Chủ nhật 24/05/2026 23:10
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nhận diện các khía cạnh pháp lý về công ty mua lại cổ phần của cổ đông

Về nguyên tắc, công ty không thể trở thành cổ đông sở hữu cổ phần của chính mình. Luật Doanh nghiệp năm 2020 không có quy định chính thức nguyên tắc này, mà ghi nhận trường hợp ngoại lệ mua lại cổ phần theo hai hình thức đó là: (i) Theo yêu cầu của cổ đông; (ii) Theo quyết định của Hội đồng quản trị hoặc Đại hội đồng cổ đông.

Tóm tắt: Trong quá trình hoạt động, công ty cổ phần có thể thực hiện việc mua lại cổ phần đã bán cho các cổ đông theo yêu cầu của cổ đông hoặc theo quyết định của công ty. Việc mua lại cổ phần có thể làm thay đổi số lượng cổ đông, vốn điều lệ và cũng có thể ảnh hưởng đến quyền lợi của chủ nợ của công ty. Bài viết này phân tích, đánh giá một số khía cạnh pháp lý của hoạt động mua lại cổ phần nhằm đưa ra những đề xuất hoàn thiện Luật Doanh nghiệp về vấn đề này.

Abstract: During its operation, a joint-stock company may repurchase shares sold to shareholders at the request of shareholders or at the company's decision. The repurchase of shares may change the number of shareholders, the charter capital and may also affect the interests of the company's creditors. This article analyzes and evaluates some legal aspects of share repurchase activities in order to make recommendations to improve the Enterprise Law on this issue.

1. Khái quát về việc công ty mua lại cổ phần của cổ đông theo Luật Doanh nghiệp năm 2020

Mua lại cổ phần là việc công ty thực hiện mua lại cổ phần của chính mình từ các cổ đông trong công ty. Cổ phần được mua lại là cổ phần thu về và là cổ phần chưa bán của công ty. Việc mua lại cổ phần là nghĩa vụ, cũng là quyền tự nguyện của công ty trong những trường hợp nhất định theo quy định pháp luật. Sau khi mua lại, công ty cổ phần (CTCP) phải thực hiện việc đăng ký giảm vốn điều lệ xuống tương ứng với số cổ phần mà công ty đã mua lại.

Khái niệm về mua lại cổ phần chưa được bất kỳ một văn bản quy phạm pháp luật nào quy định. Tuy nhiên, căn cứ Luật Doanh nghiệp năm 2020, có thể định nghĩa mua lại cổ phần như sau: Mua lại cổ phần là việc công ty mua lại cổ phần đã bán cho các cổ đông theo yêu cầu của cổ đông hoặc theo quyết định của công ty. Trong quan hệ mua lại cổ phần, chủ thể bên bán là cổ đông, còn bên mua là công ty phát hành cổ phần.

Trên thực tế, việc công ty mua lại cổ phần thường xuyên xảy ra khi công ty quyết định giảm vốn mặc dù không bị lỗ, hoặc công ty muốn điều hòa thị trường chứng khoán đối với cổ phiếu của công ty. Sự can thiệp của công ty nhằm khống chế các thăng trầm quá đáng của giá thị trường và giúp công ty dễ dàng thực hiện kế hoạch gom cổ phần sau này[1].

Về nguyên tắc, công ty không thể trở thành cổ đông sở hữu cổ phần của chính mình. Luật Doanh nghiệp năm 2020 không có quy định chính thức nguyên tắc này, mà ghi nhận trường hợp ngoại lệ mua lại cổ phần theo hai hình thức đó là: (i) Theo yêu cầu của cổ đông; (ii) Theo quyết định của Hội đồng quản trị hoặc Đại hội đồng cổ đông.

Khi thực hiện mua lại cổ phần của cổ đông, công ty phải đáp ứng các điều kiện bắt buộc đó là có khả năng thanh toán đầy đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty. Cụ thể, công ty chỉ được thanh toán cổ phần được mua lại cho cổ đông nếu ngay sau khi thanh toán hết số cổ phần được mua lại, công ty vẫn bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác[2]. Tuy vậy, Luật Doanh nghiệp năm 2020 không quy định cách thức xác định khả năng thanh toán đầy đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty. Quy định về khả năng thanh toán là nhằm bảo vệ quyền lợi của chủ nợ[3], tránh trường hợp công ty thực hiện việc tẩu tán tài sản bằng cách mua lại cổ phần của cổ đông, làm ảnh hưởng đến khả năng trả nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty đối với người thứ ba.

Các vấn đề pháp lý đặt ra sau khi công ty thực hiện mua lại cổ phần của cổ đông bao gồm: (i) Cổ phần được mua lại được coi là cổ phần chưa bán. Công ty phải đăng ký giảm vốn điều lệ tương ứng với tổng mệnh giá các cổ phần được công ty mua lại trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày hoàn thành việc thanh toán mua lại cổ phần, trừ trường hợp pháp luật về chứng khoán có quy định khác[4]. (ii) Cổ phiếu xác nhận quyền sở hữu cổ phần đã được mua lại phải được tiêu hủy ngay sau khi cổ phần tương ứng đã được thanh toán đủ[5]. Nếu không tiêu hủy hoặc chậm tiêu hủy cổ phiếu thì Chủ tịch Hội đồng quản trị và Giám đốc/Tổng giám đốc phải liên đới chịu trách nhiệm pháp lý. (iii) Sau khi thanh toán hết số cổ phần được mua lại, nếu tổng giá trị tài sản được ghi trong sổ kế toán của công ty giảm hơn 10% thì công ty phải thông báo cho tất cả chủ nợ biết trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày thanh toán hết số cổ phần được mua lại[6].

2. Các hình thức công ty mua lại cổ phần của cổ đông

Công ty cổ phần mua lại cổ phần được thực hiện dưới hai hình thức: Mua lại cổ phần theo yêu cầu của cổ đông hoặc theo quyết định của Hội đồng quản trị hoặc Đại hội đồng cổ đông. Việc mua lại cổ phần của hai hình thức này đòi hỏi đáp ứng những điều kiện, thủ tục nhất định của pháp luật.

2.1. Công ty bắt buộc mua lại cổ phần theo yêu cầu của cổ đông

Trong CTCP, quyền cổ đông là một loại quyền đặc biệt được xác lập thông qua việc sở hữu cổ phần, trong đó, cổ đông có quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần của mình đang sở hữu trong một số trường hợp mà lợi ích của cổ đông có thể bị vi phạm nghiêm trọng bởi quyết định của công ty.

Cổ đông có quyền yêu cầu CTCP mua lại cổ phần trong một số trường hợp nhất định và công ty bắt buộc phải mua lại cổ phần, bao gồm:

Trường hợp thứ nhất: Khi Đại hội đồng cổ đông thông qua các quyết định làm ảnh hưởng đến các quyền lợi của cổ đông và cổ đông biểu quyết không tán thành quyết định của Đại hội đồng cổ đông về các vấn đề: (i) Thay đổi quyền và nghĩa vụ của cổ đông tại điều lệ của công ty; (ii) Tổ chức lại công ty. Ngoài hai nội dung trên, Luật Doanh nghiệp năm 2020 không gợi mở để điều lệ của công ty quy định các trường hợp khác. Nếu điều lệ công ty có quy định về các trường hợp mua lại cổ phần thì đây là trường hợp công ty tự nguyện mua lại cổ phần của cổ đông theo quyết định của công ty được quy định tại Điều 133 Luật Doanh nghiệp năm 2020. Trong trường hợp này, cổ đông có thể sở hữu cổ phần phổ thông và cổ phần ưu đãi biểu quyết của công ty. Yêu cầu mua lại cổ phần phải bằng văn bản, trong đó nêu rõ tên, địa chỉ của cổ đông, số lượng cổ phần từng loại, giá dự định bán, lý do yêu cầu công ty mua lại. Yêu cầu phải được gửi đến công ty trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Đại hội đồng cổ đông thông qua nghị quyết về các vấn đề này.

Trường hợp thứ hai: Cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi hoàn lại yêu cầu công ty mua lại cổ phần ưu đãi mà mình sở hữu. Khi yêu cầu của cổ đông phù hợp với các điều khoản, điều kiện của loại cổ phần này, thì công ty bắt buộc phải mua lại. Giá mà công ty thực hiện hoàn lại cổ phần ưu đãi sẽ được xác định theo các điều khoản và điều kiện quy định về loại hình cổ phần ưu đãi hoàn lại.

Theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020, công ty phải mua lại cổ phần theo yêu cầu của cổ đông với giá thị trường hoặc giá được tính theo nguyên tắc quy định tại điều lệ công ty trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu. Trường hợp không thỏa thuận được về giá thì các bên có thể yêu cầu một tổ chức thẩm định giá định giá. Công ty giới thiệu ít nhất 03 tổ chức thẩm định giá để cổ đông lựa chọn và lựa chọn đó là quyết định cuối cùng.

Tuy vậy, quy định thời gian để công ty phải thực hiện việc mua lại cổ phần theo yêu cầu của cổ đông lên đến 90 ngày là chưa hợp lý, vì đây là một quãng thời gian khá dài để thực hiện thủ tục chấm dứt mối quan hệ này. Trong trường hợp giữa cổ đông và CTCP không thỏa thuận được về giá mua, bán lại cổ phần, điều luật cho phép các bên có thể sử dụng tổ chức thẩm định giá và quy định công ty giới thiệu ít nhất 03 tổ chức thẩm định giá để cổ đông lựa chọn nhưng không đề cập đến việc công ty hay cổ đông sẽ phải chịu khoản chi phí cho tổ chức thẩm định giá. Điều này sẽ dễ dẫn đến tranh chấp giữa cổ đông và CTCP[7].

2.2. Công ty tự nguyện mua lại cổ phần theo quyết định của Hội đồng quản trị hoặc Đại hội đồng cổ đông

Theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020, CTCP có quyền tự nguyện mua lại cổ phần: (i) Không quá 30% tổng số cổ phần phổ thông đã bán; (ii) Một phần hoặc toàn bộ cổ phần ưu đãi cổ tức đã bán. Mục đích của việc công ty tự nguyện mua lại cổ phần tương đối đa dạng như giảm số lượng cổ đông của công ty hoặc nhằm thay đổi giá cổ phần khi giá trên thị trường có xu hướng giảm.

Hội đồng quản trị có quyền quyết định mua lại không quá 10% tổng số cổ phần của từng loại đã bán trong thời hạn 12 tháng. Trường hợp khác, việc mua lại cổ phần phổ thông và cổ phần ưu đãi cổ tức do Đại hội đồng cổ đông quyết định. Quy định chặt chẽ như vậy nhằm tránh xảy ra hành vi đầu cơ hoặc ít nhất cũng giới hạn rủi ro này[8]. Hội đồng quản trị quyết định giá mua lại cổ phần. Đối với cổ phần phổ thông, giá mua lại không được cao hơn giá thị trường tại thời điểm mua lại. Đối với cổ phần loại khác, nếu điều lệ công ty không quy định hoặc công ty và cổ đông có liên quan không có thỏa thuận khác thì giá mua lại không được thấp hơn giá thị trường.

Công ty có thể mua lại cổ phần từ tất cả các cổ đông tương ứng với tỷ lệ sở hữu cổ phần của họ trong công ty. Trình tự, thủ tục mua lại của tất cả các cổ đông được quy định như sau:

Một là, quyết định mua lại cổ phần của công ty phải được thông báo bằng phương thức để bảo đảm đến được tất cả cổ đông trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày quyết định đó được thông qua. Thông báo phải gồm tên, địa chỉ trụ sở chính của công ty, tổng số cổ phần và loại cổ phần được mua lại, giá mua lại hoặc nguyên tắc định giá mua lại, thủ tục và thời hạn thanh toán, thủ tục và thời hạn để cổ đông bán cổ phần của họ cho công ty.

Hai là, cổ đông đồng ý bán lại cổ phần phải gửi văn bản đồng ý bán cổ phần của mình bằng phương thức để bảo đảm đến được công ty trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày thông báo. Văn bản đồng ý bán cổ phần phải có họ, tên, địa chỉ liên lạc, số giấy tờ pháp lý của cá nhân đối với cổ đông là cá nhân; tên, mã số doanh nghiệp hoặc số giấy tờ pháp lý của tổ chức, địa chỉ trụ sở chính đối với cổ đông là tổ chức; số cổ phần sở hữu và số cổ phần đồng ý bán; phương thức thanh toán; chữ ký của cổ đông hoặc người đại diện theo pháp luật của cổ đông. Công ty chỉ mua lại cổ phần trong thời hạn nêu trên.

3. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật quy định về mua lại cổ phần

Thứ nhất, Luật Doanh nghiệp năm 2020 cần quy định rõ ràng hơn về việc cổ đông có quyền yêu cầu công ty mua lại toàn bộ hay một phần số cổ phần của mình sở hữu. Bởi vì, nếu mua toàn bộ thì bên bán không còn là cổ đông công ty nhưng nếu mua một phần thì cổ đông đó chỉ giảm số lượng cổ phần sở hữu trong công ty.

Thứ hai, cần quy định cách thức, các chỉ tiêu cụ thể xác định khả năng thanh toán đầy đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty. Bởi vì, khả năng này được xác định sau khi thanh toán việc mua lại cổ phần, vì vậy, cần có các tiêu chí cụ thể để xác định khả năng thanh toán các khoản nợ và nghĩa vụ tài chính của công ty trong tương lai. Việc đưa ra căn cứ tiêu chí xác định sẽ vừa nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các chủ nợ, vừa tránh sự trì hoãn trong việc mua lại cổ phần theo yêu cầu của cổ đông.

Thứ ba, về thời gian công ty phải mua lại cổ phần theo yêu cầu của cổ đông và chi phí thẩm định giá cổ phần, cần sửa đổi quy định của khoản 2 Điều 132 Luật Doanh nghiệp năm 2020 theo hướng rút ngắn thời hạn CTCP phải mua lại cổ phần theo yêu cầu của cổ đông và đồng thời, quy định rõ vấn đề chịu chi phí thanh toán cho tổ chức thẩm định giá trong trường hợp hai bên không thỏa thuận được giá bán cổ phần mà phải sử dụng đến dịch vụ thẩm định giá[9].

Thứ tư, Luật Doanh nghiệp năm 2020 cũng cần có những quy định rõ ràng hoặc quy định mở để công ty có thể quy định cụ thể trong điều lệ. Bởi vì, khi cổ đông sử dụng quyền bắt buộc công ty mua lại cổ phần, cổ đông đó thường có mâu thuẫn với cổ đông khác và ban lãnh đạo công ty. Trong trường hợp như vậy, các bên có thể khó có thỏa thuận về giá mua lại hoặc về tổ chức định giá chuyên nghiệp được sử dụng. Do vậy, mức giá mua lại và thủ tục lựa chọn tổ chức định giá chuyên nghiệp nên được ấn định trước hoặc quy định trong điều lệ công ty[10].

Thứ năm, các quy định pháp luật cũng cần dự liệu, bổ sung trường hợp nếu công ty không thực hiện yêu cầu mua lại cổ phần thì cổ đông yêu cầu có quyền khởi kiện công ty để yêu cầu công ty thực hiện nghĩa vụ mua lại cổ phần của mình hay không? Đồng thời, trong trường hợp công ty không thực hiện mua lại cổ phần theo yêu cầu mà gây thiệt hại thì cổ đông khởi kiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với công ty hay đối với người quản lý công ty?

TS. Nguyễn Văn Lâm
Viện Kinh tế và Quản lý, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội



[1]. Nguyễn Mạnh Bách, Các công ty thương mại, Nxb. Tổng hợp Đồng Nai, 2006, tr. 128.

[2]. Khoản 1 Điều 134 Luật Doanh nghiệp năm 2020.

[3]. Trương Nhật Quang, Pháp luật về doanh nghiệp: Các vấn đề pháp lý cơ bản, Nxb. Dân trí, 2016, tr. 494.

[4]. Khoản 2 Điều 134 Luật Doanh nghiệp năm 2020.

[5]. Khoản 3 Điều 134 Luật Doanh nghiệp năm 2020.

[6]. Khoản 4 Điều 134 Luật Doanh nghiệp năm 2020.

[7]. Trần Thăng Long & Phan Huy Lâm, Các quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020 về cổ đông, Hội đồng quản trị, Giám đốc, Tổng giám đốc công ty cổ phần - Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 02+03 (450+451), tháng 02/2022.

[8]. Nguyễn Mạnh Bách, tlđd, tr. 128.

[9]. Trần Thăng Long & Phan Huy Lâm, tlđd.

[10]. Trương Nhật quang,tlđd, tr. 487.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.

Theo dõi chúng tôi trên: