hệ thống CDĐL như thực tế ở Việt Nam khiến cho hoạt động của hệ thống trở nên mang tính hành chính, kém hiệu quả và hạn chế sự chủ động từ phía các chủ thể sản xuất, kinh doanh. Song, theo ý kiến chúng tôi, nếu thoát ly hoàn toàn sự can thiệp của Nhà nước như mô hình của Cộng hòa Pháp tại thời điểm này chưa phải là giải pháp tối ưu, thể hiện trên hai khía cạnh sau đây.

Thứ nhất, về góc độ lý thuyết, CDĐL tại Việt Nam bao hàm hai yếu tố: Yếu tố tự nhiên và yếu tố con người. Yếu tố tự nhiên do điều kiện tự nhiên mang lại, trong đó bao gồm các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Theo pháp luật Việt Nam, các nguồn tài nguyên thiên nhiên thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu (Điều 53 Hiến pháp năm 2013). Do vậy, sự tham gia của Nhà nước vào quá trình đăng ký và quản lý CDĐL là tất yếu, do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu của các tài nguyên vốn là một trong các yếu tố cấu thành của CDĐL, đồng thời đảm bảo việc phân phối, sử dụng các tài nguyên này một cách bền vững trong quá trình sản xuất các sản phẩm mang CDĐL. Bên cạnh đó, với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự tham gia của Nhà nước vào quá trình hình thành và phát triển các CDĐL là cần thiết nhằm gắn chúng với các chính sách xóa đói giảm nghèo, phát triển nông thôn, bảo vệ môi trường và bảo tồn đa dạng sinh học[6]. Ngoài ra, do các CDĐL còn được xem như “di sản quốc gia”, “bản sắc quốc gia”, cần phải phát huy vai trò đại diện của Nhà nước trong các tranh chấp liên quan đến CDĐL mang tính quốc tế[7].

Thứ hai, về góc độ thực tiễn, do các CDĐL đều có nguồn gốc từ các địa phương thuộc vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu vùng xa..., năng lực tài chính và kỹ thuật của các chủ thể sản xuất, kinh doanh và các tổ chức đại diện của họ đều hạn chế, thậm chí có nhiều trường hợp các tổ chức đại diện còn chưa được hình thành mặc dù CDĐL đã được đăng ký. Do vậy, các chủ thể sản xuất, kinh doanh và các tổ chức đại diện của họ chưa đủ năng lực độc lập để tiến hành đăng ký và quản lý các CDĐL. Cá biệt, có những trường hợp quyền quản lý đã được Nhà nước ủy quyền cho tổ chức tập thể, song tổ chức không thể đảm đương được trách nhiệm. Hơn nữa, một số CDĐL có thể mang lại lợi ích kinh tế trước mắt và lâu dài cho các chủ thể sản xuất kinh doanh nên họ rất tích cực tham gia đóng góp cho sự phát triển của CDĐL; song trong một số trường hợp CDĐL chỉ mang tính chất “biểu tượng” cho bản sắc địa phương mà ít mang lại giá trị kinh tế, nên sự “bao cấp” của Nhà nước là một tất yếu để đảm bảo CDĐL có thể tồn tại[8]. Chính vì vậy, vai trò tham gia của Nhà nước ở thời điểm hiện tại vẫn thực sự cần thiết cho sự hình thành và phát triển các CDĐL ở Việt Nam.

Vấn đề ở chỗ, sự tham gia của Nhà nước sẽ thể hiện đến đâu, ở mức độ nào, bởi vẫn cần phát huy sự chủ động tích cực của các chủ thể sản xuất, kinh doanh và các tổ chức tập thể. Quan điểm của chúng tôi thể hiện ở sự pha trộn giữa hai mô hình: Mô hình hiện tại của Việt Nam với vai trò chủ đạo của Nhà nước và mô hình của Cộng hòa Pháp với sự chủ động, độc lập của các chủ thể sản xuất, kinh doanh. Cụ thể, Nhà nước sẽ giữ vai trò kiến tạo và phát triển các điều kiện về tài chính, kỹ thuật ban đầu trước khi trao quyền tự chủ cho chủ thể sản xuất kinh doanh và các tổ chức tập thể. Mô hình này không chỉ xuất phát từ lý thuyết về vai trò của Nhà nước đối với các CDĐL mà còn được minh chứng qua kinh nghiệm thực tế của các địa phương.

3.2. Vai trò của các chủ thể sản xuất, kinh doanh và các tổ chức tập thể

Vai trò của các chủ thể sản xuất, kinh doanh và các tổ chức tập thể tại Việt Nam hiện nay khá mờ nhạt. Để thúc đẩy sự phát triển của các CDĐL, vai trò chủ động của loại chủ thể này hết sức cần thiết, thể hiện cả ở phương diện lý thuyết và thực tiễn.

Trước hết, trên cơ sở lý thuyết về SHTT, quyền SHTT là sự trả công xứng đáng cho sự đầu tư vào hoạt động sáng tạo - với tư cách là động lực cho sự phát triển của toàn xã hội. Đối với CDĐL, cộng đồng người sản xuất, kinh doanh là những người đã đầu tư lao động chân tay và lao động trí tuệ để làm nên quy trình, bí quyết và danh tiếng của sản phẩm trong suốt quá trình lịch sử, do vậy quyền pháp lý của họ đối với CDĐL cần phải cao hơn quyền sử dụng CDĐL đơn thuần do Nhà nước trao cho. Bên cạnh đó, thực tế cho thấy, từ quá trình đăng ký đến quá trình quản lý CDĐL, nếu không có sự đóng góp của các chủ thể sản xuất kinh doanh trong việc xây dựng các tiêu chí, tiêu chuẩn đặc thù của CDĐL và đảm bảo các tiêu chí, tiêu chuẩn này trong quá trình sản xuất, kinh doanh, CDĐL không tồn tại. Do vậy, chủ thể sản xuất, kinh doanh cần giữ vai trò chủ động từ giai đoạn hình thành đến quá trình duy trì, phát triển CDĐL.

Tuy nhiên, do tính tập thể của CDĐL, chúng tôi cho rằng, cần có một tổ chức tập thể đại diện cho tất cả các chủ thể sản xuất, kinh doanh nhằm quản lý CDĐL một cách thống nhất và đảm bảo sự tham gia, đóng góp và hưởng lợi một cách công bằng giữa tất cả các thành viên của tổ chức. Đồng thời, tổ chức này cũng chịu trách nhiệm kiểm soát nội bộ chất lượng sản phẩm mang CDĐL. Do vậy, mô hình tổ chức đại diện cho người sản xuất, kinh doanh với tư cách là thực thể duy nhất có quyền đăng ký và quản lý CDĐL như đang áp dụng tại Pháp là mô hình hoàn toàn phù hợp cho Việt Nam. Trên thực tế, loại hình tổ chức này đã và đang tồn tại tại Việt Nam, hoạt động dưới các hình thức, tên gọi khác nhau như “hội”, “hiệp hội”, “hợp tác xã”. Tuy nhiên, hiện nay mức độ phát triển của các tổ chức này không đồng đều và hầu hết chưa đủ mạnh để có thể thực hiện việc đăng ký và quản lý CDĐL một cách độc lập. Thực tiễn này trái với Cộng hòa Pháp - quốc gia có lịch sử hàng thế kỷ phát triển các hiệp hội ngành nghề gắn với các CDĐL nổi tiếng. Vì lý do trên, các tổ chức tập thể tại Việt Nam cần phải có giai đoạn “quá độ” cho đến khi đủ độ “chín” cần thiết để có thể đảm nhiệm sứ mệnh một cách độc lập. Trong giai đoạn “quá độ” đó, sự hỗ trợ từ phía Nhà nước vẫn là cần thiết.

TS. Nguyễn Thi Minh Hạnh

ThS. Trịnh Thị Ngọc Anh

ThS. Lê Thị Yến

Học viện Nông nghiệp Việt Nam





[1]. Lê Thị Thu Hà (2011), Bảo hộ chỉ dẫn địa lý của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, Nxb. Thông tin và Truyền thông, tr. 131.

[2]. Barbara Pick, Delphine Marie-Vivien & Dong Bui Kim (2017), The use of geographical indications in Vietnam: A promising tool for socioeconomic development? Cambridge University Press, tr. 317.

[3]. Xem Quyết định số 1401/QĐ-UBND ngày 25/6/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang về việc ban hành quy định quản lý và sử dụng chỉ dẫn địa lý Phú Quốc cho sản phẩm nước mắm.

[4]. Xem Quyết định số 5879/2011/QĐ-UBND ngày 5/10/2011 của Ủy ban nhân dân huyện Thanh Hà về việc ban hành quy định quản lý và sử dụng chỉ dẫn địa lý Thanh Hà cho sản phẩm quả vải thiều.

[5]. Thông tin tác giả tổng hợp từ: Delphine Marie-Vivien, Laurence Bérard, Jean-Pierre Boutonnet and Francois Casabianca (2017), Are French Geographical Indications Losing their soul? Analyzing recent developments in the governance of the link to the origin in France, World Development Vol. 98, tr. 25-34.

[6]. Xem Irene Calboli & NG-Loy Wee Loon (2017), Geographical Indications at the Crossroads of Trade, Development, and Culture: Focus on Asia-Pacific, Cambridge University Press.

[7]. Xem Huỳnh Ngọc Dương (2018), Thực trạng bảo vệ và phát triển chỉ dẫn địa lý cà phê Buôn Ma Thuột, tại https://socongthuong.daklak.gov.vn/news/tin-xuc-tien-thuong-mai/thuc-trang-bao-ve-va-phat-trien-chi-dan-dia-ly-ca-phe-buon-ma-thuot-490.html (truy cập ngày 25/9/2020).

[8]. Phỏng vấn ông Bùi Quang Minh - Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Ninh (ngày 18/9/2020).

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: