Thứ sáu 23/10/2026 19:05
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nhận diện các khía cạnh pháp lý về công ty mua lại cổ phần của cổ đông

Về nguyên tắc, công ty không thể trở thành cổ đông sở hữu cổ phần của chính mình. Luật Doanh nghiệp năm 2020 không có quy định chính thức nguyên tắc này, mà ghi nhận trường hợp ngoại lệ mua lại cổ phần theo hai hình thức đó là: (i) Theo yêu cầu của cổ đông; (ii) Theo quyết định của Hội đồng quản trị hoặc Đại hội đồng cổ đông.

Tóm tắt: Trong quá trình hoạt động, công ty cổ phần có thể thực hiện việc mua lại cổ phần đã bán cho các cổ đông theo yêu cầu của cổ đông hoặc theo quyết định của công ty. Việc mua lại cổ phần có thể làm thay đổi số lượng cổ đông, vốn điều lệ và cũng có thể ảnh hưởng đến quyền lợi của chủ nợ của công ty. Bài viết này phân tích, đánh giá một số khía cạnh pháp lý của hoạt động mua lại cổ phần nhằm đưa ra những đề xuất hoàn thiện Luật Doanh nghiệp về vấn đề này.

Abstract: During its operation, a joint-stock company may repurchase shares sold to shareholders at the request of shareholders or at the company's decision. The repurchase of shares may change the number of shareholders, the charter capital and may also affect the interests of the company's creditors. This article analyzes and evaluates some legal aspects of share repurchase activities in order to make recommendations to improve the Enterprise Law on this issue.

1. Khái quát về việc công ty mua lại cổ phần của cổ đông theo Luật Doanh nghiệp năm 2020

Mua lại cổ phần là việc công ty thực hiện mua lại cổ phần của chính mình từ các cổ đông trong công ty. Cổ phần được mua lại là cổ phần thu về và là cổ phần chưa bán của công ty. Việc mua lại cổ phần là nghĩa vụ, cũng là quyền tự nguyện của công ty trong những trường hợp nhất định theo quy định pháp luật. Sau khi mua lại, công ty cổ phần (CTCP) phải thực hiện việc đăng ký giảm vốn điều lệ xuống tương ứng với số cổ phần mà công ty đã mua lại.

Khái niệm về mua lại cổ phần chưa được bất kỳ một văn bản quy phạm pháp luật nào quy định. Tuy nhiên, căn cứ Luật Doanh nghiệp năm 2020, có thể định nghĩa mua lại cổ phần như sau: Mua lại cổ phần là việc công ty mua lại cổ phần đã bán cho các cổ đông theo yêu cầu của cổ đông hoặc theo quyết định của công ty. Trong quan hệ mua lại cổ phần, chủ thể bên bán là cổ đông, còn bên mua là công ty phát hành cổ phần.

Trên thực tế, việc công ty mua lại cổ phần thường xuyên xảy ra khi công ty quyết định giảm vốn mặc dù không bị lỗ, hoặc công ty muốn điều hòa thị trường chứng khoán đối với cổ phiếu của công ty. Sự can thiệp của công ty nhằm khống chế các thăng trầm quá đáng của giá thị trường và giúp công ty dễ dàng thực hiện kế hoạch gom cổ phần sau này[1].

Về nguyên tắc, công ty không thể trở thành cổ đông sở hữu cổ phần của chính mình. Luật Doanh nghiệp năm 2020 không có quy định chính thức nguyên tắc này, mà ghi nhận trường hợp ngoại lệ mua lại cổ phần theo hai hình thức đó là: (i) Theo yêu cầu của cổ đông; (ii) Theo quyết định của Hội đồng quản trị hoặc Đại hội đồng cổ đông.

Khi thực hiện mua lại cổ phần của cổ đông, công ty phải đáp ứng các điều kiện bắt buộc đó là có khả năng thanh toán đầy đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty. Cụ thể, công ty chỉ được thanh toán cổ phần được mua lại cho cổ đông nếu ngay sau khi thanh toán hết số cổ phần được mua lại, công ty vẫn bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác[2]. Tuy vậy, Luật Doanh nghiệp năm 2020 không quy định cách thức xác định khả năng thanh toán đầy đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty. Quy định về khả năng thanh toán là nhằm bảo vệ quyền lợi của chủ nợ[3], tránh trường hợp công ty thực hiện việc tẩu tán tài sản bằng cách mua lại cổ phần của cổ đông, làm ảnh hưởng đến khả năng trả nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty đối với người thứ ba.

Các vấn đề pháp lý đặt ra sau khi công ty thực hiện mua lại cổ phần của cổ đông bao gồm: (i) Cổ phần được mua lại được coi là cổ phần chưa bán. Công ty phải đăng ký giảm vốn điều lệ tương ứng với tổng mệnh giá các cổ phần được công ty mua lại trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày hoàn thành việc thanh toán mua lại cổ phần, trừ trường hợp pháp luật về chứng khoán có quy định khác[4]. (ii) Cổ phiếu xác nhận quyền sở hữu cổ phần đã được mua lại phải được tiêu hủy ngay sau khi cổ phần tương ứng đã được thanh toán đủ[5]. Nếu không tiêu hủy hoặc chậm tiêu hủy cổ phiếu thì Chủ tịch Hội đồng quản trị và Giám đốc/Tổng giám đốc phải liên đới chịu trách nhiệm pháp lý. (iii) Sau khi thanh toán hết số cổ phần được mua lại, nếu tổng giá trị tài sản được ghi trong sổ kế toán của công ty giảm hơn 10% thì công ty phải thông báo cho tất cả chủ nợ biết trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày thanh toán hết số cổ phần được mua lại[6].

2. Các hình thức công ty mua lại cổ phần của cổ đông

Công ty cổ phần mua lại cổ phần được thực hiện dưới hai hình thức: Mua lại cổ phần theo yêu cầu của cổ đông hoặc theo quyết định của Hội đồng quản trị hoặc Đại hội đồng cổ đông. Việc mua lại cổ phần của hai hình thức này đòi hỏi đáp ứng những điều kiện, thủ tục nhất định của pháp luật.

2.1. Công ty bắt buộc mua lại cổ phần theo yêu cầu của cổ đông

Trong CTCP, quyền cổ đông là một loại quyền đặc biệt được xác lập thông qua việc sở hữu cổ phần, trong đó, cổ đông có quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần của mình đang sở hữu trong một số trường hợp mà lợi ích của cổ đông có thể bị vi phạm nghiêm trọng bởi quyết định của công ty.

Cổ đông có quyền yêu cầu CTCP mua lại cổ phần trong một số trường hợp nhất định và công ty bắt buộc phải mua lại cổ phần, bao gồm:

Trường hợp thứ nhất: Khi Đại hội đồng cổ đông thông qua các quyết định làm ảnh hưởng đến các quyền lợi của cổ đông và cổ đông biểu quyết không tán thành quyết định của Đại hội đồng cổ đông về các vấn đề: (i) Thay đổi quyền và nghĩa vụ của cổ đông tại điều lệ của công ty; (ii) Tổ chức lại công ty. Ngoài hai nội dung trên, Luật Doanh nghiệp năm 2020 không gợi mở để điều lệ của công ty quy định các trường hợp khác. Nếu điều lệ công ty có quy định về các trường hợp mua lại cổ phần thì đây là trường hợp công ty tự nguyện mua lại cổ phần của cổ đông theo quyết định của công ty được quy định tại Điều 133 Luật Doanh nghiệp năm 2020. Trong trường hợp này, cổ đông có thể sở hữu cổ phần phổ thông và cổ phần ưu đãi biểu quyết của công ty. Yêu cầu mua lại cổ phần phải bằng văn bản, trong đó nêu rõ tên, địa chỉ của cổ đông, số lượng cổ phần từng loại, giá dự định bán, lý do yêu cầu công ty mua lại. Yêu cầu phải được gửi đến công ty trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Đại hội đồng cổ đông thông qua nghị quyết về các vấn đề này.

Trường hợp thứ hai: Cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi hoàn lại yêu cầu công ty mua lại cổ phần ưu đãi mà mình sở hữu. Khi yêu cầu của cổ đông phù hợp với các điều khoản, điều kiện của loại cổ phần này, thì công ty bắt buộc phải mua lại. Giá mà công ty thực hiện hoàn lại cổ phần ưu đãi sẽ được xác định theo các điều khoản và điều kiện quy định về loại hình cổ phần ưu đãi hoàn lại.

Theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020, công ty phải mua lại cổ phần theo yêu cầu của cổ đông với giá thị trường hoặc giá được tính theo nguyên tắc quy định tại điều lệ công ty trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu. Trường hợp không thỏa thuận được về giá thì các bên có thể yêu cầu một tổ chức thẩm định giá định giá. Công ty giới thiệu ít nhất 03 tổ chức thẩm định giá để cổ đông lựa chọn và lựa chọn đó là quyết định cuối cùng.

Tuy vậy, quy định thời gian để công ty phải thực hiện việc mua lại cổ phần theo yêu cầu của cổ đông lên đến 90 ngày là chưa hợp lý, vì đây là một quãng thời gian khá dài để thực hiện thủ tục chấm dứt mối quan hệ này. Trong trường hợp giữa cổ đông và CTCP không thỏa thuận được về giá mua, bán lại cổ phần, điều luật cho phép các bên có thể sử dụng tổ chức thẩm định giá và quy định công ty giới thiệu ít nhất 03 tổ chức thẩm định giá để cổ đông lựa chọn nhưng không đề cập đến việc công ty hay cổ đông sẽ phải chịu khoản chi phí cho tổ chức thẩm định giá. Điều này sẽ dễ dẫn đến tranh chấp giữa cổ đông và CTCP[7].

2.2. Công ty tự nguyện mua lại cổ phần theo quyết định của Hội đồng quản trị hoặc Đại hội đồng cổ đông

Theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020, CTCP có quyền tự nguyện mua lại cổ phần: (i) Không quá 30% tổng số cổ phần phổ thông đã bán; (ii) Một phần hoặc toàn bộ cổ phần ưu đãi cổ tức đã bán. Mục đích của việc công ty tự nguyện mua lại cổ phần tương đối đa dạng như giảm số lượng cổ đông của công ty hoặc nhằm thay đổi giá cổ phần khi giá trên thị trường có xu hướng giảm.

Hội đồng quản trị có quyền quyết định mua lại không quá 10% tổng số cổ phần của từng loại đã bán trong thời hạn 12 tháng. Trường hợp khác, việc mua lại cổ phần phổ thông và cổ phần ưu đãi cổ tức do Đại hội đồng cổ đông quyết định. Quy định chặt chẽ như vậy nhằm tránh xảy ra hành vi đầu cơ hoặc ít nhất cũng giới hạn rủi ro này[8]. Hội đồng quản trị quyết định giá mua lại cổ phần. Đối với cổ phần phổ thông, giá mua lại không được cao hơn giá thị trường tại thời điểm mua lại. Đối với cổ phần loại khác, nếu điều lệ công ty không quy định hoặc công ty và cổ đông có liên quan không có thỏa thuận khác thì giá mua lại không được thấp hơn giá thị trường.

Công ty có thể mua lại cổ phần từ tất cả các cổ đông tương ứng với tỷ lệ sở hữu cổ phần của họ trong công ty. Trình tự, thủ tục mua lại của tất cả các cổ đông được quy định như sau:

Một là, quyết định mua lại cổ phần của công ty phải được thông báo bằng phương thức để bảo đảm đến được tất cả cổ đông trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày quyết định đó được thông qua. Thông báo phải gồm tên, địa chỉ trụ sở chính của công ty, tổng số cổ phần và loại cổ phần được mua lại, giá mua lại hoặc nguyên tắc định giá mua lại, thủ tục và thời hạn thanh toán, thủ tục và thời hạn để cổ đông bán cổ phần của họ cho công ty.

Hai là, cổ đông đồng ý bán lại cổ phần phải gửi văn bản đồng ý bán cổ phần của mình bằng phương thức để bảo đảm đến được công ty trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày thông báo. Văn bản đồng ý bán cổ phần phải có họ, tên, địa chỉ liên lạc, số giấy tờ pháp lý của cá nhân đối với cổ đông là cá nhân; tên, mã số doanh nghiệp hoặc số giấy tờ pháp lý của tổ chức, địa chỉ trụ sở chính đối với cổ đông là tổ chức; số cổ phần sở hữu và số cổ phần đồng ý bán; phương thức thanh toán; chữ ký của cổ đông hoặc người đại diện theo pháp luật của cổ đông. Công ty chỉ mua lại cổ phần trong thời hạn nêu trên.

3. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật quy định về mua lại cổ phần

Thứ nhất, Luật Doanh nghiệp năm 2020 cần quy định rõ ràng hơn về việc cổ đông có quyền yêu cầu công ty mua lại toàn bộ hay một phần số cổ phần của mình sở hữu. Bởi vì, nếu mua toàn bộ thì bên bán không còn là cổ đông công ty nhưng nếu mua một phần thì cổ đông đó chỉ giảm số lượng cổ phần sở hữu trong công ty.

Thứ hai, cần quy định cách thức, các chỉ tiêu cụ thể xác định khả năng thanh toán đầy đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty. Bởi vì, khả năng này được xác định sau khi thanh toán việc mua lại cổ phần, vì vậy, cần có các tiêu chí cụ thể để xác định khả năng thanh toán các khoản nợ và nghĩa vụ tài chính của công ty trong tương lai. Việc đưa ra căn cứ tiêu chí xác định sẽ vừa nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các chủ nợ, vừa tránh sự trì hoãn trong việc mua lại cổ phần theo yêu cầu của cổ đông.

Thứ ba, về thời gian công ty phải mua lại cổ phần theo yêu cầu của cổ đông và chi phí thẩm định giá cổ phần, cần sửa đổi quy định của khoản 2 Điều 132 Luật Doanh nghiệp năm 2020 theo hướng rút ngắn thời hạn CTCP phải mua lại cổ phần theo yêu cầu của cổ đông và đồng thời, quy định rõ vấn đề chịu chi phí thanh toán cho tổ chức thẩm định giá trong trường hợp hai bên không thỏa thuận được giá bán cổ phần mà phải sử dụng đến dịch vụ thẩm định giá[9].

Thứ tư, Luật Doanh nghiệp năm 2020 cũng cần có những quy định rõ ràng hoặc quy định mở để công ty có thể quy định cụ thể trong điều lệ. Bởi vì, khi cổ đông sử dụng quyền bắt buộc công ty mua lại cổ phần, cổ đông đó thường có mâu thuẫn với cổ đông khác và ban lãnh đạo công ty. Trong trường hợp như vậy, các bên có thể khó có thỏa thuận về giá mua lại hoặc về tổ chức định giá chuyên nghiệp được sử dụng. Do vậy, mức giá mua lại và thủ tục lựa chọn tổ chức định giá chuyên nghiệp nên được ấn định trước hoặc quy định trong điều lệ công ty[10].

Thứ năm, các quy định pháp luật cũng cần dự liệu, bổ sung trường hợp nếu công ty không thực hiện yêu cầu mua lại cổ phần thì cổ đông yêu cầu có quyền khởi kiện công ty để yêu cầu công ty thực hiện nghĩa vụ mua lại cổ phần của mình hay không? Đồng thời, trong trường hợp công ty không thực hiện mua lại cổ phần theo yêu cầu mà gây thiệt hại thì cổ đông khởi kiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với công ty hay đối với người quản lý công ty?

TS. Nguyễn Văn Lâm
Viện Kinh tế và Quản lý, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội



[1]. Nguyễn Mạnh Bách, Các công ty thương mại, Nxb. Tổng hợp Đồng Nai, 2006, tr. 128.

[2]. Khoản 1 Điều 134 Luật Doanh nghiệp năm 2020.

[3]. Trương Nhật Quang, Pháp luật về doanh nghiệp: Các vấn đề pháp lý cơ bản, Nxb. Dân trí, 2016, tr. 494.

[4]. Khoản 2 Điều 134 Luật Doanh nghiệp năm 2020.

[5]. Khoản 3 Điều 134 Luật Doanh nghiệp năm 2020.

[6]. Khoản 4 Điều 134 Luật Doanh nghiệp năm 2020.

[7]. Trần Thăng Long & Phan Huy Lâm, Các quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020 về cổ đông, Hội đồng quản trị, Giám đốc, Tổng giám đốc công ty cổ phần - Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 02+03 (450+451), tháng 02/2022.

[8]. Nguyễn Mạnh Bách, tlđd, tr. 128.

[9]. Trần Thăng Long & Phan Huy Lâm, tlđd.

[10]. Trương Nhật quang,tlđd, tr. 487.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: